Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Xây lắp và Vật tư xây dựng" ppt



- 4 -
Phân loại theo yếu tố chi phí:
Phân loại theo yếu tố chi phí giúp chúng ta giữ được tính nguyên vẹn của từng yếu
tố cũng như từng khoản chi phí không kể nó được phát sinh từ đâu, có quan hệ như thế nào
tới quá trình sản xuất.
Vì vậy hạch toán chi phí sản xuất có tác dụng lớn đối với công tác kế toán cũng
như công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu và
những loại chi phí nào, làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh kỳ sau,
lập kế hoạch tính toán nhu cầu vật tư, vốn lưu động (như tiền mặt).
Theo cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố thì những chi phí có
tính chất kinh tế chung được xếp chung vào một yếu tố, không tính đến nơi phát sinh chi
phí và dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất.
Đối với doanh nghiệp xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất gồm các yếu tố sau: yếu tố
nguyên vật liệu, yếu tố công cụ, dụng cụ, yếu tố nhiên liệu động lực, yếu tố tiền lương và
các khoản trích theo lương, yếu tố khấu hao TSCĐ, yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài, yếu
tố khác bằng tiền.
Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Căn cứ vào việc tham gia của các chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí
được chia làm ba loại: chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí hoạt động tài chính, chi phí bất
thường.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác, phục vụ cho
việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả từng loại hoạt động kinh doanh đúng đắn
cũng như việc lập báo cáo tài chính nhanh chóng, kịp thời
Phân loại theo cách ứng xử của chi phí
Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch kiểm soát và chủ động điều tiết chi
phí của nhà quản trị doanh nghiệp, phân loại theo cách ứng xử nghĩa là khi mức độ hoạt
động biến động thì chi phí sẽ biến động như thế nào. Khi mức hoạt động kinh doanh thay
đổi, các nhà quản trị doanh nghiệp cần thấy trước chi phí sẽ biến động như thế nào, biến
động bao nhiêu và loại nào biến động để tương ứng với biến động của mức hoạt động.
Theo cách phân loại này tổng chi phí của doanh nghiệp bao gồm hai loại chi phí:
biến phí và định phí.
Ngoài hai cách phân loại trên người ta còn có một số cách phân loại khác như sau:
- Chi phí sản xuất và ngoài sản xuất
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí theo thời kỳ và chi phí sản phẩm
Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng phục vụ cho từng yêu
cầu quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể. Nhưng chúng luôn bổ sung cho
nhau nhằm quản lý hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong phạm vi toàn
doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.

3. Giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành sản phẩm xây lắp.
a - Giá thành sản phẩm xây lắp.
Để xây dựng một công trình hay một hạng mục công trình thì doanh nghiệp kinh
doanh xây lắp phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định.
Những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp chi ra trong một quá trình thi công đó sẽ tham gia
cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành của quá trình đó.
Như vậy, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất (bao gồm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và chi phí sản
xuất chung) tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn
thành đến giai đoạn qui ước đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh
toán.


- 5 -
Khác với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, người ta có thể tính toán giá thành
cho một loạt sản phẩm được sản xuất ra trong thời kỳ và giá thành đơn vị của sản phẩm, đó
là một trong những cơ sở quan trọng để xác định giá bán ở doanh nghiệp kinh doanh xây
lắp, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt. Mỗi công trình, hạng mục công
trình hay khối lượng xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có một giá thành riêng.
Hơn nữa, khi nhận thầu một công trình xây dựng thì rõ ràng là giá bán (giá nhận
thầu hoặc giá trúng thầu) đã có ngay trước khi thi công công trình. Như vậy, giá bán có
trước khi xác định được giá thành thực tế của công trình. Do đó, giá thành thực tế của công
trình đó chỉ quyết định tới lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được do thi công công trình đó
mà thôi.
Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh,
được sự cho phép của Nhà nước một số doanh nghiệp kinh doanh xây lắp đã linh hoạt, chủ
động xây dựng một số công trình (chủ yếu là công trình như nhà ở, văn phòng, cửa hàng )
sau đó bán lại cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng với giá bán hợp lý thì giá thành sản
phẩm xây lắp cũng là một nhân tố quan trọng để xác định giá bán.
Trước đây người ta quan niệm rằng giá thành sản phẩm là toàn bộ giá trị chi phí sản
xuất tính theo số lượng và loại sản phẩm đã hoàn thành. Như vậy, giá thành sẽ không phản
ánh đúng đắn bản chất của nó và ít nhiều mang tính chất chủ quan bởi vì:
- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập thuần tuý
của xã hội như: BHXH, các khoản trích nộp cho cơ quan cấp trên, thuế vốn, thuế tài
nguyên
- Một số khoản mục chi phí gián tiếp được phân bổ vào giá thành của từng loại sản
phẩm hay từng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp. Việc phân bổ này mang tính chủ
quan.
b - Phân biệt khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là hai mặt biểu hiện của quá trình
sản xuất chế tạo sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chúng lại khác nhau về
phạm vi, giới hạn và nội dung.
Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí sản xuất phát sinh trong một thời kỳ nhất
định (tháng, quí, năm) còn giá thành lại liên quan đến chi phí của khối lượng xây lắp dở
dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại không bao gồm chi phí thực tế của khối lượng xây
lắp dở dang cuối kỳ.
- Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định, còn giá thành sản
phẩm xây lắp là chi phí sản xuất được tính cho một công trình, hạng mục công trình hay
khối lượng xây lắp hoàn thành.
Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp lại có những điểm
giống nhau: chúng đều là chi phí phản ánh lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp chi ra trong quá trình sản xuất. Giá thành sản phẩm xây lắp và chi phí sản xuất của
công tác xây lắp chỉ thống nhất về mặt lượng trong trường hợp: khi đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn
thành trong kỳ tính giá thành hoặc khối lượng xây lắp dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng
nhau.
c - Bản chất, chức năng của giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm xây lắp luôn được thể hiện ở mặt định tính và
định lượng.
Mặt định tính của chi phí đó là các yếu tố chi phí hiện vật hay bằng tiền tiêu hao
trong quá trình s
ản xuất xây dựng công trình, hạng mục công trình.
Mặt định lượng của chi phí thể hiện mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí
tham gia vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm xây lắp để cấu thành nên thực thể công
trình hoàn thành, biểu hiện bằng thước đo tổng quát là thước đo giá trị.
Mục đích sản xuất kinh doanh hay nói cách khác mục đích bỏ chi phí của Doanh
nghiệp là tạo nên nh
ững giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.


- 6 -
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp nói chung và các Doanh nghiệp
xây lắp nói riêng luôn quan tâm tới hiệu quả chi phí bỏ ra, để với chi phí bỏ ra ít nhất
nhưng thu được lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác
quản lý, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu thoả mãn đáp ứng được nội dung thông tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn luôn chứa hai mặt khác nhau vốn có bên trong của nó là
chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành trong khối lượng
sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành. Như vậy, bản chất của giá thành sản phẩm là kết
quả sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp, công việc lao vụ
hoàn thành.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là: Chức năng thước đo bù đắp chi
phí và chức năng lập giá.
Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lượng công tác xây
lắp, một công trình, hạng mục công trình phải được bù đắp bằng chính số tiền thu về do
quyết toán công trình, hạng mục công trình và khối lượng công tác xây lắp đó. Việc bù đắp
chi phí đầu vào đó chỉ có thể đảm bảo được quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản
xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải
trang trải, bù đắp được chi phí đầu vào đồng thời có lợi nhuận. Trong điều kiện hiện nay,
giá bán sản phẩm xây lắp là giá nhận thầu. Do đó giá nhận thầu xây lắp biểu hiện giá trị
công trình, hạng mục công trình phải được dựa trên cơ sở giá thành dự toán. Thông qua
giá bán sản phẩm xây lắp mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.
d - Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản
phẩm, xác định giá thành của sản phẩm là việc làm cần thiết và cũng có ý nghĩa thực tiễn
cao. Tuy nhiên yêu cầu của quản lý tại những thời điểm và phạm vi khác nhau sẽ khác
nhau. Do vậy, việc phân loại giá thành sẽ là cơ sở để các nhà quản trị doanh nghiệp xác
định giá thành sản phẩm.
Giá thành dự toán
Sản phẩm của ngành xây dựng có đặc điểm là có giá trị lớn, thời gian thi công dài
và mang tính chất đơn chiếc, kết cấu phức tạp, quy mô lớn. Do đó, mỗi giai đoạn thiết kế
có một dự toán tương ứng với mức độ chính xác và cụ thể khác nhau phù hợp với nội
dung của mỗi giai đoạn thiết kế. Căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình, hạng mục
công trình, chúng ta có thể xác định được giá thành dự toán.
Giá thành dự toán là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành một khối lượng sản
phẩm xây lắp nhất định. Giá dự toán được xác định trên cơ sở các định mức chi phí theo
thiết kế được duyệt và khung giá quy định áp dụng trong lĩnh vực XDCB do các cấp có
thẩm quyền ban hành.
Kể từ năm 1999 theo chế độ mới do có sự thay đổi của thuế GTGT nên giá thành
dự toán được tính theo công thức: Z dự toán = T + C + TL
Trong đó: - T: Chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy)
- C: chi phí chung
- TL: Thu nhập chịu thuế tính trước
Mặt khác, đơn giá về vật liệu, nhân công, máy của các cơ quan có thẩm quyền ban
hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Chính vì vậy Z dự toán không theo sát được
sự biến động thực tế, không phản ánh được thực chất giá trị công trình. Do vậy Doanh
nghiệp phải lập giá thành kế hoạch để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành.

Giá thành kế hoạch:

Là giá thành được xây dựng từ những điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp trên cơ sở
phấn đấu hạ giá thành dự toán bằng các biện pháp quản lý kỹ thuật và tổ chức thi công, các
định mức và đơn giá áp dụng trong Doanh nghiệp xây lắp.
Z
kế hoạch
= Z
dự toán
- Mức hạ Z
dự toán


- 7 -
Giá thành thực tế:

Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành, bàn giao khối lượng công tác
xây lắp mà Doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành này bao gồm các khoản chi phí theo
định mức, vượt định mức và các khoản chi phí phát sinh không có định mức (như chi phí
phát sinh do thiệt hại về sản phẩm hỏng, thiệt hại về ngừng sản xuất ). Nó được xác định
theo số liệu kế toán cung cấp.
Giá thành thực tế là các khoản chi phí thực tế theo khoản mục quy định thống nhất
cho phép tính vào giá thành. Nó được xác định vào cuối kỳ kinh doanh. Việc so sánh giá
thực tế với giá dự toán cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chi phí của Doanh
nghiệp xây lắp này so với Doanh nghiệp xây lắp khác. Nếu so sánh giá thực tế với giá kế
hoạch, ta có thể đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
xây lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất và trình độ quản lý. Từ đó đưa ra những ý
kiến đóng góp cho các nhà quản trị Doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Hiện nay trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp giá thành thực tế được báo cáo theo hai
chỉ tiêu:
- Giá thành thực tế khối lượng công tác xây lắp: là toàn bộ chi phí bỏ ra để tiến
hành sản xuất một khối lượng công tác xây lắp nhất định trong m
ột thời kỳ nhất định,
thường là một quý. Chỉ tiêu này được xác định vào thời kỳ đó và có tác dụng phản ảnh kịp
thời mức giá thành trong thi công để có biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành.
- Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Bao gồm toàn
bộ chi phí thực tế bỏ ra để tiến hành thi công công trình, hạng mục công trình từ khi khởi
công đến khi hoàn thành, bàn giao cho đơn vị chủ đầu tư.
Ngoài ra sản phẩm xây lắ
p còn có các loại giá thành sau:
+ Giá đấu thầu xây lắp: Là một loại giá thành dự toán mà chủ đầu tư đưa ra để các
đơn vị xây lắp làm căn cứ xác định giá đấu thầu của mình với nguyên tắc giá đấu thầu công
tác xây lắp nhỏ hơn hoặc bằng giá dự toán, đáp ứng mục đích tiết kiệm nguồn vốn đầu tư.
+ Giá hợp đồng xây lắp: Là loại giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng kinh
tế được ký kết giữa đơn vị xây lắp và chủ đầu tư sau khi thoả thuận giao nhận thầu. Về
nguyên tắc giá hợp đồng xây lắp phải nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu công tác xây lắp.
Về việc áp dụng hai loại giá nêu trên là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế trong xây dựng. Nó thể hiện tính cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị
xây lắp trong cơ chế thị trường. Ngoài ra các đơn vị xây lắp còn có thể tạo thế chủ động
trong việc định giá sản phẩm cũng như tổ chức sản xuất kinh doanh. Đó là yếu tố cơ bản
để phát triển hoạt động của các đơn vị này.
4. Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành:
Hoạt động xây lắp là sự thống nhất hai mặt của một quá trình. Như vậy có thể thấy
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ và có sự độc lập tương đối
với nhau. Chi phí thể hiện hao phí sản xuất còn giá thành thể hiện kết quả của qúa trình
sản xuất.
Về mặt chất: Chúng đều bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật
hoá mà Doanh nghiệp phải bỏ ra trong qúa trình thi công xây lắp.

Về mặt lượng: Chi phí sản xuất phản ánh hao phí trong một thời kỳ nhất định, giá
thành sản phẩm chỉ phản ánh những hao phí liên quan tới khối lượng công việc hoàn thành,
được bàn giao, được nghiệm thu. Giá thành sản phẩm không bao gồm chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ, chi phí không liên quan đến hoạt động sản xuất, chi phí thực tế phát sinh chờ
phân bổ, nhưng lại bao gồm chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, chi phí thực tế chưa phát sinh
nhưng được tính trước trong kỳ và chi phí phát sinh trong kỳ trước nhưng phân bổ cho kỳ
này.


- 8 -
Trong kế toán tập hợp chi phí sản xuất tạo cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm.
Đây là hai bước công việc liên tiếp gắn bó hữu cơ với nhau, nếu tạm tính giá thành xây lắp
theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý được thể hiện qua sơ đồ sau:




AB: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
BD: Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
AC: Tổng giá thành sản phẩm
CD: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Tổng giá
thành sản phẩm
xây lắp

=
Chi phí sản xuất
dở dang
đầu kỳ

+
Chi phí sản xuất
phát sinh
trong kỳ

-
Chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ


Như vậy giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh giá
trị thực của các khoản hao phí sản xuất. Mọi cách tính chủ quan, không phản ảnh đúng các
yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ mối quan hệ hàng hoá tiền tệ,
không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng.


5 . Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm xây lắp:
Do đặc thù ngành XDCB và của sản phẩm xây dựng cho nên việc quản lý về đầu tư
và xây dựng là quá trình khó khăn, phức tạp, nhất là từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trường. Việc quản lý thi công nói chung và quản lý chi phí và tính giá
thành sản phẩm nói riêng phải hết sức chặt chẽ.
Đối với sản phẩm xây lắp trước khi thi công nhất thiết phải lập dự toán (dự toán
thiết kế, dự toán thi công). Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên đối chiếu với dự
toán để kịp thờ
i phát hiện những sai lệch. Có thể nói dự toán được dùng làm thước đo để
đáng giá các hoạt động.
Do phải thi công ngoài trời nên công tác quản lý việc sử dụng tài sản, vật tư, thiết
bị rất phức tạp, hơn nữa do ảnh hưởng thời tiết nên việc hao hụt, mất mát là khó tránh khỏi.
Điều này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao của người sử dụng lao động và yêu cầu người
quản lý phải có biện pháp quản lý thích hợp.
Sản phẩm có giá trị lớn, nhu cầu về vốn lớn mà trong thi công không phải lúc nào
cũng có sẵn, do đó phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm trong khi vẫn bảo đảm chất lượng công
trình theo đúng dự toán thiết kế, yêu cầu đảm bảo công trình.
Tính chất phức tạp của hoạt động đòi hỏi công tác quản lý phải xác định rõ từng
bước công việc tránh sự chồng chéo các chức năng gây tốn kém về người và của. Người
quản lý cần phân định rõ chức năng trách nhiệm cho từng bộ phận, thậm chí từng cá nhân
giúp cho hoạt động tiến hành trôi chảy.
6 - Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm xây lắp:
a - Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng
là một công cụ quản lý kinh tế, phục vụ cho hoạt động quản lý giám sát bằng việc thực
hiện quan sát đo lường, tính toán ghi chép các hoạt động sản xuất kinh doanh. Kế toán là
phương pháp đo lường và thông tin của những người có liên quan, đặc biệt là các nhà quản
lý.
A B C D


- 9 -
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin sinh
động về sự tuần hoàn của tài sản, toàn bộ bức tranh của quá trình sản xuất từ khâu đầu tiên
cung cấp nguyên vật liệu (vật tư) cho đến khâu cuối là tập hợp chi phí và tính giá thành đều
được phản ánh thật đầy đủ và sinh động qua thông tin kế toán.
Thông tin kế toán mang tính chất hai mặt là chi phí và kết quả. Nhờ đó mà người ta
xác định được hiệu quả của một thời kỳ kinh doanh và tình hình tài chính của Doanh
nghiệp.
Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc ứng dụng hạch toán kinh doanh với nội dung cơ
bản là độc lập về tài chính lấy thu bù chi. Hơn nữa thông tin kế toán có hai đặc trưng cơ
bản là thông tin và kiểm tra. Thông tin về hoạt động đồng thời kiểm tra về tiến độ, đơn giá,
định mức sử dụng lao động, vật tư hay dự toán chi phí. Ví dụ như: Thông tin kế toán trong
sổ kế toán chi tiết vật tư cung cấp cho nhà quản lý mức vật tư đã tiêu hao đồng thời cho
phép kiểm tra xem mức sử dụng như thế đã khớp với dự toán hay không? Hay nói cách
khác việc sử dụng có lãng phí không?
Một trong các bí quyết giúp các nhà quản lý kinh tế thành công trong việc lựa chọn
và ra các quyết định kinh doanh chính xác là sử dụng thông tin do kế toán cung cấp. Theo
quan điểm truyền thống xưa nay người ta thường so sánh giữa giá bán và giá thành của sản
phẩm. Trong đó nhân tố giá bán không do Doanh nghiệp định đoạt mà phụ thuộc vào quan
hệ cung cầu trên thị trường (trừ mặt hàng độc quyền). Bởi vậy các hoạt động kinh doanh,
các thương vụ nào đó có mức lợi nhuận cao theo cách so sánh trên thị trường không được
tính đến, thậm chí còn bị loại bỏ. Các nhà quản lý do vậy thường ra quyết định trên cơ sở
giá thành do kế toán cung cấp mà chi phí lại là cơ sở để tạo nên chỉ tiêu giá thành sản
phẩm. Vì vậy việc hạch toán chính xác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa
rất lớn đối với Doanh nghiệp, nếu không được tính đúng tính đủ chi phí sản xuất vào giá
thành sẽ có thể dẫn đến các quyết định kinh doanh sai lầm làm Doanh nghiệp chẳng những
bỏ lỡ mất thời cơ kinh doanh mà còn có thể đi đến phá sản. Đồng thời thực hiện tốt công
tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn là cơ sở để thực hiện giám đốc
các hoạt động, phát hiện và khắc phục kịp thời các tồn tại, phát hiện tiềm năng mới đảm
bảo cho Doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế tự hạch toán kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta.
Hơn nữa, XDCB là nghành sản xuất tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
quốc dân, hàng năm chiếm 30% vốn đầu tư của cả nước. Sản phẩm của ngành là những
công trình có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài nên có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Hiện
nay khối lượng công việc XDCB của ngành tăng nhanh và song song với nó là vốn đầu tư
XDCB cũng tăng nhanh. Vì vậy việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩ
m
xây lắp càng trở nên có ý nghĩa quan trọng góp phần đắc lực vào việc quản lý, sử dụng vốn
một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất
kinh doanh xây lắp qua nhiều khâu. Có thể nói hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm vốn đã là một phần hành cơ bản trong công tác kế toán lại càng có ý nghĩa quan
trọng đối với Doanh nghiệp xây lắp và xã hộ
i. Bên cạnh đó nó cũng là cơ sở để Nhà nước
kiểm soát vốn đầu tư XDCB và thu thuế.

b - Nhiệm vụ của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm:
Để thực hiện được mục tiêu phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất hạ giá thành sản
phẩm thì đơn vị kinh doanh xây lắp phải sử dụng vào sản xuất nhiều biện pháp khác
nhau. Đứng trên giác độ quản lý, cần phải biết nguồn gốc hay con đường hình thành của
nó, nội dung cấu thành của giá thành, để từ đó biết được nguyên nhân cơ bản nào, những
nhân tố cụ thể nào đã làm tăng hoặc giảm giá thành và chỉ có trên cơ sở đó, người quản lý
mới đề ra được biện pháp cần thiết để hạn chế loại trừ ảnh hưởng của nhân tố tiêu cực tác
động nên và phát huy được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tích cực, khai thác khả
năng, tiềm năng trong việc quản lý, sử dụng nguồn vật tư, lao động và tiền vốn. Một
trong những biện pháp quan trọng và không thể thiếu được, phải kể đến biện pháp quản


- 10 -
lý công cụ kế toán. Bởi vậy phải tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành mới
đảm bảo phát huy công dụng của công tác kế toán trong quản lý sản xuất. Do đó nhiệm
vụ chủ yếu của công tác kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp là: xác định chính xác đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành phù hợp với điều kiện thực tế của Doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra,
vận dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành một
cách khoa học, hợp lý.
Đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần thiết cho
công tác quản lý cụ thể là:
- Phản ảnh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí thực tế phát sinh cho từng đối
tượng.
- Kiểm tra tình hình chi phí về vật tư, lao động, chi phí sử dụng máy thi công và các
chi phí khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác
ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại mất mát hư hỏng trong sản xuất từ đó đề xuất các
biện pháp ngăn chặn và khắc phục kịp thời.
- Thực hiện phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất để có những kiến
nghị cho các nhà quản trị Doanh nghiệp ra các quyết định phù hợp.
- Tổ chức tập hợp phân bổ từng lọai chi phí sản xuất theo đúng đối tượng hạch toán
chi phí sản xuất đã xác định bằng phương pháp thích hợp, xác định đúng giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ.
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành theo đối tượng
thích hợp, tính đúng theo các khoản mục đã quy định và kỳ tính giá thành đã xác định.
- Thực hiện phân tích tình hình thực hiện giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản
phẩm, kịp thời có những biện pháp tích cực để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm.
II. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp kinh
doanh xây lắp:
1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và căn cứ xác định đối tượng hạch
toán:
Trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có thể
nói xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất vừa là công việc đầu tiên vừa
là công việc có tính chất định lượng cho toàn bộ khâu kế toán này.
Bởi vì, căn cứ vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất đã xác định, kế toán tiến
hành hạch toán chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan, xác định phương pháp
hạch toán chi phí sản xuất một cách hợp lý, đồng thời cung cấp số liệu để tính giá thành
sản phẩm chính xác, kịp thời.
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong kinh doanh xây lắp là phạm vi giới hạn
trong công tác tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp, nhằm phục vụ cho việc thông tin
kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm. Giới hạn tập hợp chi phí có thể là nơi phát
sinh chi phí, có thể là đối tượng chịu chi phí. Thực chất của việc xác định đối tượng tập
hợp chi phí là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí.
Căn cứ để xác định đối tượng chịu chi phí:
- Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp, liên tục
hay song song.
Trong sản xuất giản đơn, sản phẩm cuối cùng nhận được do quá trình chế biến liên
tục vật liệu. Đối tượng tập hợp chi phí có thể là sản phẩm hoàn thành hay toàn bộ quá trình
sản xuất. N
ếu tính chất sản xuất phức tạp, sản phẩm đạt được qua nhiều bước chế biến, đối
tượng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm hoặc các giai đoạn công nghệ
Loại hình sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàng loạt:
Đối với loại hình sản xuất đơn chiếc đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng sản
ph
ẩm còn với sản xuất hàng loạt được tập hợp riêng theo từng lô sản phẩm.
- Đặc điểm tổ chức sản xuất:


- 11 -
Nếu quá trình sản xuất được tổ chức theo từng đơn vị thi công (các đội xây dựng, tổ
xây dựng) chi phí sản xuất có thể được hạch toán theo từng đơn vị. Nếu không có việc
phân chia các bộ phận thi công, đối tượng hạch toán chi phí có thể là đối tượng chịu phí.
- Yêu cầu hạch toán chi phí và trình độ tổ chức hạch toán chi phí.
Dựa trên cơ sở trình độ và yêu cầu quản lý, kế toán tiến hành xác định đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất.Với trình độ quản lý cao đối tượng hạch toán chi phí được nhìn
nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Do đó có thể chi tiết đối tượng hạch toán chi phí và
nâng cao chất lượng thông tin kế toán. Ngược lại, với trình độ quản lý thấp hơn, đối tượng
hạch toán có thể bị hạn chế và thu hẹp. Điều đó ảnh hưởng không tốt tới vấn đề cung cấ
p
thông tin kế toán. Trong sản xuất kinh doanh xây lắp, với tính chất phức tạp của qui trình
công nghệ và loại hình sản xuất đơn chiếc quá trình sản xuất thường được phân chia thành
khu vực, bộ phận thi công các hạng mục khác nhau. Trong đó mỗi bộ phận có phương án
tổ chức khác nhau, mỗi hạng mục công trình có thiết kế, cấu tạo vật chất và giá thành dự
toán riêng. Do vậy, tuỳ vào từng công trình cụ thể, trình độ quản lý của từng doanh nghiệp
nhất định, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp có thể là hạng mục công
trình, đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn thành, bộ phận thi công. Thực tế ở các đơn vị
xây lắp chủ yếu tập hợp chi phí theo công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng.
Xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh
của đơn vị có ý nghĩa rất lớn giúp kế toán chi phí tổ chức hợp lý từ khâu hạch toán ban
đầu, tổ chức tài khoản và sổ sách chi tiết, tổ chức hạch toán theo đúng đối tượng xác định.
Các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Khái niệm: Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một hoặc một hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xu
ất phát sinh trong
giới hạn đối tượng hạch toán chi phí. Nói cách khác, phương pháp hạch toán chi phí được
hình thành trong sự phụ thuộc với đối tượng hạch toán chi phí. Với mỗi đối tượng cụ thể,
kế toán sẽ xác định phương pháp hạch toán thích hợp.
Trong đơn vị xây dựng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất thường được sử
dụng bao gồm:
- Phương pháp hạch toán theo công trình và hạng mục công trình: Phương pháp
này được sử dụng khi đối tượng hạch toán chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ công trình
hay từng hạng mục công trình. Hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh liên quan tới công
trình nào, kế toán tập hợp chi phí phát sinh cho công trình, hạng mục công trình đó theo
phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng: Trường hợp doanh
nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng riêng biệt, các chi phí phát sinh
liên quan tới đơn đặt hàng nào sẽ được phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng
hoàn thành tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn
thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
- Phương pháp hạch toán chi phí theo khối lượng công việc hoàn thành: Theo
phương pháp này toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ được tập hợp cho đối tượng chịu phí.
Giá thành thực tế của khối lượng công tác xây lắp hoàn thành là toàn bộ chi phí bỏ ra trong
giai đoạn thi công khối lượng công tác xây lắp đó.
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn vị hoặc theo khu vực thi
công: Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng hạch toán chi phí của Doanh nghiệp
xây lắp là các bộ phận, khu vực thi công. Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh
trong phạm vi các bộ phận, khu vực thi công được tập hợp cho các đối tượng chịu phí như
công trình, hạng mục công trình Cuối tháng tổng số chi phí phát sinh ở từng đơn vị chỉ
được so sánh với dự toán để xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ. Khi các công trình,
hạng mục công trình hoàn thành, kế toán tiến hành tính giá bằng các phương pháp thích
hợp.
Cho dù các doanh nghiệp xây lắp áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí nào,
trên thực tế, có một số chi phí phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng. Do vậy, nhiệm


- 12 -
vụ của kế toán chi phí sản xuất không chỉ là tập hợp trực tiếp chi phí liên quan đến một đối
tượng mà phải phân bổ các khoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý. Có thể sử
dụng các phương pháp phân bổ sau:
Việc phân bổ này được áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên
quan đến nhiều đối tượng mà không thể tổ chức hạch toán ban đầu một cách riêng lẻ. Để
thực hiện phương pháp này, kế toán cần phải lựa chọn tiêu thức phân bổ cho các đối tượng
chịu phí. Yêu cầu đối với tiêu thức là phải xác định mức độ ảnh hưởng tới các đối tượng
một cách rõ rệt. Các tiêu thức thường được sử dụng là: khối lượng công việc thực hiện, chi
phí nhân công trực tiếp, số giờ lao động, định mức chi phí.v.v.
Dựa vào các tiêu thức, quá trình phân bổ được tiến hành theo CT sau:
Ti
T
Trong đó: Ci: Chi phí phân bổ cho đối tượng i
C: Tổng chi phí tập hợp cần phân bổ
Ti: Tiêu thức phân bổ của đối tượng i
T: Tổng tiêu thức phân bổ
Trong một số trường hợp chi phí cần phân bổ nhỏ không ảnh hưởng đáng kể mà
việc xác định tiêu thức lại phức tạp người ta có thể áp dụng phương pháp chia đều để tiết
kiệm thời gian và công sức. Theo đó:
C
n
2. Hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung
khác nhau, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành cũng khác nhau. Việc
tập hợp chi phí được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá
thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời.Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung
và trong và trong doanh nghiệp xây lắp nói riêng, trình tự tổng hợp chi phí sản xuất bao
gồm các bước sau:
Bước 1: Tập hợp các chi phí sản xuất có liên quan đến từng đối tượng sử dụng.
Bước 2: Tính toán, phân bổ lao vụ của ngành sản xuất có liên quan cho từng đối tượng
sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ phục vụ.
Bước 3:
Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng có liên quan
theo tiêu thức phù hợp.
Bước 4:
Xác định thiệt hại thực trong sản xuất (thiệt hại sản phẩm hỏng, ngừng sản
xuất) tính vào chi phí sản xuất trong kỳ.
Trong chế độ kế toán hiện hành có hai phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là
hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm
kê định kỳ. Tuỳ theo đặc điểm, qui mô sản xuất kinh doanh của đơn vị mà kế toán có thể
áp dụng một trong hai phương pháp trên. Trong giới hạn của luận văn tốt nghiệp này, nếu
hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) thì chu trình
hạch toán như sau:
2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, nhiên liệu được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật
liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt
(công trình, hạng mục công trình ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp
vật liệu xuất dùng có liên quan tới nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch
toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các
đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là: phân bổ theo định mức
tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, khối lượng sản phẩm
Công thức phân bổ như sau:

Ci =
*C
Ci =
n: Tổng số đối tượng cần phân bổ


- 13 -
Tổng chi phí vật liệu
cần phân bổ
Chi phí vật
liệu phân bổ
cho từng
đối tượng

=

Tiêu thức phân
bổ
của từng
đối tượng

x
Tổng tiêu thức
phân bổ

Tài khoản sử dụng: Để tập hợp và phân bổ chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp"
TK này được mở chi tiết cho từng đối tượng và có kết cấu như sau:
Bên Nợ:
- Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp
trong kỳ hạch toán.
Bên Có:

- Trị giá NVL trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.
- Kết chuyển hoặc phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt
động xây lắp trong kỳ vào TK 154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” và chi tiết cho
các đối tượng để tính giá thành công trình xây lắp. TK 621 cuối kỳ không có số dư.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét