Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thị trường chứng khoán Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp
hay ở thị trường thứ cấp, tại Sở giao dịch hay tại thị trường giao dịch qua quầy, ở thị
trường giao ngay hay ở thị trường kì hạn. Các quan hệ mua bán trao đổi làm thay đổi
chủ sở hữu của chứng khoán, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản,
chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
Quá trình vận động của tư bản được thực hiện xuất phát từ chức năng kinh tế
nòng cốt của thị trường tài chính trong việc dẫn vốn từ những người tạm thời dư thừa
vốn sang những người cần vốn. Sự chuyển dịch vốn được thể hiện qua sơ đồ H1.1
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 5
Người cho vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
4. Nước ngoài
Các trung gian tài chính
- Ngân hàng thương mại
- Bảo hiểm, quỹ hưu trí
- Tổ chức nhận tiền gửi và
cho vay
Tài trợ gián tiếp
Người đi vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
4. Nước ngoài
Thị trường tài
chính
- Thị trường tiền tệ-
- Thị trường vốn
Vốn
Vốn
vố
n
Tài trợ trực tiếp
Vèn Vèn
Sơ đồ 1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường trực tiếp và gián tiếp. Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từ những
người tạm dư thừa vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ. Hoặc con đường thứ
hai để dẫn vốn là thông qua các trung gian tài chính, đây là một bộ phận đã chuyển tải
một khối lượng đáng kể nguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phần tích cực trong
việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn.
Như vậy, thị trường tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc tích tụ, tập
trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế. Được xem là đặc trưng cơ
bản của thị trường vốn, TTCK là thị trường mà giá cả của chứng khoán (hàng hoá trên
thị trường) chính là giá cả của vốn đầu tư, vì vậy, TTCK được coi là hình thức phát
triển bậc cao của nền kinh tế thị trường.
1.3. Cơ cấu tổ chức của TTCK. (Nhóm trưởng nên lựa chọn một là nêu cơ cấu tổ
chức hoặc là nêu phân loại thị trường chứng khoán vì hai phần này hơi trùng
nhau:
1.3.1. Căn cứ vào phương thức giao dịch:
Thị trường giao dịch ngay (Thị trường thời điểm): Thị trường giao dịch
mua bán theo giá của ngày hôm đó; việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra sau đó vài
ngày (tùy theo mỗi thị trường chứng khoán quy định riêng số ngày);
Thị trường tương lai: Thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng
mà giá cả được thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch; việc thanh toán và giao hoán sẽ
diễn ra trong một kỳ hạn ở tương lai (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm,…).
1.3.2. Căn cứ vào tính chất chứng khoán giao dịch:
· Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 6
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
· Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,
trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
· Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường chứng khoán
phái sinh, bao gồm thị trường hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn,… Đây là
thị trường cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ tài chính cấp cao; Do đó thị
trường này chỉ xuất hiện ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ở
trình độ cao.
1.3.3. Căn cứ vào lưu chuyển vốn:
Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các
chứng khoán đã phát hành.
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất
giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch
giá.
1.4. Chức năng của thị trường chứng khoán:
1.4.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy
động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,
phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 7
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
1.4.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ
hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính
chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù
hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
1.4.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu
tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và
có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng
cao.
1.4.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một
cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh
nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh
lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới,
cải tiến sản phẩm.
1.4.5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và
chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế
tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của
nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua
TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp
thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 8
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự
phát triển cân đối của nền kinh tế.
 Vai trò của TTCK
Xu thế hội nhập và quốc tế hoá nền kinh tế đòi hỏi tự bản thân mỗi quốc gia
phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao. Một thị trường tài chính
năng động có khả năng làm tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất cứ một loại
tài nguyên nào, mà trong đó TTCK là một định chế tài chính rất quan trọng. Thực tế
phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của
TTCK trong phát triển kinh tế:
Thứ nhất, TTCK cùng với sự vận hành của mình đã tạo ra các công cụ có tính
thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối, chuyển thời hạn của vốn phù
hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên
thị trường sẽ đảm bảo cho việc phân phối vốn một cách có hiệu quả.
Thứ hai, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh
nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp. Với cơ chế thông
tin hoàn hảo đã tạo khả năng giám sát chặt chẽ của TTCK đã làm giảm tác động của
các tiêu cực trong quản lý, đảm bảo phân bổ lợi ích một cách hài hoà giữa người sở
hữu, nhà quản lý và người làm công ăn lương. Đồng thời, TTCK đã tạo điều kiện thúc
đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN.
Thứ ba, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc
buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, từ đó phân tán
quyền lực kinh tế trong tay một số tập đoàn, tránh hiện tượng độc quyền, song vẫn tập
trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo
điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ có thể huy động được các nguồn tài
chính để phục vụ cho các mục đích của mình mà không tạo áp lực về lạm phát, hơn
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 9
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
nữa, hoạt động của TTCK còn giúp tăng thu ngân sách cho Nhà nước, đồng thời tạo
các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thứ năm, việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường
quốc tế hay nói khác đi muốn khẳng định đến tính hiệu quả của quốc tế hoá TTCK.
Điều này cho phép các công ty có thể huy động được một lượng vốn đầu tư lớn ở thị
trường ngoài nước, bên cạnh đó mở rộng các cơ hội kinh doanh cho các công ty trong
nước, cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn được rẻ hơn.
Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong
tương lai. Việc giá chứng khoán lên xuống có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh đã
đưa ra một dự báo giúp cho Chính phủ và các công ty có kế hoạch phân bổ các nguồn
lực của họ. Như vậy, TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên, hoạt động của TTCK cũng có những tác
động tiêu cực nhất định. Ta biết rằng, thị trường hoạt động dựa trên cơ sở thông tin
hoàn hảo, tuy nhiên ở hầu hết các thị trường không phải nhà đầu tư nào cũng có khả
năng tiếp cận thông tin đầy đủ và như nhau, vì vậy việc đưa ra các quyết định đầu tư
không hoàn toàn dựa trên việc xử lý thông tin, dẫn tới việc giá cả chứng khoán không
phản ánh chính xác giá trị công ty và chưa phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực.
Ngoài ra, còn có một số hiện tượng tiêu cực khác trên TTCK như hiện tượng đầu cơ,
mua bán nội gián, xung đột quyền lực…gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư. Thực tế
này đặt lên vai các nhà quản lý thị trường phải có những biện pháp hiệu quả để giảm
thiểu đến mức tối đa các tiêu cực trên thị trường nhằm đảm bảo cho tính hiệu quả của
thị trường, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư.
Như vậy ta thấy vai trò của TTCK đã được thể hiện dưới nhiều góc độ khác
nhau. Vai trò này có thực sự được phát huy hay không nó phụ thuộc vào sự quản lý
của Nhà nước và các chủ thể tham gia thị trường.
1.5. Phân loại TTCK.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 10
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại TTCK theo các tiêu
thức khác nhau, có thể phân loại theo hàng hoá, phân loại theo cấu trúc tổ chức của thị
trường hay phân loại theo quá trình luân chuyển vốn.
1.5.1. Phân loại theo cấu trúc tổ chức thị trường. Theo đó, TTCK được phân
thành 3 loại thị trường sau:
(Sở giao dịch chứng khoán) Thị trường tập trung: Tại đây, người mua và
người bán (hoặc môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành
giao dịch, mua bán chứng khoán. Nên bỏ phần này vì chúng ta đang nói về thị trường
tập trung chứ không nên nói chi tiết về sở giao dịch.(Vì vậy người ta còn gọi Sở giao
dịch là thị trường tập trung – là nơi tập trung các giao dịch chứng khoán một cách có
tổ chức tuân theo những luật lệ nhất định, là nơi tiến hành giao dịch chứng khoán của
những công ty lớn, làm ăn có hiệu quả. Như vậy,) Sở giao dịch chứng khoán không
tham gia vào việc mua bán chứng khoán mà chỉ là nơi giao dịch, một trung tâm tạo
điều kiện cho các giao dịch được tiến hành một cách thuận lợi, dễ dàng. Đồng thời, Sở
giao dịch cũng là cơ quan thực hiện chức năng quản lý, điều hành các hoạt động diễn
ra trên thị trường tập trung nhằm tạo điều kiện để các giao dịch được thực hiện công
bằng, minh bạch và đúng pháp luật. Sở giao dịch chứng khoán được quản lý một cách
chặt chẽ bởi UBCKNN.
Thị trường phi tập trung (Thị trường OTC): Tại hầu hết các nước, bên cạnh thị
trường giao dịch tập trung, nơi diễn ra các hoạt động giao dịch chứng khoán của
những công ty lớn, còn có thị trường phi tập trung (OTC) chủ yếu dành cho việc giao
dịch chứng khoán của những DNV&N chưa hội đủ các điều kiện niêm yết trên thị
trường giao dịch tập trung. Thị trường OTC đại diện cho một thị trường thương lượng,
nơi mà người bán và người mua trực tiếp thương lượng với nhau về những điều kiện
chủ yếu của giao dịch như số lượng, giá… Có thể nói rằng, OTC là thị trường của
những nhà tạo lập thị trường - những nhà đầu tư chuyên nghiệp. Các nhà tạo lập thị
trường nắm trong tay một lượng chứng khoán đủ lớn và họ sẵn sàng mua bán chứng
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 11
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
khoán với nhau cũng như với các nhà đầu tư khi họ chấp nhận được giá cả của họ.
Tương tự như hệ thống thị trường tập trung, thị trường OTC thường được tổ chức theo
2 cấp: cấp quản lý Nhà nước và cấp tự quản.
Như vậy, trong TTCK để huy động vốn cho các doanh nghiệp, Sở giao dịch là
nơi giao dịch chứng khoán của những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp này có
khả năng đáp ứng được những quy định niêm yết ngặt nghèo về vốn, tình hình hoạt
động kinh doanh…trên Sở, mà những DNV&N thường không đáp ứng đủ. Còn đại bộ
phận cổ phiếu của các DNV&N được giao dịch trên thị trường OTC, ở đó những tiêu
chuẩn niêm yết thường thấp hơn trên Sở giao dịch. Hay nói khác đi, TTCK cho các
DNV&N là một bộ phận chủ yếu của thị trường OTC. Sở dĩ người ta đưa ra các tiêu
chuẩn niêm yết khác nhau trên các loại thị trường là vì: nếu chúng ta không phân ra và
cứ để phát triển một TTCK chung cho tất cả các doanh nghiệp có quy mô khác nhau
thì Nhà nước khó đề ra những chính sách công bằng và quản lý tối ưu cho thị trường
chung ấy. Thực tế cho thấy, có doanh nghiệp vốn lớn hàng trăm tỷ đồng, nhưng cũng
có những doanh nghiệp quy mô vài tỷ đồng, quy mô của doanh nghiệp có thể quyết
định đến khả năng hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, cách thức tiếp cận vốn, các tiêu chí
về rủi ro an toàn, niềm tin của nhà đầu tư…đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vì
vậy, người ta thường có sự phân tách giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế
để có những chính sách, chiến lược phù hợp điều chỉnh hoạt động của từng doanh
nghiệp. Hơn nữa khi ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư cũng thường quan tâm đến độ
lớn vốn chủ của các doanh nghiệp niêm yết. Vì vậy, cần có sự phân biệt giữa TTCK
giao dịch chứng khoán của những doanh nghiệp lớn và TTCK giao dịch chứng khoán
của những doanh nghiệp nhỏ, điều này là rất cần thiết để có chiến lược phát triển cho
từng loại thị trường một cách hiệu quả, đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý của Nhà
nước, nguyện vọng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cũng như các chủ thể khác
tham gia TTCK.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 12
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Ngoài hai loại thị trường trên người ta còn nói tới một thị trường thứ ba, thị
trường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên hai thị trường
trên. Vậy đó là thị trường gì? Nên nêu rõ ra (Upcom) Ngoài ra, người ta còn phân loại
TTCK thành thị trường mở và thị trường đàm phán, thị trường giao ngay và thị trường
kỳ hạn. Việc phân loại TTCK sẽ giúp phân tích cụ thể hơn vai trò của TTCK.
1.5.2. Căn cứ vào tính chất chứng khoán giao dịch:
· Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
· Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,
trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
· Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh Thị trường chứng khoán phái
sinh, bao gồm thị trường hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn,… Đây là thị trường
cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ tài chính cấp cao; Do đó thị trường này chỉ
xuất hiện ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao.
1.5.3. Căn cứ vào lưu chuyển vốn:
Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát
hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các
chứng khoán đã phát hành.
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất
giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch
giá.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 13
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
2. Các chủ thể tham gia TTCK.
TTCK là một thực thể phức tạp mà hoạt động của thị trường có nhiều loại chủ
thể khác nhau tham gia. Các chủ thể này hoặc là bán chứng khoán, hoặc là mua chứng
khoán, hoặc chỉ là trung gian môi giới cho hai bên mua bán để hưởng hoa hồng. Bên
cạnh đó còn có các chủ thể quản lý là Nhà nước và các tổ chức phụ trợ.
2.1. Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý có nghĩa vụ bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng các quy
định của pháp luật, nhằm bảo đảm cho việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn
ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo
vệ lợi ích của người đầu tư.
Hiện nay hầu hết các nước có TTCK đều có cơ quan quản lý và giám sát về
chứng khoán và TTCK. Với những tên gọi khác nhau (tuỳ theo mỗi nước) nhưng
thường là UBCK Quốc gia, bên cạnh đó còn có Hiệp hội kinh doanh chứng khoán, các
Sở giao dịch chứng khoán. Ở mỗi quốc gia, với những đặc trưng riêng có mà có
những hình thức quản lý khác nhau và thiết lập nên những cơ quan quản lý khác nhau.
Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN đang trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan quản
lý cao nhất về chứng khoán và TTCK. Theo đó, UBCKNN sẽ nghiên cứu vạch kế
hoạch, dự thảo các văn bản pháp luật và các thể lệ chế độ về tổ chức và hoạt động
TTCK để trình cấp có thẩm quyền quyết định ban hành. Đồng thời quản lý, giám sát
hoạt động của TTCK, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để đảm bảo thị trường hoạt động
tốt. Ngoài UBCKNN, các cơ quan quản lý khác như Ngân hàng Nhà nước, các Bộ,
đặc biệt là Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán cũng có vai trò rất lớn trong hoạt
động quản lý các thành viên tham gia thị trường, và bảo vệ lợi ích cho các thành viên.
2.2. Chủ thể kinh doanh ( Trung gian tài chính )
Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của TTCK, TTCK hoạt động
hiệu quả một phần là nhờ sự thủ vai tốt của các trung gian này. Với tư cách là nhà
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét