Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

TÌM HIỂU PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ TRONG TIẾNG VIỆT


ngữ nghĩa giữa hai thành tố vốn xa lạ với nhau. Sở dĩ ta liên tưởng được là nhờ
một nghĩa vị chung nào đó vốn có trong bản chất của hai thành tố hoặc được gán
ghép vào từ ngoài trong một tình huống nhất định.
Ở một góc nhìn khác, ít nhiều liên quan đến hiện tượng chuyển nghĩa của
từ, có một loạt bài [111], [112], [113] và công trình [114] của Nguyễn Đức Tồn.
Trong đó, công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của
ngôn ngữ và tư
duy của người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) [114] đã đi sâu
nghiên cứu vấn đề chuyển nghĩa theo hướng lý thuyết tâm lý - ngôn ngữ học tộc
người. Khi so sánh với cách liên tưởng của người Nga, người Anh… đồng thời
thông qua việc tìm hiểu đặc điểm dân tộc của việc định danh động vật, định danh
thực vật, định danh bộ phận cơ thể người của người Việt, thông qua những nội
dung về đặc điểm n
gữ nghĩa của trường tên gọi động vật, trường tên gọi thực vật,
ngữ nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể người, ông đã chỉ ra đặc điểm tư duy liên
tưởng của người Việt.
Trong những năm gần đây, trên thế giới lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận
phát triển mạnh; đi theo hướng nghiên cứu này,
ở Việt Nam gần đây cũng có
không ít bài báo và công trình. Những khảo cứu theo hướng đi này đã gợi mở ít
nhiều cho việc nghiên cứu vấn đề liên tưởng, chuyển nghĩa. Năm 1994, Lý Toàn
Thắng trong [99] đã cho ta một cái nhìn khái quát phương hướng nghiên cứu
phạm trù không gian trong tiếng Việt như: định hướng không gian, bản đồ tri
nhận không gian. Qua đó,
mô hình không gian và cách tri nhận không gian của
người Việt Nam được trình bày rõ ràng. Năm 1998, Nguyễn Ngọc Thanh [98]
khẳng định rằng ẩn dụ là một cơ chế tri nhận đi từ cụ thể đến trừu tượng. Cơ chế
tri nhận này giúp ta hiểu thêm được khái niệm trừu tượng thời gian bằng các hình
ảnh cụ thể trong thế giới khách quan. Năm 2001, cũng Lý Toàn Thắng [100] nêu
lên cái cách thức mà người Việt dùng các loại từ để mô
tả các thuộc tính không
gian của vật thể và từ đó xếp loại chúng. Căn cứ vào đó ta có thể suy đoán về
một cách thức riêng của tiếng Việt trong việc ý niệm hóa phân loại và mô tả thế
giới khách quan. Đây là một vấn đề đang thu hút sự chú ý của trào lưu ngôn ngữ


học tri nhận trên thế giới. Chắc rằng vấn đề này cũng liên quan không ít đến vấn
đề chuyển nghĩa nói chung, vấn đề liên tưởng ẩn dụ nói riêng.
Nhìn chung, vấn đề ẩn dụ được nghiên cứu không ít, nhưng chưa có công
trình nào khảo sát nó trong các tác phẩm văn học, xét trên trục thời gian, để phát
hiện những đặc điểm kế thừa, những đặc điểm sáng tạo của từng tác giả.
3. Phạm vi
vấn đề nghiên cứu và mục đích của luận văn
3.1. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ nói chung cũng như phương thức ẩn dụ
nói riêng biểu hiện vô cùng sinh động, không dễ gì nắm bắt hết được. Thêm vào
đó, luận văn lại được định hướng là xem xét phương thức liên tưởng này trong sự
phát triển của việc sử dụng ngôn từ, cho nên vấn đề lại càng rộng. Để có thể thực
hiện được mục đích của m
ình trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ (cả về số lượng
trang, cả về thời lượng), trong những điều kiện hạn hẹp của bản thân học viên
(kiến thức về ngôn ngữ học, nhất là ngôn ngữ học hiện đại chưa rộng, chưa sâu),
người viết luận văn xin đư
ợc hạn chế vấn đề trong khuôn khổ sau đây:
- Xem xét ẩn dụ tu từ (còn gọi là ẩn dụ phong cách; hay ẩn dụ hình tượng,
như cách gọi của Đinh Trọng Lạc [57] );
- Khảo sát vấn đề trong ca dao trữ tình và thơ trữ tình;
- Chỉ khảo sát trong 3 tác phẩm cụ thể (sẽ được nêu ở phần nguồn tư liệu
nghiên cứu ở mục 0.4.2.).
3.2. Mục đích chính của luận văn là tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa, mà
cụ thể là phương thức ẩn dụ.
Cho nên người thực hiện luận văn không đi vào
những vấn đề có tính chất tranh luận như khái niệm từ trong tiếng Việt, vấn đề
phân loại cấu tạo từ của tiếng Việt. Để thực hiện được mục đích chính của mình,
người viết chỉ xin chọn một giải phá
p nào tương đối dễ nhận diện từ đối với mọi
người, nhất là đối với học sinh phổ thông.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Người viết luận văn có nhiệm vụ phải trả lời các câu hỏi sau đây:
1./ Những từ ngữ nào trong ba tác phẩm nêu trên đã tham gia vào việc thực
hiện phương thức liên tưởng ẩn dụ?


2./ Những hình ảnh nào được các tác giả (dân gian, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh)
lấy làm cơ sở để thực hiện phương thức liên tưởng ẩn dụ?
3./ Các tác giả Xuân Diệu và Xuân Quỳnh có kế thừa phương thức ẩn dụ của
ca dao hay không? Họ tiếp thu nguyên mẫu hay vừa tiếp thu vừa sáng tạo?
4./ Xuân Quỳnh có kế thừa liên tưởng ẩn dụ của Xuân Diệu hay không?
5./ Những ẩn dụ nào là hoàn toàn của riêng Xuân Diệu, của riêng Xuân
Quỳnh?
5. N
guồn tư liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu được chọn để khảo sát phương thức ẩn dụ tu từ trong tiếng
Việt là 3 tác phẩm cụ thể sau đây:
- Ca dao trữ tình chọn lọc (1998) - Nxb Giáo dục (Vũ Thúy Anh, Vũ Quang
Hào sưu tầm và tuyển chọn).
- Thơ tình Xuân Diệu (1983) - Nxb Đồng Nai (Kiều Văn tuyển chọn và giới
thiệu).
- Xuân Quỳnh t
hơ tình - Nxb Văn học
Chúng tôi chọn mảng đề tài trữ tình, vì nghĩ rằng trong phạm vi này phương
thức ẩn dụ tu từ có khả năng xuất hiện nhiều. Còn ca dao được chọn làm xuất
phát điểm vì tính chất cổ xưa của nó, và còn vì đó là nơi đúc kết các biến tấu của
ngôn từ dân gian. Nếu xuất phát điểm là ca dao, chúng tôi tin rằng có thể tìm thấy
những điểm kế thừa cũng như s
áng tạo của những thế hệ nối tiếp. Xuân Diệu rồi
Xuân Quỳnh là hai trong những người nối tiếp trên trục thời gian. Tuy giữa họ về
tính thời đại không hoàn toàn trùng khít nhau, về giới tính khác nhau, những rung
động trong tâm hồn không như nhau, nhưng, trước hết, họ đều là những tác giả
của nhiều bài thơ tình nổi tiếng, và về mặt sử dụng ngôn từ cũng như sử dụng
hình ảnh có chỗ nào đó gần nha
u giữa họ.


5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Người thực hiện luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa
học nói chung, mang tính phương pháp luận, như: quan sát, thống kê, phân loại,
miêu tả, so sánh. Trong đó phương pháp thống kê được tiến hành cẩn thận, có
cân nhắc qua 3 tác phẩm thuộc nguồn tư liệu nghiên cứu. Phương pháp so sánh
cũng được vận dụng để thực hiện các bước so sánh sau: 1/- so sánh Ca dao trữ
tình và Thơ tình Xuân Diệu; so sánh Ca dao trữ tình và Xuân Quỳnh thơ tình; so
sánh Thơ tình Xuân Diệu và Xuân Quỳnh thơ tình; 2/- so sánh C
a dao trữ tình -
Thơ tình Xuân Diệu - Xuân Quỳnh thơ tình.
5.2.2. Người thực hiện luận văn còn vận dụng phương pháp phân tích ngữ
nghĩa của từ, xem xét từ ngữ trong văn cảnh, ngữ cảnh; nhưng không nhằm trình
bày cấu trúc ngữ nghĩa của từ. Các thao tác phân tích ngữ nghĩa của từ và việc
phát hiện cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị
của người viết. Tuy là vậy nhưng việc làm
này vô cùng quan trọng đối với người
viết, vì kết quả mà nó đưa lại tạo cơ sở cho người viết phát hiện các đường dây
liên tưởng thuộc ẩn dụ. Những phát hiện cuối cùng này mới phục vụ cho mục
đích của luận văn. Do đó, có thể nói, việc vận dụng phương phá
p phân tích ngữ
nghĩa của từ nhằm phát hiện các liên tưởng ẩn dụ; luận văn chỉ trình bày các liên
tưởng ẩn dụ.
5.2.3. Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Để kiểm tra lại những phát hiện về các liên tưởng ẩn dụ có trong ba tác phẩm
nêu trên, người viết đã thực hiện phương pháp trắc nghiệm. Đối tượng được trắc
nghiệm là học sinh phổ t
hông trung học tại địa bàn người thực hiện luận văn
đang giảng dạy. Đây là đối tượng thích hợp vì các em có một trình độ kiến thức
văn học tương đối; đối với các tác phẩm nêu trên, các em đã và đang học; ngoài
ra, tuổi đời của các em đủ để hiểu những khuất chiết trong tâm hồn của con
người.


6. Ý nghĩa của đề tài và những đóng góp của luận văn
6.1. Về lý thuyết, việc nghiên cứu đề tài này giúp các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ cũng như văn học hiểu rõ hơn cơ chế liên tưởng ẩn dụ trong ca dao cũng như
trong thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. Những kết quả của luận văn có thể góp
phần nào đó vào việc phát hiện và xây dựng phong cách ngôn ngữ của hai tác giả
thơ nê
u trên; tạo tiền đề cho việc xây dựng từ điển tác giả văn học.
6.2. Về thực tiễn, nếu luận văn được thực hiện tốt, những kết quả của nó có
thể vận dụng vào giảng dạy ngữ văn ở các cấp học. Đối với giáo viên, nó sẽ là tài
liệu tham khảo tốt. Đối với người học, nó sẽ giúp họ hiểu r
õ hơn cơ chế liên
tưởng ẩn dụ trong ba tác phẩm đã nêu, giúp họ cảm nhận tốt ý đồ nghệ thuật của
các tác giả.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, giải thích, phụ lục và tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát phương thức liên tưởng ẩn dụ trong Ca dao trữ tình,
Thơ tình Xuân Diệu và Xuân Quỳnh t
hơ tình
Chương 3: So sánh cơ chế liên tưởng ẩn dụ từ Ca dao trữ tình đến Thơ tình
Xuân Diệu và Xuân Quỳnh thơ tình












Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm từ trong tiếng Việt
Để có thể thuận tiện hơn cho công việc khảo sát từ ngữ tham gia vào việc
thực hiện các liên tưởng ẩn dụ trong ba tác phẩm đã nêu, chúng tôi chấp nhận
quan niệm về từ của Nguyễn Thiện Giáp [32, tr.69]. Theo quan niệm này, từ
tiếng Việt có vỏ ngữ âm là một âm tiết, trên chữ viết được thể hiện bằng một
khối viết liền (Cũng có nghĩa là mỗi từ đư
ợc cấu tạo bởi một tiếng). Nếu xét ở
góc độ phân biệt những hiện tượng trung tâm (vốn từ vựng cơ bản) và những
hiện tượng ngoại biên (từ vay mượn, nhất là bằng cách phiên âm; trường hợp: bù
nhìn, bồ hóng,…, với số lượng rất ít ỏi; kể cả trường hợp thường gọi là “từ láy”),
có lẽ, quan niệm này phản ánh được diện mạo vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt.
So với những ngôn ngữ như Phá
p, Nga… thì số lượng từ có vỏ ngữ âm là một
âm tiết trong tiếng Việt rất lớn. Lại nữa, nếu chấp nhận trong tiếng Việt có từ
ghép như các ngôn ngữ đã nêu, thì rất nhiều trường hợp ranh giới giữa từ ghép và
các tổ hợp từ không rõ ràng (như các trường hợp: hoa hồng, áo dài, nhà trẻ…).
Thêm vào đó, trong các ngôn ngữ, hiện tượng chuyển nghĩa của từ thường xảy ra
ở những đơn vị c
ó kích cỡ ngắn nhất. Bởi những lý do ấy mà chúng tôi tạm chấp
nhận giải pháp của Nguyễn Thiện Giáp để tiện cho việc triển khai đề tài.
1.2. Những vấn đề về ngữ dụng học
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi không thể không đụng chạm đến một số
vấn đề thuộc lý thuyết ngữ dụng như: nhâ
n tố giao tiếp, chiếu vật và chỉ xuất, ý
nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh (hiển ngôn). Về những vấn đề này chúng tôi
xin lĩnh hội cách trình bày của giáo sư Đỗ Hữu Châu [14; tr.4-19],
[15; tr.96-156], [11; tr.359- 414].
1.2.1. Nhân tố giao tiếp: Nhân tố giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm ngữ cảnh,
ngôn ngữ và diễn ngôn.


Ngữ cảnh bao gồm đối ngôn, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường, ngữ huống.
Đối ngôn
còn gọi là người tham gia giao tiếp. Họ phải ở trong trạng thái tinh thần
lành mạnh và có sự phân vai giao tiếp trong một cuộc thoại. Vì rằng giao tiếp là
tương tác cho nên vai giao tiếp còn gọi là vai tương tác (bao gồm vai nói, vai
nghe; còn gọi là vai phát, vai nhận). Khi giao tiếp mặt đối mặt giữa các đối ngôn
thì có sự luân phiên vai tương tác, ví dụ cuộc giao tiếp trong bài ca dao
1
sau:
- Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng có lối, ai vào hay chưa?
- Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào. (54)
Song cũng có những cuộc giao tiếp chỉ có một đối ngôn phát, còn đối ngôn
kia nhận là chủ yếu, chẳng hạn bài ca dao sau đây:
Em còn bé dại thơ ngây,
Mẹ cha ép uổng từ ngày thiếu niên.
Cho nên duyên chẳng vừa duyên,
Có thương thì vớt em lên hỡi chàng. (187)
Giao tiếp ít nhất phải có
hai đối ngôn. Nhưng trên thực tế, trong nhiều
trường hợp giao tiếp, vai nói vẫn là một, còn vai nghe lớn hơn hai, thậm chí hàng
nghìn, hàng vạn. Trong số đó, theo chúng tôi, các tác phẩm văn học, nhất là các
tác phẩm thơ thuộc loại giao tiếp này.
Quan hệ tương tác là quan hệ giữa các đối ngôn nảy sinh trong cuộc giao
tiếp. Ngoài nó, còn có quan hệ liên cá nhân, là quan hệ từ bên ngoài áp đặt lên
quan hệ tương tác. Đó là những quan hệ xã hội. Khi tham gia vào giao tiếp,
những quan hệ xã hội này (như tuổi tác, quyền lực, thân tình, xa lạ,…) chi phối
cả nội dung, cả hì
nh thức của cuộc giao tiếp và chuyển thành quan hệ liên cá
nhân trong giao tiếp. Quan hệ tương tác còn một biểu hiện nữa là quan hệ vị thế
giao tiếp. Nó có tác động khởi phát, duy trì, chuyển hướng đề tài, phân phát lượt
nói… của các đối ngôn trong giao tiếp. Cho nên nói tới đối ngôn còn là nói tới ý
định, niềm tin, kế hoạch và các hành động thực thi kế hoạch giao tiếp. Hoàn cảnh


giao tiếp “bao gồm tổng thể các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử
với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế công trình,
các tổ chức… tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hóa - địa lí
cho các cuộc giao tiếp” [15; tr. 110-111]. Thoại trường hay
hiện trường giao tiếp
là không gian, thời gian của cuộc giao tiếp. “Khái niệm không gian ở đây chỉ nơi
chốn cụ thể với những điều kiện, những trần thiết, các đồ vật, các nhân vật tiêu
biểu cho một kiểu loại không gian đòi hỏi phải có một cách ứng xử bằng lời
tương thích” [15; tr. 111]. Khái niệm thời gian ở đây cũng cụ thể. “Thời gian
thoại trường của một không gian thoại trường đòi hỏi phải có những cách thức
nói năng tương thích” [15; tr. 111]. Nói tới hoàn cảnh giao tiếp còn là nói tới hiện
thực đề tài, nói tới “thế giới khả hữu” được chọn làm
hệ quy chiếu cho hiện thực
- đề tài của diễn ngôn. “Sự thể hiện tổng hòa các nhân tố của ngữ cảnh hình
thành nên các ngữ huống liên tiếp kế tiếp nhau trong một cuộc giao tiếp” [15; tr.
154]. Ngữ huống
là “những thể hiện cụ thể của hoàn cảnh giao tiếp, của thoại
trường, của các đối ngôn cũng như những thể hiện cụ thể của chính các nhân tố
tạo nên cuộc giao tiếp ở một thời điểm cụ thể của cuộc giao tiếp đó” [15; tr. 121].
Ngôn ngữ
là công cụ giao tiếp ưu việt nhất, có đường kênh cơ bản là thính
giác. Nó bao gồm hai đường kênh nói và viết, bao gồm các biến thể ngôn ngữ mà
các đối ngôn lựa chọn để giao tiếp. Trong các biến thể của ngôn ngữ, phải hết sức
lưu ý đến ngữ vực
2
và đến loại thể mà theo đó hình thành các diễn ngôn phù hợp.
Ngôn ngữ là phương tiện của diễn ngôn nhưng nằm ngoài diễn ngôn. Nằm ngoài
diễn ngôn không chỉ có ngữ cảnh (đối ngôn, hiện thực ngoài diễn ngôn…), ngôn
ngữ và các biến thể được sử dụng, mà còn có ngôn cảnh. Ngôn cảnh
là những
diễn ngôn trước và sau diễn ngôn đang xét [15; tr. 129]. Ngôn cảnh được chia
thành tiền ngôn cảnh và hậu ngôn cảnh. Trong thực tế giao tiếp, cùng một nội
dung có thể được thể hiện bằng dạng nói và dạng viết. Cho nên cần phân biệt
diễn ngôn nói và diễn ngôn viết. Diễn ngôn ở dạng thức viết được gọi là văn bản
(text)
3
. Ngôn cảnh của diễn ngôn nói và văn bản có những điểm khác nhau. Diễn
ngôn nói chủ yếu xuất hiện trong hội thoại, gồm rất nhiều nhân tố, ngoài những


yếu tố thuần túy ngôn ngữ học còn có những yếu tố như: hành vi ngôn ngữ, các
đơn vị hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, trọng âm,
ngữ điệu,…); đồng thời nó chỉ có tiền ngôn cảnh. Ngôn cảnh của văn bản được
gọi là văn cảnh. Trong văn bản, câu bao giờ cũng xuất hiện với tiền văn và hậu
văn. Trở lại câu ca dao - Bây giờ mận mới hỏi đào, - Mận hỏi thì đào xin
thưa,…Yếu tố cần xe
m xét ở đây là mận, đào. Tiền văn của mận là bây giờ, hậu
văn là hỏi đào. Còn tiền văn của đào là mận hỏi, hậu văn là xin thưa. Nhờ việc
xác định nà
y mà ta hiểu được rằng hiện thực - đề tài của văn bản này không phải
là nói về hai sự vật mận và đào, mà nói về chuyện tìm hiểu của đôi trai gái thuộc
đề tài tình yêu. Văn cảnh, nói chung, có tính chất tĩnh, chứ không có tính chất
động như ngôn cảnh của diễn ngôn nói. Thuộc văn cảnh còn có các văn bản viết
về cùng một hiện thực - đề tài, nói rộng ra là tất cả các văn bản thuộc cùng một
thể loại ở một thời điểm n
hất định của lịch sử. Do đó “liên văn bản là một đặc
tính của văn cảnh của văn bản” [15; tr.131].
Diễn ngôn
là gì? Trước khi đi vào khái niệm diễn ngôn, chúng ta sơ lược
nói về câu và phát ngôn. Câu là một tổ chức tuyến tính các đơn vị từ vựng theo
những quy tắc kết học. Có câu trừu tượng, thuộc hệ thống. Câu hệ thống được
hiện thực hóa bằng những câu cụ thể, có nghĩa là câu được làm đầy bởi các đơn
vị từ vựng. Phát ngôn là những câu cụ thể được dùng trong những ngữ cảnh cụ
thể, trong những c
uộc giao tiếp cụ thể. Nó là biến thể của câu. Một câu tồn tại
trong vô số phát ngôn xuất hiện trong những ngữ cảnh khác nhau. Trên thực tế sử
dụng ngôn ngữ, chúng ta chỉ gặp các phát ngôn [15; tr.136-137]. Diễn ngôn
là bộ
phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói
4
hình thành một cuộc
giao tiếp. Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và cụ thể
hóa thành các thành phần diễn ngôn. Diễn ngôn có hình thức và nội dung riêng,
xuất hiện giữa tiền ngôn cảnh và hậu ngôn cảnh (đối với diễn ngôn viết). Hình
thức của nó được tạo bằng các yếu tố ngôn ngữ (các đơn vị từ vựng, các quy tắc
cú pháp…), các hành vi ngôn ngữ để chuyển các câu thành các phát ngôn và
những yếu tố kèm
lời và phi lời (động tác, cử chỉ…) được dùng khi nói ra phát


ngôn, nói ra diễn ngôn. Nội dung của diễn ngôn có hai thành phần: thông tin và
liên cá nhân
5
. Hai thành phần này thống nhất với nhau, thể hiện các đích khác
nhau. Các đích này là sự cụ thể hóa các chức năng giao tiếp thuộc diễn ngôn,
cũng chính là sự cụ thể hóa ý định của người tham gia đặt ra trong giao tiếp. Hiểu
đúng, giải thuyết đúng một diễn ngôn không có nghĩa là chỉ hiểu và giải thuyết
đúng nội dung thông tin, nội dung miêu tả, mà nhất thiết còn phải hiểu, và giải
thuyết đúng nội dung liên cá nhân của diễn ngôn [15; tr.136-155].
Toà
n bộ các nhân tố giao tiếp nêu trên, đặc biệt là ngữ cảnh, phải trở thành
hiểu biết chung của những người tham gia giao tiếp. Trong bất kỳ cuộc giao tiếp
nào, các nhân vật tham gia giao tiếp cũng “chỉ huy động bộ phận hiểu biết” cần
yếu hữu quan “với hiện thực- đề tài của diễn ngôn”, bộ phận hiểu biết quan yếu
này sẽ trở thành kiến thức nền đối với một diễn ngôn ha
y một sự kiện lời nói nào
đó có tính bộ phận của cuộc giao tiếp. Chẳng hạn để hiểu thuyền và bến trong
câu ca dao sau đây được quy chiếu về sự vật nào trong hiện thực - đề tài của diễn
ngôn:
Thuyền đi để bến đợi chờ
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau. (428)
người tiếp nhận phải có kiến t
hức nền là: 1/ câu ca dao này thuộc loại cổ, ra đời
từ xa xưa; 2/ thời ấy, nói chung, có thể thuộc xã hội phong kiến; 3/ quan niệm
sống của thời ấy là nam nhi chí tại bốn phương, còn nữ nhi thì tề gia nội trợ. Nhờ
vào hậu văn của thuyền là đi, và nhất là hậu văn của bến là đợi chờ, ta biết thuyền
và bến ở đây đư
ợc dùng để chỉ người. Thêm vào đó ta còn hiểu biết đặc điểm của
thuyền là có khả năng di động, và thường được di chuyển từ nơi này đến nơi
khác, lênh đênh trên sóng nước, khắp bốn phương trời. Còn bến là vật ở yên một
chỗ, dù có bị dời địa điểm thì sự vật bến cũng có tí
nh chất bất di bất dịch. Đây
cũng là những kiến thức nền. Dựa vào nó, ta thiết lập được mối liên tưởng giữa
hình ảnh thuyền với người con trai, còn hình ảnh bến được liên tưởng với người
con gái. Trên cơ sở tạo lập được những hiểu biết chung với tác giả dân gian,
chúng ta nắm bắt được thông điệp mà họ đã gửi gắm
vào câu ca dao này. Nên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét