Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

:Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khai thác tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của
cải. Trên thế giới hiện nay, các nền kinh tế phát triển thuộc OECD đợc coi là
kinh tế tri thức vì tại đây 50% GDP đợc sản xuất từ những ngành có nền tảng
là tri thức.
Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: kinh tế tri thức là nền kinh tế,
trong đó khoa học - công nghệ - kỹ thuật trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, là
yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển
vọng phát triển. Nói gọn hơn là: khoa học- công nghệ - kỹ thuật là lực lợng sản
xuất thứ nhất.
So sánh khái quát các thời đại kinh tế:
Kinh tế nông
nghiệp
Kinh tế công
nghiệp
Kinh tế tri thức
Đầu vào của sản
xuất
Lao động, đất
đai, vốn
Lao động, đất
đai, vốn, công
nghệ, thiết bị
Lao động, đất đai,
vốn, công nghệ,
thiết bị, tri thức,
thông tin
Các quá trình
chủ yếu
Trồng trọt, chăn
nuôi
Chế tạo, gia công
Thao tác, điều
khiển, kiểm soát, xử
lý thông tin
Đầu ra của sản
xuất
Lơng thực
Của cải, hàng
hoá tiêu dùng, xí
nghiệp, nền công
nghiệp
Sản phẩm đáp ứng
nhu cầu ngày càng
cao của cuộc sống,
công nghiệp tri
thức, vốn tri thức
Cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp là
chủ yếu
Công nghiệp và
dịch vụ là chủ
yếu
Các ngành kinh tế
tri thức thống trị
Công nghệ chủ
yếu thúc đẩy sản
xuất
Sử dụng súc vật,
cơ giới hoá đơn
giản
Cơ giới hoá, điện
khí hoá, hoá học
hoá, chuyên môn
Công nghệ cao,
điện tử hoá, tin học
hoá, siêu xa lộ
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 5 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hóa
thông tin, thực tế
ảo
Cơ cấu xã hội Nông dân Công nhân Công nhân tri thức
Đầu t cho R&D < 0,3% GDP 1 2% GDP > 3% GDP
Tỷ lệ đóng góp
của KHCN cho
nền kinh tế
< 10% > 30% > 80%
Đầu t cho giáo
dục
< 1% GDP 2 4% GDP > 6% GDP
Tầm quan trọng
của giáo dục
Nhỏ Lớn Rất lớn
Trình độ văn hoá
trung bình
Tỷ lệ mù chữ cao Trung học Sau trung học
Vai trò của
truyền thông
Không lớn Lớn Rất lớn
Theo dự đoán đến năm 2030, các nớc phát triển đều trở thành nền kinh tế
tri thức.
2. Những đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức
Thứ nhất, là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế:
Trong các năm qua các nền kinh tế phát triển trên thế giới đã có những
chuyển đổi to lớn, sâu sắc về cơ cấu kinh tế, về cách thức hoạt động và các qui
tắc hoạt động; đang phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa vào tri thức; các ý t-
ởng đổi mới và công nghệ là chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao
chất lợng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao, dịch chuyển nhanh
cơ cấu. Nhng đây cũng là nền kinh tế mang tính rủi ro, và không ngừng thay
đổi, luôn đặt ra nhiều thách thức mới (vì vậy có ngời gọi đây là xã hội rủi ro
risk society).
Trong nền kinh tế tri thức, nông nghiệp và công nghiệp vẫn tồn tại nhng
chiếm tỉ lệ nhỏ. Những ngành chiếm tỉ lệ cao là các ngành dựa vào tri thức, ứng
dụng KHCN mới nhất nh: công nghiệp thông tin (sản xuất phần cứng, phần
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 6 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mềm), các ngành công nghiệp, dịch vụ dựa vào công nghệ cao (bán hàng qua
mạng internet), cũng có thể là các ngành truyền thống nhng đợc cải tạo bằng
KHCN cao. Ví dụ: sản xuất ô tô thông minh, có độ an toàn cao, không cần ngời
lái.
Nếu nh trong khi nền kinh tế công nghiệp dựa vào sự tổ chức sản xuất
hàng loạt, qui chuẩn hoá, thì nền kinh tế tri thức đợc tổ chức trên cơ sở sự sản
xuất linh hoạt hàng hoá và dịch vụ dựa vào công nghệ cao, đây cũng là kinh tế
văn phòng (ngời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, ngời
làm việc ở văn phòng nhiều lên). Hiện nay ở Mỹ có hơn 93 triệu lao động (hơn
80% lao động) không phải tham gia vào việc làm ra vật phẩm, mà chuyển sang
di chuyển vật phẩm, xử lý thông tin, cung cấp dịch vụ cho ngời dân.
Thứ hai, là sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng
nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tơng lai. Các ngành kinh tế
tri thức đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển. Các doanh
nghiệp đều có sản xuất công nghệ, đồng thời có nhiều doanh nghiệp chuyên sản
xuất công nghệ, có thể gọi là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học và sản
xuất đợc nhất thể hoá, không còn phân biệt phòng thí nghiệm với công xởng,
những ngời làm việc trong đó là công nhân tri thức, họ vừa nghiên cứu vừa sản
xuất.
Hiện nay trên lĩnh vực công nghệ thông tin các doanh nghiệp tri thức
phát triển rất nhanh, chỉ trong khoảng 5-10 năm từ chỗ tay không trở thành
những tài sản khổng lồ hàng chục tỷ USD, nh Nescape, Yahoo, Dell, Cisco
Ngời giàu nhất thế giới Bill Gate cũng là một ngời hoạt động trong lĩnh vực
công nghệ thông tin. Ông là chủ sở hữu tập đoàn Microsoft tập đoàn công
nghệ thông tin lớn nhất thế giới.
Sự hình thành và phát triển các khu công nghệ (technology park) là yếu
tố rất quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh sự ra đời các công nghệ mới. Đây là
những vờn ơm công nghệ; ở đây có các điều kiện thuận lợi để nhất thể hoá quá
trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất, nhờ
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 7 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đó các ý tởng khoa học nhanh chóng trở thành công nghệ và đa ra sản xuất. Khu
công nghệ tiêu biểu nhất phải kể đến là thung lũng Silicon, đợc hình thành từ
những năm 50 của thế kỷ trớc với các công ty do các nhà khoa học của trờng
đại học Stanford sáng lập. Ban đầu đó chỉ là các công ty nhỏ nhng nhờ đi đúng
hớng mà chúng liên tục phát triển. Rất nhiều công nghệ mới ra đời từ nơi đây,
đáng kể nhất phải kể đến internet. Bây giờ tại đây đã có hàng ngàn công ty công
nghệ thông tin với doanh số tại chỗ năm 1997 lên tới 267 tỷ USD.
Những thập kỷ gần đây trên thế giới các khu công nghệ phát triển rất
nhanh, đó là một cách tổ chức để đi nhanh vào kinh tế tri thức.
Vì nền sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng l-
ợng, thải ra ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện đợc
sản xuất sạch, không gây ô nhiễm môi trờng. Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát
triển bền vững.
Trong xã hội mạng lại có điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản
xuất và tiêu dùng; nhờ có mạng có thể sản xuất theo nhu cầu của khách hàng,
theo đơn đặt hàng, không để ứ đọng trong kho khối lợng lớn hàng hoá. Giữa sản
xuất và tiêu dùng có thể đạt đợc sự hài hoà.
Thứ ba, là việc ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực
và thiết lập mạng thông tin đa phơng tiện phủ khắp nớc, nối với hầu hết các tổ
chức, các gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất. Mọi ngời
đều có nhu cầu thông tin và đợc truy nhập vào các kho thông tin cần thiết cho
mình. Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của công nghệ
thông tin để nâng cao năng suất, chất lợng, hiệu quả, cũng chính vì vậy nhiều
ngời gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế số hay kinh tế mạng.
Thơg mại điện tử, thị trờng ảo, xí nghiệp ảo, làm việc từ xa đ ợc thiết
lập làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên nhanh nhạy, linh hoạt,
khoảng cách và ý nghĩa về vị trí địa lý ngày càng giảm.
Thứ t, là các doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát triển.
Trong cùng một lĩnh vực khi một công ty thành công hơn, lớn mạnh hơn, thì
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 8 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
công ty khác tìm cách sáp nhập vào hoặc chuyển hớng khác ngay, nếu không
muốn bị phá sản. Mà trong nền kinh tế tri thức vì nảy sinh nhiều công nghệ mới
nên luôn luôn xuất hiện nhiều công ty mới; sự ra đời của công ty gắn với sự ra
đời của một công nghệ mới, một sáng chế mới. Các công ty phải luôn đổi mới
và phải kịp thời chuyển hớng theo sự phát triển của công nghệ. Để tăng sức
mạnh các công ty phải hợp tác với nhau, để tồn tại và phát triển. Gần đây nhất
chúng ta phải kể đến sự kiện tập đoàn Microsoft đang thơng thuyết để mua lại
tập đoàn Yahoo, nếu thành công thì đây sẽ là vụ mua bán lớn nhất trong lĩnh vc
công nghệ thông tin từ trớc tới nay.
Thứ năm, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hoá. Thông tin đến với
mọi ngời. Mọi ngời đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết. Dân chủ
hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội đợc mở rộng. Ngời dân nào
cũng có thể đợc thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nớc hoặc
tổ chức có liên quan đến họ và họ có thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù
hợp. Do đó phải tạo không khí dân chủ, cách làm việc dân chủ. Khi chuẩn bị
các quyết định, các chính sách, luật pháp cơ quan nhà nớc rất dễ dàng đa ra lấy
ý kiến nhân dân. Việc tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân cũng rất dễ
dàng, thuận tiện. Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" sẽ đợc thực hiện
đầy đủ nhất. Cho nên CNTT thúc đẩy sự phát triển dân chủ. Có dân chủ mới
phát huy đợc khả năng sáng tạo của mọi ngời.
Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi nhiều. Trong thời đại thông tin,
mô hình chỉ huy tập trung, có đẳng cấp là không phù hợp. Xu thế là theo mô
hình phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong đó tận dụng các quan hệ
ngang; vì thông tin đến đợc một cách thuận lợi nhanh chóng tất cả mọi nơi,
không cần đi qua các nút xử lý trung gian. Đó là mô hình tổ chức dân chủ, nó
linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động
sáng tạo của mọi ngời.
Thứ sáu, xã hội thông tin là một xã hội học tập. Giáo dục rất phát triển.
Mọi ngời đều học tập, học thờng xuyên, học ở trờng và học trên mạng, để
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 9 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo. Không học tập thờng
xuyên thì không phát triển đợc nền kinh tế tri thức. Mọi ngời thờng xuyên đợc
bổ túc, cập nhật kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc
đẩy sự đổi mới. Với sự bùng nổ thông tin và sự luôn đổi mới kiến thức, mô hình
giáo dục truyền thống: đào tạo xong rồi ra làm việc là không còn phù hợp, mà
phải đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc.
Con ngời phải học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc. Hệ thống giáo dục phải
đảm bảo cho mọi ngời bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu cũng có thể học tập đợc.
Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời.
Đầu t cho giáo dục và cho khoa học chiếm tỷ lệ rất cao. Nói chung đầu t
vô hình (cho con ngời, cho giáo dục, khoa học, văn hoá xã hội ) cao hơn đầu t
hữu hình (đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật). Phát triển con ngời trở thành
nhiệm vụ trung tâm của xã hội.
Vốn con ngời là yếu tố then chốt nhất tạo ra giá trị cho doanh nghiệp tri
thức.
Thứ bảy, vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức. Tri thức là
nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trởng. Không phải nh các nguồn lực khác bị mất
đi khi sử dụng, tri thức và thông tin có thể đợc chia xẻ, và trên thực tế lại tăng
lên khi sử dụng. Do đó nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế d dật chứ không
phải khan hiếm.
Sản phẩm và dịch vụ có hàm lợng tri thức càng cao thì càng quý giá. Giá
cả và giá trị sản phẩm tri thức thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào ngời sử dụng ở
các thời điểm khác nhau.
Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả sở hữu
vốn, tài nguyên, đất đai. Ai chiếm đợc nhiều sở hữu trí tuệ, ngời ấy thắng. Pháp
luật về sở hữu trí tuệ trở thành nội dung chủ yếu trong quan hệ dân sự và quan
hệ thơng mại quốc tế.
Rất nhiều vấn đề về sở hữu trí tuệ đợc đặt ra. Các ông chủ nhiều tập đoàn
công nghệ thông tin thoạt đầu không có vốn liếng gì, nhng nhờ có sở hữu trí tụê
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 10 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mà đã có tài sản hàng trăm tỷ USD. Nếu không đợc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
thì họ không thể có đợc thành công nh vậy.
Luật pháp, thuế và các rào cản khó áp dụng đơn độc trong khuôn khổ
quốc gia. Tri thức và thông tin luôn đi tới những nơi có nhu cầu cao nhất và rào
cản ít nhất.
Thứ tám, sự sáng tạo, đổi mới thờng xuyên là động lực chủ yếu nhất
thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút
ngắn; quá trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất,
hay một công nghệ chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng. Các doanh nghiệp muốn
trụ đợc và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm. Sáng tạo là
linh hồn của sự đổi mới. Trớc đây, ngời ta chọn các công nghệ đã chín muồi thì
nay ngời ta lại tìm chọn các công nghệ mới nảy sinh vì cái chín muồi cũng rất
có thể là cái sắp sửa tiêu vong.
Trong nền kinh tế tri thức có những điều tởng nh nghịch lý:
- Của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái cha biết, cái đã biết không còn giá trị
nữa, tìm ra cái cha biết chính là tạo ra giá trị.
- Môi trờng để tìm ra cái cha biết là mạng thông tin. Mạng thông tin, thực tế
ảo gợi ra các ý t ởng mới, giải pháp mới đáp ứng nhu cầu mới.
- Phát hiện ra cái cha biết tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng
cái mới, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới, cái mới ngày càng nhiều. Đó là đặc tr-
ng của sự phát triển, sự tiến hoá của xã hội sắp tới, phát triển từ cái mới chứ
không phải phát triển từ cái lớn dần lên.
- Sản phẩm có giá trị sử dụng ngày càng cao thì giá bán càng rẻ, thậm chí
nhiều phần mềm cơ bản đợc cho không (để rồi sau đó nâng cao hơn dù chỉ một
ít thì giá bán rất đắt), sản phẩm càng nhiều ngời dùng thì giá trị sử dụng càng
cao. ở thời đại công nghệ thông tin thì cái đợc dùng nhiều nhất là cái có giá trị
cao. Ví dụ: máy Fax sẽ không có tác dụng là bao khi có ít nhng khi có hàng
nghìn máy dùng để liên lạc với nhau thì sẽ có giá trị rất to lớn. Mạng cũng nh
vậy, phải có nhiều ngời dùng thì lúc đó mới có giá trị.
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 11 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ chín, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá. Thị trờng và
sản phẩm mang tính toàn cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất kỳ nơi nào cũng có
thể nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thế giới.
Quá trình toàn cầu hoá cũng là quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức,
toàn cầu hoá và kinh tế tri thức thúc đẩy nhau, gắn quyện với nhau, là hai anh
em sinh đôi của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Toàn cầu hoá
một mặt tạo thuận lợi cho sự phát triển nhanh kinh tế tri thức ở các nớc, nhng
đồng thời cũng đặt nhiều thách thức rủi ro. Trên thế giới hiện nay thì khoảng
cách giàu nghèo vẫn đang tăng nhanh do chêch lệch nhiều về tri thức và điều đó
chỉ có thể xoá đợc khi rút ngắn khoảng cách và tri thức.
Thứ mời, là sự thách thức đối với văn hoá. Trong nền kinh tế tri thức - xã
hội thông tin, văn hoá có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ nền văn
hoá nâng cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hoá phong phú đa dạng.
Nhờ các phơng tiện truyền thông tức thời, nhất là internet, một sáng tác
ra đời tức thời lan truyền đến mọi nơi trên thế giới. Giao lu văn hoá hết sức
thuận lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hoá có thể tiếp thu các tinh hoa của
nhân loại để phát triển nền văn hoá của mình. Nhng mặt khác các nền văn hoá
đứng trớc những rủi ro rất lớn: bị pha tạp, dễ mất bản sắc Nhiệm vụ gìn giữ,
phát huy bản sắc văn hoá mỗi dân tộc trở nên rất nặng nề. Cái chính là phải giáo
dục truyền thống, phát huy các giá trị truyền thống, xây dựng và phát triển nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có đủ sức mạnh nội sinh.
3. Kinh tế tri thức trong quá trình công nghiệp hóa -
hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
a. Thời cơ và thách thức
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đa ra chiến lợc: Đẩy mạnh công nghiệp
hoá - hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến
khoảng năm 2020 nớc ta về cơ bản trở thành nớc công nghiệp. Trong thời
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 12 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
gian cho đến năm 2020, kinh tế thế giới sẽ có những biến động to lớn không l-
ờng trớc đợc, theo chiều hớng chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức, tốc độ
tăng trởng kinh tế rất cao, khoảng cách giữa các nớc giàu và và các nớc nghèo
có thể sẽ còn tiếp tục gia tăng. Đó là thách thức gay gắt đối với các nớc đang
phát triển nói chung, cũng nh đối với nớc ta. Nếu không biết tận dụng cơ hội,
nâng cao năng lực nội sinh, đổi mới cách nghĩ, cách làm, bắt kịp tri thức mới
của thời đại, đi thẳng vào những ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ
cao, thực sự đi tắt đón đầu, thì sẽ tụt hậu rất xa.
Chúng ta không thể rập khuôn theo mô hình công nghiệp hoá mà các nớc
đi trớc đã đi. Cũng không nên hiểu công nghiệp hoá là chủ yếu xây dựng công
nghiệp, mà phải hiểu đó là sự chuyển từ nền kinh tế lạc hậu, năng suất, chất l-
ợng, hiệu quả thấp, dựa vào phơng pháp sản xuất nông nghiệp, lao động thủ
công là chính sang nền kinh tế có năng suất, chất lợng, hiệu quả cao, theo ph-
ơng pháp công nghiệp, dựa vào tiến bộ khoa học và công nghệ mới nhất, vì vậy
mà công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá. Nh vậy kinh tế tri thức chính
là vận hội ngàn vàng để chúng ta đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nớc ta không thể chần chừ, bỏ lỡ cơ hội lớn, mà phải đi thẳng vào nền
kinh tế tri thức để rút ngắn khoảng cách với các nớc; cho nên công nghiệp hoá ở
nớc ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ lớn lao: chuyển biến từ
kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang
kinh tế tri thức. Hai nhiệm vụ ấy phải thực hiện đồng thời, lồng ghép vào nhau,
hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau; điều đó có nghĩa là phải nắm bắt các tri thức và
công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đồng
thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào
khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tăng nhanh các
ngành kinh tế tri thức.
Việc Việt Nam vừa mới trở thành thành viên của tổ chức thơng mại thế
giới (WTO) cũng đặt cho nớc ta nhiều cơ hội và thách thức:
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 13 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Chúng ta đợc tiếp xúc nhiều hơn với nền kinh tế thế giới, có cơ hội đợc học
hỏi kinh nghiệm của các nền kinh tế mạnh trên thế giới.
- Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải canh tranh quyết liệt với các doanh
nghiệp nớc ngoài nếu muốn tồn tại. Đây cũng sẽ là động lực thúc đẩy các doanh
nghiệp của ta đổi mới.
- Tri thức Việt Nam qua thực tế sẽ học hỏi đợc nhiều kinh nghiệm mới. Đây là
một điều quan trọng để rút ngắn khoảng cách của tri thức nớc ta với tri thức các
nớc phát triển.
- Ngời lao động Việt Nam muốn đáp ứng nhu cầu mới thì phải không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn và phải có vốn ngoại ngữ tốt để phục vụ cho
công việc.
- Nhiều nhân tài của đất nớc ta cũng sẽ dễ mất đi hơn (chảy máu chất xám)
nếu nh nhà nớc ta không có các chính sách đãi ngộ phù hợp.
b. Chiến lợc phát triển của ta là chiến lợc dựa vào tri thức, nội dung
công nghiệp hoá ở nớc ta là vận dụng các yếu tố của kinh tế tri thức
Nớc ta hiện nay vẫn còn nằm trong tốp 20 nớc nớc nghèo nhất thế giới,
không có cách nào để đuổi kịp các nớc về GDP. Để rút ngắn khoảng cách với
các nớc thì cách tốt nhất là chúng ta phải phấn đấu để nâng cao nhanh chóng
trình độ tri thức, tăng cờng năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, nắm
bắt và vận dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ mới nhất để
hoàn thành thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện đợc mục tiêu dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chúng ta có thế mạnh về tiềm năng con ngời, chỉ số phát triển con ngời
(HDI) năm 2005 xếp thứ 108/177 nớc. Thực tế đã chứng minh ngời Việt Nam
có khả năng nắm bắt và làm chủ nhanh các tri thức mới và công nghệ hiện đại.
Nhiều ngành mới xây dựng nhờ sử dụng công nghệ mới đã theo kịp trình độ các
nớc trong khu vực (bu chính viễn thông, năng lợng, dầu khí, cầu đờng ). Cho
nên chúng ta phải thực hiện chính sách bằng và dựa vào con ngời, khoa học
công nghệ nh nghị quyết Trung ơng 2 khoá VIII đã chỉ ra: Chiến l ợc phát
Nguyễn Văn Thịnh QTKDCN & XD 48B - 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét