Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.2. Xuất khẩu cà phê đối với phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2.1. Đặc điểm của sản xuất kinh doanh cà phê
a. Nguồn gốc cây cà phê.
Cây cà phê được phát hiện một cách vô tình nhờ một anh chàng chăn dê tên
là Kaddi thuộc ngôi làng CaFa của đất nước Ethiopia, khi đàn dê của anh ta ăn
phải một loại quả màu đỏ (cà phê chín) và đêm đó đàn dê không ngủ mà quậy
phá suốt đêm . Vì thế nó được gọi là cây Cafa, về sau loại cây này được gọi
chệch đi là café, Coffee, hay cà phê như ngày nay.
b. Đặc điểm của sản xuất kinh doanh cà phê.
- Cà phê có tính thời vụ cao, đây chính là đặc điểm ảnh hưởng lớn nhất tới
kinh doanh cà phê. Ngay cả những nước sản xuất và kinh doanh cà phê lớn như
Braxin, Colombia cũng chịu tác động bởi đặc điểm này. Vào thời vụ thu hoạch
giá cà phê thường xuống thấp, còn vào giữa niên vụ giá cà phê thường tăng lên
do hàng bị khan hiếm. Chính vì lý do này mà các nước xuất khẩu cà phê nói
chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê nói riêng sẽ có lợi thế
hơn khi họ có đủ nguồn tài chính phục vụ cho việc dự trữ cà phê.
- Cà phê là cây công nghiệp dài ngày, có thời gian từ lúc đầu tư tới lúc khai
thác từ 3 tới 5 năm. Chính đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới những nhà sản
xuất, đặc biệt đại đa số là những người nông dân ở những nước sản xuất cà phê
có nguồn tài chính hạn chế thì vốn đầu tư ban đầu cho sản xuất cà phê của họ
chủ yếu là vay từ các ngân hàng. Mặt khác do thời gian khai thác đưa vào kinh
doanh dài nên khi thị trường cà phê có biến động theo chiều có lợi thì những
người trồng cà phê khó có thể nắm bắt cơ hội ngay được. Còn khi đưa vào kinh
doanh được thì thị trường cà phê lại có những biến chuyển bất lợi khác.
- Sản xuất cà phê chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết, tự nhiên.
Những năm do hạn hán, lũ lụt thì cà phê bị mất mùa làm ảnh hưởng lớn tới thị
trường cà phê thế giới và làm đảo lộn nhiều dự đoán của các chuyên gia, cũng
như kế hoạch của các quốc gia và các công ty kinh doanh cà phê, đặc biệt là đối
với những quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới như Braxin, Việt Nam.
- Kinh doanh cà phê có tính rủi ro cao, đặc biệt là các hình thức kinh doanh
về hợp đồng tương lai, giá trừ lùi…
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.2.2. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với kinh tế, xã hội Việt Nam.
a. Đối với nền kinh tế, xã hội và môi trường.
- Xuất khẩu cà phê mỗi năm đem về cho nền kinh tế chúng ta một lượng
ngoại tệ lớn, khoảng 500 triệu USD. Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào
việc thực hiện mục tiêu của chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu
phát triển chiến lược kinh tế xã hội nói chung của đất nước. Mặt khác xuất khẩu
cà phê còn góp phần giúp tạo vốn cho đầu tư máy móc trang thiết bị cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
- Là một ngành sử dụng nhiều lao động, xuất khẩu cà phê góp phần tạo ra
nhiều công ăn việc làm, giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp cho nền kinh tế. Theo
Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) thì mỗi năm ngành cà phê thu hút
khoảng 600.000 – 700.000 lao động, thậm chí trong ba tháng thu hoạch số lao
động có thể lên tới 800.000 lao động. Lao động làm việc trong ngành cà phê
chiếm khoảng 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp và chiếm 1,83%
tổng số lao động trên toàn nền kinh tế quốc dân.
- Mặt khác khi xác định cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì sẽ giúp
Nhà nước hoạch định các chính sách như đầu tư, quy hoạch vùng một cách có
trọng điểm, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao trong phát triển kinh tế.
- Cà phê không chỉ là cây có giá trị kinh tế cao, mà trồng cà phê còn giúp
thực hiện phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái. Vì cây cà
phê thích hợp với những vùng đất đồi, đặc biệt là cây cà phê Robusta.
b. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến xuất khẩu cà phê.
- Xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, thu được
ngoại tệ để đầu tư mua máy móc thiết bị mở rộng và nâng cao sản xuất từ đó
tăng lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động của mình.
- Tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp chuyên doanh về cà phê nâng cao được uy tín hình ảnh của
đơn vị trong con mắt các bạn hàng và trên thị trường thế giới từ đó tạo ra cho
doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động mở rộng thị
trường tăng thị phần và lợi nhuận.
- Với những doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp, việc kinh doanh xuất khẩu
cà phê giúp doanh nghiệp có thêm mặt hàng để lựa chọn trong kinh doanh, từ đó
lựa chọn được mặt hàng kinh doanh có hiệu quả tăng lợi nhuận uy tín.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
c. Với người sản xuất cà phê.
- Cà phê là sản phẩm trong nước có nhu cầu không cao do thói quen tiêu
dùng của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng thích uống trà
hơn cà phê. Vì vậy xuất khẩu cà phê sẽ tìm được đầu ra cho sản phẩm của người
nông dân trồng cà phê, giúp họ tiêu thụ được sản phẩm của mình và có thu nhập.
- Cà phê là một cây trồng rất thích hợp với điều kiện thời tiết và thổ
nhưỡng của Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Cà
phê là một loại cây có giá trị kinh tế cao nên việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp người
nông dân trồng cà phê làm giàu trên chính mảnh đất của mình.
- Ngoài ra việc trồng cà phê xuất khẩu giúp họ giải tạo ra việc làm cho
người nhà trong thời buổi nông nhàn. Bên cạnh đó việc xuất khẩu cà phê còn
giúp cho người nông dân trồng cà phê được Nhà nước cũng như doanh nghiệp
đầu tư vật tư, giống và kỹ thuật chăm sóc sẽ làm cho họ nâng cao năng xuất lao
động, cây trồng và chất lượng sản phẩm qua đó tăng thu nhập cho chính họ.
1.1.2.3. Lợi thế và bất lợi thế của xuất khẩu cà phê Việt Nam.
a. Lợi thế.
- Cà phê Việt Nam có hương vị đặc thù với giá rẻ hơn so với cà phê cùng
loại của các nước. Bên cạnh đó cà phê Việt Nam được các nhà rang xay trên thế
giới đánh giá cao là dễ chế biến, đặc biệt là chế biến cà phê dùng ngay.
- Là mặt hàng xuất khẩu chiến lược nên được Nhà nước ưu đãi thông qua
các chính sách về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại cũng
như các hỗ trợ khác trong nghiên cứu và phát triển.
- Nhu cầu cà phê thế giới là không ngừng tăng lên, đặc biệt là sự thay đổi
tập quán và thói quen tiêu dùng của người Á Đông trong đó phải kể đến người
tiêu dùng Nhật Bản và Trung Quốc, hai quốc gia gần với chúng ta và có thị
trường rộng lớn. Bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng cà phê của Châu Âu và Bắc Mỹ
cũng không ngừng tăng.
- Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam và việc hai nước
ký hiệp định thương mại song phương (7/2000) là một lợi thế cho việc xuất khẩu
cà phê Việt Nam đặc biệt là vào thị trường chiếm thị phần cà phê thế giới lớn
như Hoa Kỳ. Giờ đây khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO
thì cà phê xuất khẩu của chúng ta càng có nhiều lợi thế hơn nữa.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
b. Những bất lợi thế.
- Chất lượng cà phê xuất khẩu của chúng ta thấp và không đồng đều, đây là
một bất lợi lớn của cà phê xuất khẩu Vịêt Nam. Đây cũng chính là nguyên nhân
khiến cho cà phê xuất khẩu Việt Nam thấp và có sự chênh lệch lớn với giá cà
phê thế giới và với Indonesia.
- Tình trạng cung vượt quá cầu trên thị trường cà phê thế giới trong những
năm qua cũng làm cho cà phê xuất khẩu Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.
- Thể thức mua bán phức tạp của chúng ta cũng góp phần tạo nên bất lợi
cho cà phê Việt Nam. Việc các nhà nhập khẩu than phiền về cách thức mua cà
phê của họ ở Việt Nam tốn thời gian. Họ phải đến tận nhà xuất khẩu để đàm
phán xem xét chất lượng cũng như các cam kết thời hạn, quá tốn kém thời gian.
Trong khi với cách thức mua bán trên các sở giao dịch thì họ chỉ mất vài giờ.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ THỰC TRẠNG XUẤT
KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ.
2.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1.1. Khái quát về ngành cà phê Việt Nam.
Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm
1870. Năm 1930 chúng ta đã có 5.900 ha diện tích trồng cà phê và đến những
năm 1960 –1970 chúng ta đã phát triển một số nông trường quốc doanh về cà
phê ở các tỉnh phía Bắc. Đặc biệt ở trong khoảng thời gian này thì vào năm 1964
– 1967 chúng ta có được diện tích trồng cà phê lớn nhất là 13.000 ha.
Đến nay ngành cà phê Việt Nam có khoảng 500.000 ha diện tích trồng cà
phê với sản lượng trên 80 vạn tấn, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước (gồm cả
các doanh nghiệp trung ương và địa phương) chỉ nắm giữ khoảng 10 –15% diện
tích còn 80 – 85% diện tích còn lại nằm trong tay ngư ời nông dân hoặc các hộ
gia đình hay các chủ trang trại nhỏ.
Sau năm 1975 cà phê Việt Nam phát triển mạnh ở các tỉnh Tây Nguyên
nhờ các hiệp định hợp tác liên chính phủ với Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức,
Bungari, Tiệp Khắc và Ba Lan. Nhưng có thể nói chỉ có ít xưởng cũ kỹ và chắp
vá do Cộng hóa dân chủ Đức lắp ráp từ những năm 1960. Tuy nhiên trong
những năm gần đây ngành cà phê Việt Nam đã có được các công ty và các cơ sở
chế biến được lắp ráp các trang thiết bị máy móc mới, đảm bảo chế biến được
150.000 – 200.000 tấn cà phê nhân xuất khẩu.
Hiện nay, cà phê chủ yếu của Việt Nam là cà phê vối và phương pháp chế
biến chủ yếu là bằng phương pháp khô nên chất lượng và giá trị không cao.
Ngành cà phê Việt Nam hiện nay có Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam với tên
viết tắt là Vicofa với 78 thành viên. Trong đó Tổng công ty cà phê Việt Nam là
thành viên lớn nhất và cũng như của ngành cà phê Việt Nam hiện nay.
Toàn ngành cà phê Việt Nam hiện nay có khoảng gần 200 đơn vị tham gia
xuất khẩu cà phê trong đó có 78 đơn vị là thành viên của Vicofa. Mỗi năm toàn
ngành cà phê xuất khẩu khoảng 850.000 tấn/năm với giá trị khoảng trên một tỷ
USD và thu hút bình quân 600.000 lao động mỗi năm.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.1.2. Thị trường xuất khẩu của cà phê Việt Nam.
Cùng với sự mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, thị trường của cà phê
xuất khẩu Việt Nam cũng được mở rộng. Tính đến năm 2008 cà phê Việt Nam
đã xuất khẩu sang khoảng 75 nước trên thế giới, gồm 65 hãng. Nhưng thị trường
chính của cà phê xuất khẩu Việt Nam tập chung chủ yếu vào mười thị trường
chính. Trong đó EU là thị trường lớn nhất của cà phê Việt Nam, sau đó là Hoa
Kỳ và các nước Châu Á.
Trong mười thị trường chính của cà phê xuất khẩu Việt Nam thì các nước
Châu Âu chiếm tỷ trọng cao nhất và ổn định nhất. Thị trường này chiếm từ 14-
16% thị phần cà phê xuất khẩu Việt Nam mỗi năm. Thị trường Bắc Mỹ thì cà
phê của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, đây cũng là thị
trường lớn thứ hai của cà phê Việt Nam, với tỷ trọng chiếm từ 11-15% mỗi năm.
Các thị trường khác của cà phê xuất khẩu Việt Nam là thị trường các nước Châu
Á. Tuy nhiên các thị trường này có mức ổn định không cao.
2.1.3. Kết quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua.
2.1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu.
Những năm trước đây cà phê là một ngành nhỏ có đóng góp khá kiếm tốn
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm gần
đây nó đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim
ngạch lên tới 500 triệu USD lần đầu tiên vào năm 1995 và cho đến nay hàng
năm kim ngạch xuất khẩu cà phê trung bình hàng năm vẫn giữ ở khoảng 700
triệu USD/năm.Từ năm 2006 đã đạt trên 1 tỷ USD,
Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam thời kỳ 2003 – 2007
Năm số lượng
(Tấn)
Tốc độ
tăng (%)
Giá cả trung
bình (USD)
Giá trị (USD) Tốc độ
tăng
(%)
2003 749.240 - 635,59 504.814.000 -
2004 974.759 30 657,59 641.022.000 26,98
2005 892.367 -8,45 824,19 735.485.686 14,73
2006 980.878 9,91 1240,89 1.217.167.000 65,49
2007 1.074.000 9,49 1529.79 1.643.000.000 34,98
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua bảng số liệu trên ta thấy xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai
đoạn này có mức độ tăng cả vè số lượng và giá cả. Trung bình tăng 7,47%/năm
về số lượng và 9,66%/năm về giá trị. Chỉ có niên vụ 2005-2006 sản lượng xuất
khẩu giảm 8,45% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng 14,75% do giá trung bình của
thế giới tăng. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng tốc độ tăng không ổn định cả
về số lượng xuất khẩu và cả giá trị xuất khẩu qua các từng năm.
2.1.3.2. Giá cả.
Giá cà phê trên thị trường thế giới diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là cà phê
vối, cà phê chè có gía ổn định hơn rất nhiều. Nếu như trước đây giá cà phê chè
chỉ cao hơn cà phê vối 0,5 lần thì hiện nay nó đã cao gấp 2 lần. Trong khi cà phê
vối giá giảm mạnh thì cà phê chè lại tăng có khi lên tới 1800 – 2000 USD/tấn.
Nguyên nhân chính đó là các nước sản xuất cà phê vối chưa có được chiến lược
phát triển bền vững, mà Việt Nam là một minh chứng.
Bảng 2.2: Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam (USD/tấn).
Năm 2004 2005 2006 2007
Giá cà phê thế Giới 768 551,3 1335 1718
Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam 685,4 824,81 1260,8 1605
Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam
2.1.3.3. Cơ cấu và chủng loại.
Như đã nêu ở phần trên, cà phê của Việt Nam chủ yếu là cà phê vối. Mặt
khác chúng ta xuất khẩu chủ yếu là cà phê nhân, cà phê chế biến theo giá trị chỉ
chiếm khoảng 0,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cà phê Việt Nam.
Bảng 2.3: Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Cơ cấu Niên vụ 2005/2006 Niên vụ 2006/2007
Sản lượng
(tấn)
Tỷ trọng
(%)
Sản lượng
(tấn)
Tỷ
trọng(%)
Cà phê nhân 785.146,773 99,8889 975.973 99,5
Cà phê hòa tan 869,705 0,11 4906,30 0,49
Khác 8,890 0,0011 98,087 0,01
Tổng 786.025,368 980.878
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khối lượng xuất khẩu cà phê thành phẩm chỉ chiếm không đến 0,5% trong
tổng khối lượng xuất khẩu của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên nó có giá trị cao hơn
nên giá bán cũng cao hơn nhiều so với cà phê nhân nên giá trị kim ngạch của nó
chiếm tới gần 2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam. Qua
đây ta thấy rằng việc tăng tỷ trọng cà phê chế biến trong cơ cấu xuất khẩu cà phê
của Việt Nam là rất cần thiết. Tuy nhiên hiện nay cả nước chỉ có một số ít các cơ
sở sản xuất chế biến cà phê thành phẩm xuất khẩu, trong đó đáng kể chỉ có Nhà
máy chế biến cà phê Biên Hòa của Vinacafe và doanh nghiệp cà phê Trung
Nguyên, một nhà máy của Nestle.
2.2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ SANG THỊ TRƯỜNG
HOA KỲ.
2.2.1. Đặc điểm thị trường Hoa kỳ về cà phê.
2.2.1.1. Tình hình tiêu thụ.
Hoa Kỳ là nước tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới Người Mỹ
uống cà phê như người Việt Nam uống chè. Hoa Kỳ không trồng cà phê nên tất cả
cà phê tiêu dùng ở Hoa Kỳ kể cả cà phê nguyên liệu đều từ nguồn nhập khẩu. Nhu
cầu nhập khẩu cà phê của nước này tương đối ổn định mỗi năm trên 1 triệu tấn.
Tuy nhiên, do giá cà phê thế giới thường biến động nên trị giá nhập khẩu cũng
thường biến động theo. Theo Hiệp hội cà phê Mỹ (NCA) số người tiêu dùng cà phê
của Mỹ không ngừng tăng lên, năm 2003 là 118 triệu người, đến năm 2007 đã lên
tới 170 triệu người. Còn theo dự điều tra của NCA và FAO thì trung bình một
người dân Hoa Kỳ tiêu uống 2 cốc cà phê mỗi ngày tương đương với 4- 5 kg/năm
(năm 2007 là 4,26 kg/người). Giai đoạn 2003- 2007 mức tiêu thụ là 4,1
kg/người/năm thấp hơn giai đoạn 1997- 2002 (4,35 kg/người/năm).
Bảng 2.4:
Trị giá nhập khẩu cà phê vào Hoa Kỳ
Năm
Trị giá (tỷ USD) % so với năm trước
2001 1,515 _
2002 1,524 100,59
2003 1,776 116,53
2004 2,064 116,21
2005 2,775 134,44
Nguồn: Vụ quy hoạch - kế hoạch. Bộ NN&PTNT
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhu cầu tiêu dùng cà phê của thị trường Hoa kỳ vẫn tăng lên trong
những năm vừa qua. Nếu so sánh với lượng tiêu thụ của các thị trường khác như
EU và Châu Á thì ta thấy. Năm 2001 tiêu thụ cà phê của EU là 2340000 tấn còn
Châu Á là 630000 tấn, năm 2003 tương ưng là 2505000 tấn và 756000 tấn. Như
vậy Hoa kỳ vẫn là một thị trường tiêu thụ cà phê lớn của thế giới. Cùng với dân
số và nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu của người dân Mỹ về hàng hóa nói chung
và với cà phê nói riêng sẽ tăng lên.
2.2.1.2. Cung cà phê trên thị trường Hoa kỳ.
Hoa kỳ là một thị trường hấp dẫn đối với bất kỳ một quốc gia nào. Có thể
nói thị trường Hoa Kỳ chấp nhận mọi loại hàng hóa. Chính vì vậy các quốc gia
đều thúc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của mình vào thị trường này nếu có thể.
Cà phê là mặt hàng mà được người dân Mỹ sử dụng nhiều và nó như là một loại
đồ uống thông dụng ở đây giống như trà ở Nhật Bản. Mặt khác ở Mỹ còn có
trung tâm giao dịch cà phê lớn của thế giới, đó là trung tâm giao dịch cà phê
NewYork. Vì vậy có rất nhiều nước xuất khẩu cà phê vào thị trường Hoa Kỳ,
trong đó phải kể đến các quốc gia như Colombia 17%, Việt Nam 14%, Braxin
15%, Guatemala 11%, Mehico 10%, Indonesia 9%…Như vậy cà phê Việt Nam
có một vai trò lớn trên thị trường cà phê của Hoa kỳ. Tuy có nhiều quốc gia xuất
khẩu cà phê vào Hoa Kỳ nhưng không phải tất cả chúng cạnh tranh với nhau mà
thường các quốc gia này cạnh tranh với những sản phẩm cùng loại với nhau.
Như Việt Nam, chúng ta không phải cạnh tranh với tất cả các quốc gia trên mà
chủ yếu là cạnh tranh với Indonesia, Braxin và một số nước Châu Phi khác.
2.2.2. Thực trạng xuất khẩu cà phê sang thị trường Hoa Kỳ.
2.2.2.1. Kim ngạch và số lượng.
Trước đây cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ đều phải qua
các trung gian như Singapo hay HongKong, đặc biệt là Singapo. Tuy nhiên kể từ
sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam thì các khách hàng Mỹ
đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Điều này làm cho xuất khẩu cà phê Việt
Nam có bước phát triển rất nhanh chóng, chỉ sau một năm họ trở thành khách
hàng lớn nhất của cà phê Việt Nam với lượng mua hàng năm khoảng 25% lượng
cà phê của Việt Nam.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ.
Năm Khối lượng
(1000 tấn)
% tăng so
với năm
trước
Giá xuất khẩu
bình quân
(USD/tấn)
Giá trị
(triệu USD)
% tốc độ
tăng so
năm trước
2000 231,33 _ 756 163,67 _
2001 291,43 125,98 436 127,00 77,6
2002 237,9 81,63 368 87,67 69,03
2003 250,0 105,09 427 106,87 121,9
2004 261,82 104,73 610,5 159,84 149,56
Nguồn: Bộ NN&PTNT
Qua bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy rằng kim ngạch xuất khẩu cà
phê của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn này nhìn chung là
tăng tuy không cao. Trung bình trong giai đoạn này tốc độ tăng của sản lượng
xuất khẩu là 4,36%/năm, trong khi giá trị tăng 4,52%/năm. Tuy nhiên trong năm
2001 và 2002 giá trị xuất khẩu giảm mạnh. Nguyên nhân chính là do giá cà phê
thế giới giảm mạnh và do cà phê Việt Nam bị mất mùa. Trong năm 2005 theo
dự báo ban đầu thì sản lượng cà phê thế giới vẫn cao hơn nhu cầu. Tuy nhiên,
sang đầu năm 2005 thì hạn hán diễn ra tại các nước Châu Á và Braxin làm cho
sản lượng cà phê thế giới giảm. Đây chính là nguyên nhân làm cho giá cà phê
thế giới tăng mạnh, giá cà phê Robusta lên tới hơn 1.000 USD/tấn, trong khi đó
giá cà phê trong nước tăng lên trên 15.000 đồng/kg, thậm chí có khi lên tới
20.000 đồng/kg. Nhưng các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam lại ký trước các hợp
đồng từ vụ trước với các nhà nhập khẩu cà phê Hoa Kỳ nên đến lúc giao hàng
thì các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước không có đủ hàng để giao, hoặc phải
mua hàng với giá cao để giao cho khách hàng. Vì vậy xuất khẩu cà phê Việt
Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong năm 2005 vẫn gặp nhiều khó khăn.
2.2.2.2. Chất lượng và giá cả.
Không những cà phê xuất khẩu của chúng ta chủ yếu là cà phê nhân, mà cà
phê nhân xuất khẩu của chúng ta có chất lượng cũng không được tốt. Việc phân
chia chất lượng cà phê dựa theo tiêu chuẩn về độ ẩm, tạp chất, hạt vỡ và kích cỡ
hạt. Dựa vào tiêu chuẩn này thì cà phê loại R (Robusta) là có chất lượng nhất,
sau đó đến các loại R2A, R2B. Trước đây cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ là
loại cà phê R2B, đến nay loại cà phê này gần như là không còn trong cơ cấu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét