5
3.2 Phương pháp thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch
sử chương III, phần I SGK lịch sử 10( cơ bản) trường THPT 35
3.2.1 Trung quốc thời phong kiến 35
3.3 Thực nghiệm sư phạm 44
3.3.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 44
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 45
3.3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 45
3.3.4 Kết quả thực nghiệm 46
Kết luận 47
Tài liệu tham khảo 49
Phụ lục
6
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
DH: Dạy học
SGK: Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thông
PL: Phụ lục
[ pl 1 ; 12] Phụ lục hình 1 hình 12
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với xu thế liên tục đổi mới phương pháp DH cho phù hợp với tinh hình
phát triển của thời đại trong nhà trường phổ thông hiện nay hơn bao giờ hết giáo
dục có vai trò quan trọng với việc phát triển kinh tê- xã hội, vì thế từ đại hội VI
của Đảng các nghị quyết của ban chấp hành trung ương 2 kháo VIII đã xác
định:” Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học” [ 15, 9] chính vì lẻ
đó, trong những năm gần đây có những thay đổi mạnh mẽ theo hướng áp dụng
các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình DH, đãm bảo điều
kiện thời gian tự học và tự nghiên cứu cho HS. Phù hợp với từng môn học.
Quán triệt tư tưởng đổi mới đó từ năm học 2004- 2005 Bô giáo dục và
đào tạo đã thay đổi SGK lịch sử 10, SGK mới có những hình ảnh minh họa hay
câu hỏi đòi hỏi người GV có những phương pháp phù hợp hơn, đội ngũ GV đã
bước đầu vận dụng có hiệu quả những phương pháp DH mới, HS tỏ thái độ tích
cực mạnh dạng tự tinh trong học tập SGK mới. Tuy nhiên đó là những kết quả
bước đầu, nhưng bên cạnh đó cũng có những hạn chế cần khắc phục.
Việc đổi mới phương pháp DH là chặn đường dài với nhiều khó khăn Và
thử thách trong đó xóa bỏ cách dạy truyền thống thầy đọc trò chép đã lạc hậu
yêu cầu là phải đồi mới. Tuy có nhiều thay đổi SGK những người thầy vẫn gữi
tư tưởng cũ là cách dạy một chiều, điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần phải
nghiên cứu và vận dụng các phương pháp tích cực trong DH. Chúng ta cần
khẳng định đây là quá trình lâu dài không thể nóng vội nhưng lại là công việc
cấp thiết phải làm ngai ở mức độ tốt nhất có thể tùy theo điều kiện cụ thể và
nâng lực không chờ đợi hội đủ điều kiện mới tiến hành.
Đổi mới phương pháp DH là yêu cầu bắt buộc đối với ngành giáo dục nói
chung và GV nói riêng, song trên thực tế việc đổi mới này chưa được quan tâm
8
đúng mức. GV được tham dự các lớp về đổi mới phương pháp DH. Song nhưng
khi vể áp dụng chỉ mang tính “hình thức” hiệu qảu chua cao, do GV chưa nắm
chắc lý thuyết và điều kiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Tuy nhiên bên cạnh đó
có những GV có huyết tâm đã thực hiện một phần phương pháp đổi mới, đạt
được một số kết qủa bước đầu.
Đồng thời với những trở ngại đó thì về phía Bộ giáo dục mới chỉ đổi mới
phương pháp ở dạng thuyết trình, trên lý thuyết mang tính chất chung mà chưa
có nghiên cứu cụ thể nên việc áp dụng còn bở ngỡ, GV chưa mạnh dạng áp
dụng. Do đó việc xây dựng và sử dụng cụ thể vào một bài cụ thể là yêu cầu cấp
thiết hiện nay. Nếu không thực hiện được vấn đề này thì việc giảng dạy theo
phương pháp truyền thống vẫn được duy trì, không phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo của HS.
Có nhiều con đường để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn lịch sử ở trường THPT hiện nay, là
GV trước vấn đề đổ mới cho nên nhóm chúng tôi chọn đề tài” thiết kế và sử
dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở chương III phần I SGK lịch sử
10( cơ bản) trường THPT.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Do chương trình SGK lịch sử 10 mới được áp dụng đại trà năm 2005-
2006 nên chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về việc sử dụng đồ dùng trực
quan cho chương trình lịch sử THPT mà chỉ có những công trình nghiên cứu và
bài viết mang tính lí luận như,” Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử
ở THPT của Kiều Thế Hưng; “ Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung
học phổ thông” của Nguyễn Thị Côi; Nguyễn Kỳ trong cuốn “ Phương pháp
giáo dục tích cực lấy học sinh làm trung tâm”.
Các công trình nghiên cứu và bài viết nói trên chủ yếu trình bài quan
niệm và sự cần thiết của việc thiết kế và sử dùng đồ dùng trực quan trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông. Tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế vẫn còn
nhiều bở ngỡ. Các bài viết này ít nhiều đã giúp tôi xác định cách thức con
9
đường, nội dung thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong DH lịch sử chương
III, SGK lịch sử 10( cơ bản) chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện để đi
sâu vào nội dung cụ thể, đó là nhiệm vụ mà đề tài phải nghiên cứu.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc” Thiết kế và sử dụng đồ dùng
trực quan trong dạy học chương III, phần I SGK lịch sử 10( cơ bản) trường
THPT để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS.
3.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Xác định đối tượng nghiên cứu nói trên, đề tài không tập trung nghiên
cứu sâu lí luận về “ đồ dùng trực quan” mà sử dụng thành tựu lý luận DH của
nội dung trên để thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan để phục vụ phần giảng
dạy chương III, SGK lịch sử 10( cơ bản) phạm vi thực nghiệm sư phạm ở các
trường THPT trong huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng.
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu những phương pháp, quy trình thiết kế và sử dụng đồ dùng
trực quan để tổ chức cho HS tự lực nghiên cứu tài liệu thông qua các giờ dạy
trên lớp, tổ chức kiểm tra đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của HS thông qua
bài học chương III, lịch sử 10( cơ bản) nhằm áp ứng yêu cầu đổi mới phương
pháp DH
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Điều tra xã hội học để phát hiện thực tiển giáo dục phổ thông về việc thiết
kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong DH lịch sử.
Phân tích cấu trúc nội dung chương III, SGK lịch sử 10 ( cơ bản).
Thiết kế đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực của HS.
Xác định yêu cầu chung và biện pháp sư phạm cụ thể để thiết kế và sử
dụng đồ dùng trực quan cho GV và HS.
10
Thực nghiệm sư phạm trường THPT Mai Thanh Thế nhằm kiểm tra tính
khải thi của đề tài.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan. Tiến
hành dạy thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng trực quan
khi DH lịch sử chương III, SGK lịch sử 10( cơ bản)
7. GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan để phát huy tính tích cực của
HS trong DH lịch sử chương III, SGK lịch sử 10 ( cơ bản) phù hợp sẽ góp phần
nâng cao chất lượng DH lịch sử, hoàn thiện vốn kiến thức lịch sử theo yêu cầu
mục tiêu đào tạo.
8. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
Thiết kế và sử dùng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực, sáng
tạo của HS trong DH chương III, phần I, SGK lịch sử 10( cơ bản).
Đồng thời làm tài liệu nghiên cứu và học tập của HS và các đồng nghiệp
nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS.
9. CẤU TẠO CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo nội dung
khóa luận gồm có ba chương.
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiển của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực
quan trong DH lịch sử chương III, phần I, SGK lịch sử 10( cơ bản) trường
THPT.
Chương 2. Những nội dung lịch sử trong chương III phần I, SGK lịch sử 10( cơ
bản) trường THPT. Cần triệt để khai thác để thiết kế, sử dụng đồ dùng trực quan.
Chương 3. Thiết kế và sử dụng các loại đồ dùng trực quan để dạy chương 3.
phần I, SGK lịch sử 10( cơ bản) trường THPT. Qua từng bài cụ thể.
11
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC THIẾT
KẾ VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ CHƯƠNG III, PHẦN I, SGK LỊCH SỬ 10( CƠ BẢN)
TRƯỜNG THPT
1.1 PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ
1.1.1 Khái niệm
Phương pháp DH trực quan là phương pháp được xây dựng trên cơ sở
quán triệt nguyên tắc đãm bảo tính trực quan trong quá trình DH. Trong quá
trình DH giáo viên hướng dẫn HS thực hiện các biện pháp quan sát sự vật, hiện
tượng hay hình ảnh của chúng để trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm, tạo
biểu tượng, từ đó giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khao
học.v.v…
Phương pháp trực quan là phương pháp giảng dạy không phải bằng sự
giới thiệu và lời nói mà bằng hình ảnh cụ thể, bằng cảm giác trực tiếp của học
sinh bằng sự hướng dẫn của GV. Nhằm hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, đãm bảo
việc giáo dục, phục vụ mục đích DH và giáo dục.
Phương pháp trực quan được sử dụng trong dạy học lịch sử, được xem là
một phương pháp diễn tả những hành động lịch sử khách quan và mẫu mực luôn
luôn gắn liền với sự phát triển tư duy trừu tượng của HS.
Như vậy có thể hiểu: Đồ dùng trực quan là hệ thống đối tượng vật chất và
tất cả những phương tiện kỹ thuật được GV và HS sử dụng trong quá trình DH.
Người ta đã tổng kết vai trò của các giác quan trong quá trình nhận thức
như sau:
Kiến thức thu nhận được: Qua nếm; qua sờ; qua ngửi; qua nghe; qua
nhìn
Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau khi học:
12
Qua những gì mà ta nghe được
Qua những gì mà ta nhìn được
Qua những gì mà ta nghe và nhìn được
Qua những gì mà ta nói được
Qua những gì mà ta nói và làm được
Qua việc tổng kết trên điều cho thấy:
Để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao thì cần phải thông qua quá trình
nghe, nhìn và thực hành. Muốn có được điều đó đồ dùng trực quan giúp cho quá
trình nhận thức của HS là cực kì quan trọng, vì vậy đồ dùng trực quan là không
thể thiếu trong quá trình DH.
1.1.2 Vai trò của đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học lịch sử:
Trong quá trình DH đồ dùng trực quan là một trong những yếu tố tham
gia tích cực vào quá trình cung cấp kiến thức cho HS, trong qúa trình DH người
dạy đưa ra những đồ dùng trực quan và hệ thống câu hỏi khéo léo dẫn dắt cho
HS lĩnh hội kiến thức mới, đồ dùng quan có nhiều vai trò trong qúa trình DH,
nói giúp cho GV và HS phát huy tối đa tất cả các giác quan của HS trong quá
trình DH, từ đó giúp HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện
được các khái niệm, quy luận làm cơ sở cho việc rút kinh nghiệm và áp dụng
kiến thức đã học vào thực tế.
1.2 VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG
TRỰC QUAN.
1.2.1 Vị trí
Nhà giáo dục học Sée J.A. Komensky là người đầu tiên nêu lên những
nguyên tắc DH một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học, trong số nhửng
nguyên tắc mà ông đưa tính trực quan ( mà ông gọi là nguyên tắc vàng ngọc)
được xếp lên hàng đầu. Sée J.A. Komensky nói: “ Không có trong trí tuệ những
cái mà trước đó không có cảm giác”. Ông cho rằng “ để có tri thức vững chắc,
nhất định phải dùng phương pháp trực quan” [13, 37] luận điểm quan trọng của
V.Lê nin “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trù tượng và từ đó trở thực tiển –
13
đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách
quan” [ 13, 37 ] đã được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu và tâm lý
học sư phạm và lý luận DH.
Trong DH lịch sử phương pháp trực quan lại càng có vị trí quan trọng,
việc nhận thức lịch sử của HS cũng bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng và tư duy trừu tượng đến thực tiển. Việc trực quan sinh động trong
nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác trực tiếp về hiện tượng lịch sử
đã qua, mà từ những biểu tượng được tạo nên trên cơ sở các sự việc cụ thể, vì
thế trong DH lịch sử cần phải sử dụng đồ dùng trực quan bên cạnh các phương
pháp, phương tiện DH để quá trình DH đạt hiệu quả cao nhất.
Nhưng do nguyên nhân nào đó, lâu nay việc “ dạy chay” đã dần hình
thành thói quen đáng phê bình là GV rất ngại sử dụng các phương tiện DH khác
ngoài SGK và lời nói, thói quen này đã cản trở rất nhiều tới việc thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ và chức năng giáo dục bộ môn. HS học lịch sử nhưng nhận thức
lịch sử không sâu, dễ quên.
Qua việc trình bày như trên, môn lịch sử muốn không ngừng nâng cao
hiệu quả giáo dục và giảng dạy, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công
cuộc đổi mới thì phải tiến hành cải tiến phương pháp DH lịch sử, trong đó việc
quan trọng là phải tăng cường thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong DH
lịch sử.
1.2.2 Ý nghĩa cũa đồ dùng trực quan
Trong thời kỳ đổi mới để đưa đất nước từ nền kinh tế nông nghiệp sang
nền kinh tế công nghiệp có lực lượng tiên tiến, cùng với sự chuyển biến đó thì
nhân cách của con người cũng có nhiều thay đổi.
Nên vấn đề đặt ra là nhân cách cần hình thành và phát triển nói chung ,
THPT nói riêng như lòng tự tin, tính bản lĩnh, ham học hỏi, dám đương đầu với
thủ thách, tuy nhiên muốn giáo dục nhân cách cho HS phải chú ý đến bản sắc
dân tộc.
14
Để hình thành những nhân cách nói trên thì bộ môn lịch sử có ưu thế so
với các môn khác, vì nội dung ở phổ thông là cung cấp cho HS những hiểu biết
cơ bản vững chắc về sự phát triển xã hội, xã hội loài người và dân tộc đã chảy
qua, từ đó HS rút ra những bài học lịch sử xã hội loài người sẽ giúp HS hành
động đúng đắn hơn.
Nói cách khác thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ phát huy tính
tích cực của HS từ đó dễ dàng thực hiện ba nhiệm vụ của giáo dục: Giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển HS thông qua những hình ảnh “ trực quan sinh động”
kết hợp với lời giảng của GV sẽ có những khái niệm, biểu tượng chính xác về
nghiên cứu và tìm hiểu SGK.
Ví dụ: Khi trình bày về Tần Thủy Hoàng thông qua câu chữ thì HS không
thể hình dung về cuộc sống của ông, nhưng khi thông qua hình 12 SGK và GV
kết hợp miêu tả thì giúp HS nhớ lâu hơn về cuộc sống quyền lực nhà vua thời
bấy giờ.
Đồ dùng trực quan không chỉ tạo biểu tượng mà còn là chổ dựa vững chắc
cho việc nắm quá khứ lịch sử, những nét khái quát định hình hiểu sâu sắc sự
kiện lịch sử. Nó là phương tiện có hiệu quả để hình thành khái niệm lịch sử và
làm cho HS nắm được những quy luật của sự phát triển của Trung Quốc thời
phong kiến.
Đồ dùng trực quan không chỉ tạo biểu tượng mà còn là chổ dựa vững chắc
cho việc nắm quá khứ lịch sử trong những nét khái quá định hình, hiểu sâu sắc
sự kiện lịch sử, nó là phương tiện hiệu quả để hình thành khái niệm lịch sử và
làm cho HS nắm được những quy luật của sự phát triển xã hội. Song song với nó
đồ dùng trực quan còn giúp cho các em rèn luyện kỹ năng, so sách phán đoán và
phẩm chất đạo đức, cần cù, trung thực, cẩn thận…
Nhìn chung thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan nâng cao chất
lượng hiệu quả giảng dạy học tập lịch sử ở trường phổ thông, gây hứng thú cho
HS đối với việc tìm hiểu quá khứ, làm cho các em dễ hiểu, gợi trí tò mò và óc
tưởng tượng cần thiết cho sự tìm hiểu lịch sử ở lứa tuổi HS.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét