Những lý thuyết ban đầu về cầu tiền tệ nh thuyết số lợng, không coi lãi suất nh
một nhân tố của cầu tiền giao dịch: Ví dụ, một ngời nhận trớc một tờ séc 2500
USD mỗi tháng và sử dụng tổng số đó với tỷ lệ không đổi trong tháng (lợng tiền
dùng đẻ giao dịch). Một giải pháp cho anh ta là phải trải chi tiêu trong suốt tháng
do đó lợng tiền bình quân là 2500/2 =1250. Cuối tháng anh ta còn lại 0 USD. Khi
anh ta đợc trả lần nữa, quá trình lại tiếp tục. Tốc độ hàng năm của tiền cho anh ta
là thu nhập danh nghĩa của anh ta.
30.000 USD chia cho lợng tiền bình quân của anh ta hàng tháng 1250 USD
hoặc24.Giả định số tiền trả cho anh ta không có lãi, do đó bỏ qua lợi tức trên số
tiền của anh ta.
Để có thu nhập tiền lãi, thay vì để tiền nhàn rỗi anh ta có thể đầu t một phần
tiền lơng 2500 USD của anh ta, chẳng hạn, 1250 USD vào trái phiếu kho bạc,bổ
sung tiền lãi vào nguồn lực chi tiêu của anh ta. Nếu anh ta đầu t 1250 USD ,lợng
tiền của anh ta sẽ bằng không ở giữa tháng chứ không phải ở cuối tháng. Nếu lãi
suất của trái phiếu kho bạc là 0,75% anh ta thu nhập thêm đợc 4,68 [(0,5).(0,0075).
(1250 USD)] mỗi tháng , hoặc 56,25 USD mỗi năm .Anh ta khômg thể chi tiêu trực
tiếp trái phiếu kho bạc , song anh có đổi chúng thành tiền. Chiến lợc này kéo theo
các chí phí : Chi phí chuyển tài khoản khác thành tiền. Do đó ,anh ta sẽ cân nhắc ,
lợi ích của việc giữ tiền theo chi phí cơ hội đợc đo bằng lãi suất thị trờng mà anh ta
sẽ kiếm đợc do nắm giữ trái phiếu.
Các nhà kinh tế nhấn mạnh rằng ,sự cân nhắc này cho thấy cầu tiền giao dịch
phụ thuộc vào lãi suất .Một sự tăng trong lãi suất thị trờng làm tăng chi phí cơ hội
của lợng tiền giao dịch. Kết quả là các cá nhân sẽ giữ tiền ít hơn ,và tốc độ sẽ tăng.
Một sự giảm trong lãi suất thị trờng tiền tệ sẽ làm giảm chi phí giữ tiền , các cá sẽ
giữ số tiền lớn hơn ,tốc độ sẽ giảm. Do đó, cầu tiền giao dịch sẽ tỉ lệ nghịch với lãi
suất thị trờng, trái lại, tốc độ của tiền giao dịch sẽ tỉ lệ thuận với lãi suất thị trờng.
1.1.5 Những quyết định của việc phân bổ danh mục vốn đầu t
5
Tốc độ cũng thay đổi theo thời gian ứng với những quyết định phân bổ danh
mục vốn đầu t .Bởi vì tiền là một tài sản với t cách là một trung gian trao đổi, những
thay đổi trong lợi tức chờ đợi hoặc trong rủi ro, tính lỏng, hoặc tin tức liên kết với
nó sẽ làm thay đổi cầu tiền mặt của hộ gia đình và doanh nghiệp.
1.2. Những lý do về phân bổ danh mục vốn đầu t
Nh chúng ta đã chỉ ra ,lợng giao dịch không thể giải thích một cách đầy đủ
những biến động trong lợng tiền. Thuyết phân bổ danh mục vốn đầu t đa ra một đầu
mối giải thích những ảnh hởng khác đến cầu tiền tệ. Chúng ta có thể áp dụng thuyết
phân bổ danh mục vốn đầu t cho cầu tiền tệ bằng cách phân tích mỗi yếu tố của cầu
tài sản
1.2.1. Thu nhập và của cải
Lợng tiền thực tế dới dạng tiền mặt và gửi Séc là một ví dụ của tàI sản cần thiết.
Nếu hộ gia đình và doanh nghiệp với thu nhập cao giầu có hơn sẽ không duy trì
cùng một tỷ lệ tài sản của họ dạng tiền mặt mà lời lãi bằng không hay lãi thấp nh
những hộ gia đình và hãng thu nhập thấp.Ví dụ, những cá nhân với thu nhập cao có
thểduy trì những tài sản sinh lợi cao mà có thể chuyển nhợng dễ dàng thành tiền
gửi Séc , các hãng có thể làm tơng tự nh vậy. Thêm vào đó, những doanh nghiệp có
thể có một giới hạn tín dụng với những ngân hàng , mà cho phép họ tiến hành
những giao dịch với lợng tiền mặt và số d tiền gửi Séc thấp . Những hộ gia đình thu
nhập cao có thể dùng thẻ tín dụng của ngân hàng. Cầu lơng tiền thực tế tăng với thu
nhập thực tế nhng với tỉ lệ nhỏ hơn.
1.2.2. Lợi nhuận mong đợi
Khi tính toán thu nhập trên tài sản tiền tệ những hộ gia đình và nhà kinh doanh
khong nhữnh tính đén số lẫi trả trên số d tiền gửi mà còn phảI tính đặc tính thuận
tiện của đồng tiền .Đây là số thu nhạp mà họ săn dàng hy sinh đổi lấy thu nhập có
rỉu ro thấp ,có chi phí giao dịch và thông tin thấp. Nếu không có thay đổi khác ,
một sự tăng lãi suất tiền tệ hoặc trong sự thuận tiện tự nhiên của đồng tiền sẽ khiến
6
những hộ gia đình và nhà doanh nghiệp tăng lợng tiền tệ của họ và tăng lợng cầu
tiền.
Một sự giảm trong lãi suất tiền tệ hoặc trong sự thuận tiện tự nhiên sẽ khiến
những hộ gia đình và doanh nghiệp giảm số d tiền tệ của họ và lợng cầu tiền. Theo
cách đó, những hộ gia đình và doanh nghiệp so sánh lợi tức mong đợi trên tiền (từ
lợi nhuận và sinh lợi tự nhiên) trong việc quyết định giữ bao nhiêu tiền.
1.2.3 Rủi ro tính lỏng và thông tin
Khi phân bổ bao nhiêu tài sản của họ để nắm giữ dạng tiền, những cá nhân và
hãng cũng cân nhắc rủi ro,tính lỏng và thông tin về thu nhập của việc nắm giữ tiền.
Nếu thu nhập trên tài sản lựa chọn (thơng phiếu trái phiếu hoặc cổ phiếu) có nhiều
nguy hiểm ,những ngời tiết kiệm có thể chuyển sang giữ tiền của họ, làm tăng cầu
tiền tệ. Những cải cách cho phép dễ dàng chuyển vốn từ dạng ít lỏng sang dạng có
tính lỏng cao nh từ trái phiếu hoặc cổ phiếu sang dạng một tài khoản Séc ,hoặc từ
cổ phần góp sang tín dụng sẽ làm vốn có về tính lỏng của tiền. Các tài sản càng trở
nên lỏng nhiều hơn thì càng có nhiều ngời tiết kiệm chú tâm đến thu nhập về lãi
suất tiền tệ.Cuối cùng một số cá nhân đặt tin tởng vào giá trị cao của việc giữ
tiền ,bởi vì nó mang lại cho họ sự kín đáo. Điều này liên quan đến ma tuý, trốn thuế
và các hoạt động phi pháp khác có thể biện hộ cho giá trị của đồng tiền kiếm đợc.
Song cầu tiền có thể bị ảnh hởng của nhng thay đổi trong số lợng của hoạt động phi
pháp hoặc thay đổi trong luật thuế khóa
II.CUNG tiền
2.1.Tiền mặt trong dân c
Một phần quan trọng của quá trình cung ứng tiền tệ là: Quyết định của công
chúng trong việc xác định đâu là tài sản có tính lỏng, tiền mặt, C, hay tiền gửi có
thể phát Séc, D. Cụ thể là công chúng sẽ quyết định gửi bao nhiêu tiền mặt so với
tiền gửi có thể phát Séc. Những quyết định đó thờng biểu hiện ở tỷ lệ tiền mặt tiền
gửi (C/D).
2.1.1. Của cải
7
Một vấn đề mà công chúng quan tâm là họ sẽ giữ bao nhiêu của cảI ở dạng tiền
mặt. Tiền mặt là một loại hàng hoá cần thiết, và chúng ta đã nghiên cứu đầu tiên về
kinh tế học. Phần của cải ở dạng tiền mặt không tăng lên khi ngời ta giầu hơn .Nói
một cách khác, một ngời giáu có có thể có nhng không có nghĩa là anh ta có nhiều
tiền mặt. Lý do là tiền gửi có thể phát Séc an toàn hơn và hiệu quả hơn việc nắm
giữ nhiều tiền mặt. Vì vậy, tỷ lệ tiền mặt tiền gửi nhỏ đi khi thu nhập cảu cá nhân
tăng lên. Hơn nữa, khi xét tổng thể nền kinh tế, nếu nền kinh tế tăng trởng và của
cải quốc gia tăng lên, tỷ lệ tiền mặt tiền gửi, (C/D) nhỏ đi.
2.1.2. Lợi tức mong đợi
Nhân tố thứ hai ảnh hởng đến tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi có thể phát Séc trong
dân c là
Lợi tức mong đợi tìm những tài sản của họ. Nhu cầu về một loại tài sản(ở đây là
tiền mặt hay tiền gửi có thể phát séc) tuỳ thuộc vào lợi tức mong đợi từ những tài
sản nhóc cùng chung mức độ rủi ro khả năng chuyển thành tiền và thônh tin. Có
hai quan điểm tác động đến nhu cầu tiền mặt trong dân c. Thứ nhất, do nắm giữ
tiền mặt không đem lại lãi suất nên nuế tiền gửi có phát séc có lãi suất tăng lên thì
nhu cầu tiền mặt có thể giảm so với nhu cầu tiền gửi, dẫn đến C/D nhỏ đi. Thứ hai,
nếu tiền gửi có thể phát séc có lãi suất giảm thì sẽ làm cho C/D tăng. Từ năm 1933
đến năm 1980 nhng quy định của ngành ngân hàng cấm các ngân hàng thanh toán
lãi suất đối với tiền gửi có thể phát séc. Do vậy, lợi tức mong đợi có ảnh hởng
đáng kể tới quyết định của công chúng trong việc nắm giữ bao nhiêu tiền mặt so
với tiền gửi có thể phát séc.
2.1.3 Rủi ro
Nghiên cứu về lợng cầu tài sản cho ta thấy rằng, ngời ta thờng cân nhắc ba yếu
tốn khi đầu t: Rủi ro, tính lỏng và thông tin. Những yếu tố đó ảnh hởng đến nhu
cầu giữ tiền mặt so với tiền gửi có thể phát séc trong dân c. Nói chung, việc giữ lại
tiền mặt hay gửi vào ngân hàng có mức độ rủi ro không mấy khác nhau. Tuy nhiên
trong thời kỳ khủng hoảng lợi tức (0% danh nghĩa) của tiền mặt không có rủi ro có
8
thể dẫn tới nhu cầu tiền mặt tăng lên đáng kể, do vậy làm tỷ lệ tiền mặt tiền gửi
tăng lên. Ví dụ: vào đầu những năm 30, sự mất lòng tin trong công chúng đối với
hệ thống ngân hàng khiến cho những ngời gửi tiền chuyển tiền gửi có thể phát séc
sang tiền mặt, làm C/D tăng lên. Từ những năm 30, hầu hết tiền gửi tại ngân hàng
đều đợc bảo hiểm tiền gửi liên bang bảo đảm. Yên tâm rằng tiền gửi của mình sẽ
an toàn nên ngời gửi ít phải lo lắng về mức độ rủi ro khi quyết định giữ bao nhiêu
tiền mặt và gửi bao nhiêu.
2.1.4 Tính lỏng
Khi đa ra quyết định phân bổ danh mục tài sản ngời gửi củng xem xét tính lỏng
của một tài sản, tức là, nó có dễ chuyển sang tiền mặt hay không. Tiền mặt là tài
sản lỏng nhất, tiền gửi có thể phát séc theo định nghĩa có thể chuyển sang tiền mặt
khi nào muốn. Vì vậy công chúng thờng không xem xét sự khác nhau trong tính
lỏng khi quyết định giữ bao nhiêu tiền mặt so với tiền gửi có thể phát séc.
2.1.5. Thông tin
Nhân tố cuối cùng tác động đến nhu cầu tiền mặt trong công chúng là lợng
thông tin cần thiết để đánh giá giá trị của tiền mặt so với tiền gửi có thể phát séc.
Trớc tiên, nhu cầu nắm đợc thông tin về tiền mặt tiền gửi có thể phát séc có vẻ
bằng nhau. Sau cùng ngời ta không cần thông tin để đánh giá giá trị của tiền mặt,
và với bảo hiểm tiền gửi liên bang và sự giám sát của ngân hàng, các cá nhân gửi
tiền hầu nh không cần thông tin để đánh giá trị của tiền gửi có thể phát séc. Tuy
nhiên có một sự khác nhau quan trọng giữa hai tài sản: Tiền mặt là loại tài sản vô
danh, ngợc lại tiền gửi có thể phát séc cần có tên của ngời sở hữu. Nói một cách
khác, khi bạn giữ tiền ở dạng tiền gửi có thể phát séc bạn để lại một dấu hiệu thông
tin, nhng sẽ rất khó khăn cho ai đó muốn tìm hiểu bạn giữ bao nhiêu tiền mặt. Vì
vậy tiền mặt mang thêm một giá trị là tính vô danh của nó, nó đợc đánh giá cao
hơn tiền gửi có thể phát séc vì lợi thế của nó trong các hoạt động phi pháp nh: buôn
bán ma tuý, buôn bán tại trợ đen và trốn thuế.
9
Có lý do chính đáng để nghi ngờ sự tồn tại của một nền kinh tế ngầm và quy
mô đáng kể ở Mỹ, bởi vì lợng tiền mặt hiện có ở mỗi ngời dân Mỹ là trên 1000
USD ít khi ngời ta giữ một lợng tiền mặt lớn nh thế, vì vậy càng có lý khi có ý kiến
cho rằng, một lợng lớn tiền mặt trong lu thông trong nền kinh tế ngầm, để hỗ trợ
cho các hoạt động phi pháp. Một số chuyên gia ớc tính, nền kinh tế ngầm có thể
chiếm trọn 10% của toàn bộ hoạt động kinh tế nớc Mỹ trong một nền kinh tế 6000
tỷ USD nh của Mỹ thì các hoạt động phi pháp sẽ chiếm trên 600 tỷ USD. Việc thu
hồi số tiền thuế từ hoạt động kinh tế ngầm sẽ làm giảm thâm hụt ngân sách liên
bang một cách đáng kể.
Nếu nh nền kinh tế ngầm, theo định nghĩa nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ,
chúng ta có thể ớc tính quy mô của nó nh thế nào? Bằng những gì chúng ta biết về các
yếu tố quyết định của lợng tiền mặt trong công chúng, ta có thể tìm ra sự vận động trong
tỉ lệ C/D của nền kinh tế ngầm, ví dụ: tăng thuế suất cận biên hay nhóm mức thuế cao
(nh trong thời kỳ chiến tranh) sẽ làm giá trị vô danh của tiền mặt tăng lên và nh vậy C/D
tăng. Ngợc lại, việc hợp pháp hoá ma tuý, tệ nạn xã hội sẽ làm giảm nhu cầu tiền mặt cho
những giao dịch ngầm, làm C/D giảm đi.
2.2. Tiền mặt ở các ngân hàng, dự trữ bắt buộc và khoản tiền chiết khấu
Các ngân hàng tác động đến quá trình cung ứng tiền tệ qua những quyết định giữ
tiền dự trữ vợt quá và vay của ngân hàng trung ơng. Các ngân hàng quyết định nh thế nào
về việc giữ bao nhiêu tiền dự trữ vợt quá so với tiền gửi.
2.2.1 Dự trữ vợt quá
Các ngân hàng thờng giữ tiền dự trữ vợt quá hay khoản dự trữ lớn hơn dự trữ bắt buộc
không lớn. Yếu tố cơ bản chi phối các quyết định của các ngân hàng là lợi tức mong đợi
từ khoản dự trữ vợt quá với lợi tức mong đợi từ những phơng án sử dụng vốn khác.Do tiền
dự trữ đợc gửi lại ngân hàng trung ơng không có lãi suất, chi phí cơ hội của việc nắm giữ
khoản dự trữ vợt quá là lãi suất thị trờng, lãi suất mà các ngân hàng có thể thu đợc nhờ
cho vay hay đầu t vốn. Ví dụ: lãi suất thị trờng cao vào đầu những năm 80 làm dự trữ vợt
quá giảm đáng kể. Lãi suất thị trờng giảm làm lãi suất vợt quá tăng lên, trong khi các yếu
10
tố khác không đổi làm giảm dự trữ vợt quá: lãi suất thị trờng giảm làm lãi suất vợt quá
tăng lên. Nói cách khác, việc nắm giữ khoản dự trữ vợt quá của các ngân hàng tỷ lệ
nghịch với lãi suất thị trờng. Lý do mà các ngân hàng phải nắm giữ dự trữ vợt quá mặc dù
phải chịu chi phí cơ hội là mối quan hệ giữa các ngân hàng và NHTW. NHTW yêu cầu
ngân hàng phải giữ một khoản dự trữ nhất định nhng nó không muốn các ngân hàng vay
của NHTW với lãi suất chiết khấu để thoả mãn yêu cầu những dự trữ đó. Khi một ngân
hàng thiếu tiền dự trữ, NHTW có thể đa ra các khoản tiền phạt. Những khoản tiền phạt
nh vậy bao gồm một tỷ lệ tiền phạt đối với khoản vay chiết khấu cần thiết để thoả mãn
yêu cầu dự trữ và một "cuộc thảo luận gay gắt" để tránh phải phụ thuộc vào tiền vay chiết
khấu mới thoả mãn đợc yêu cầu dự trữ, các ngân hàng giữ một lợng dự trữ vợt quá nhỏ,
ngoài ra, khi các ngân hàng ớc tính quá mức những khoản tiền mà những ngời gửi tiền có
thể rút ra.
Một lý do quan trọng hơn khiến cho các ngân hàng nắm giữ khoản dự trữ vợt quá là
do bởi chúng đóng vai trò nh một giai đoạn chống lại những dòng tiền gửi lớn có thể rút
ra thay sự thất thoát đáng kể của lợng tiền gửi. Không có cái đệm này, nếu tiền gửi rút ra
vợt quá tiền dự trữ, một ngân hàng phải buộc bù đắp số tiền rút ra theo ba cách:
- Bán chứng khoán
- Thu hồi tiền cho vay
- Vay NHTW tại thị trờng mở.
Trong những trờng hợp xấu ngân hàng có thể thất bại. Vì vậy lợi ích của dự trữ vợt
quá với vai trò là một cái đệm, chống lại thất thoát tiền gửi cao hơn chi phí cơ hội cho
những biện pháp sử dụng vốn thay thế. Ví dụ: tiền dự trữ vợt quá cao vào đầu những năm
30 phản ánh mối lo ngại tiền gửi sẽ bị rút trong tơng lai. Lý thuyết phân bổ danh mục tài
sản dự đoán rằng, mức độ dự tính hay mức biến động của dòng tiền gửi bị rút ra tăng lên
làm tăng dự trữ vợt quá.
Ngợc lại, giảm sút mức dự tính hay sự biến động của dòng tiền gửi bị rút ra làm dự
trữ vợt quá giảm đi. Vì vậy, mức dự trữ vợt quá trong hệ thống ngân hàng có quan hệ tỷ
lệ thuận với mức dự tính hay sự biến động của dòng tiền gửi bị rút ra.
11
2.2.2 Cho vay chiết khấu
Mặc dù có những tiêu chuẩn để cho vay chiết khấu, ngân hàng trung ơng không kiểm
soát khối lợng những khoản vay chiết khấu. Các ngân hàng sẵn sàng vay tại ngân hàng
trung ơng khi lãi suất thị trờng mà các ngân hàng có thể thu đợc nhờ tiền cho vay hoặc
các hoạt động đầu t lớn hơn lãi suất chiết khấu. Các ngân hàng ít có nhu cầu vay của ngân
hàng trung ơng khi chênh lệch giữa lãi suất thị trờng và lãi suất chiết khấu là không đáng
kể. Vì vậy, tiền vay chiết khấu của các ngân hàng tỷ lệ thuận với lãi suất thị trờng và tỷ lệ
nghịch với lãi suất chiết khấu.
Các nhà kinh tế học đã đa ra các tài liệu chứng tỏ rằng, khi chênh lệchgiữa lãi suất
của tín phiếu kho bạc ba tháng và của khoản vay chiết khấu tăng lên, sẽ làm khối lợng
cho vay chiết khấu tăng lên. Nhân tố không còn đúng khi ngân hàng trung ơng sẵn sàng
cho các ngân hàng khác vay. Ngân hàng trung ơng thờng không khuyến khích mạnh mẽ
các ngân hàng vay của NHTW.
Ví dụ: Trong thời kỳ sụp đổ thị trờng chứng khoán tháng 10 năm 1987. NHTW đã
khuyến khích các ngân hàng vay. Những quyết định phân bổ tài sán của các ngân hàng về
dự trữ vợt quá và khoản vay triết khấu - những quyết định dựa trên lợi tức mong đợi tác
động đến lợng tiền cung ứng.
III. ngân hàng trung ơng điều tiết quan hệ cung cầu
tiền tệ
3.1. Nghiệp vụ thị trờng mở
Nghiệp vụ thị trờng mở NHTW mua và bán các chứng khoán trên thị trờng tài
chính. Đây là một công cụ chủ yếu mà qua đó NHTW cố gắng làm thay đổi cơ số
tiền. Việc mua trên thị trờng mở làm tăng cơ số tiền (thông thờng là do tăng dự trữ
ngân hàng), việc bán trên thị trờng tự do làm giảm cơ số tiền. Nếu số nhân tiền tệ
là khá ổn định thì NHTW có thể sử dụng thị trờng mở để điều chỉnh cung tiền
bằng cách thay đổi cơ số tiền.
12
NHTW thờng tiến hành các nghiệp vụ thị trờng mở ở những thị trờng chứng
khoán kho bạc ngắn hạn (không phải các nớc đều có thị trờng lỏng cho chứng
khoán chính phủ). Các giao dịch này ảnh hởng đến lãi suất của các thi trờng nói
trên. Việc mua các chứng khoán kho bạc trên thị trờng mở làm tăng giá cả của
chúng, với các nhân tố khác không đổi, do đó làm tăng lời lãi của chứng khoán kho
bạc và mở rộng cung tiền. Những thay đổi trong lời lãi của chứng khoán kho bạc
cũng ảnh hởng đến laĩ suất khác. sự khác biệt và lãi suất của những tài sản khác
nhau phản ánh những khác biệt về lợi tức dự tính đã đợc điều chỉnh theo rủi ro,
tính lỏng và các đặc trng về thông tin. Việc bán trên thi trờng mở làm giảm giá
chứng khoán kho bạc do đó làm tăng lời lãi của chúng và thu hẹp cung tiền. Việc
mua trên thị trờng mở có xu hớng làm giảm lãi suất nên đợc gọi là chính sách nới
rộng. Việc bán trên thị trờng mở có xu hớng làm tăng lãi suất, và do vậy, đợc gọi là
chính sách thắt chặt.
Vai trò: Chúng ta đã lu ý rằng nghiệp vụ thị trờng mở là công cụ chính sách cơ
bản của NHTW để ảnh hởng đến cơ số tiền và cung tiền. Nhờ việc xen xét các
nghiệp vụ thị trờng mở đợc quyết định và thực hiện nh thế nào, chúng ta đề cập
một cách vắn tắt ba lý do về vai trò chủ đạo của chúng về trong việc thực thi chính
sách về tiền tệ.
Kiểm soát: NHTW chủ động thực hiện mua và bán trên thị trờng mở nên nó
kiểm soát hoàn toàn đợc khối lợng kinh doanh. Nếu NHTW phải sử dụng vay chiết
khấu để làm tăng hay giảm cơ số tiền, nó sẽ có khả năng ảnh hởng mhng không
kiểm soát hoàn toàn khối lợng kinh doanh.
Tính linh hoạt : NHTW có thể thực hiện cả nghiệp vụ lớn và nhỏ việc mua, bán
với khối lợng lớn nhiều khi cần phải thực hiện giao dịch năng động tơng tự các
giao dịch thụ động đợc sử dụng cho việc mua bán nhỏ dễ thực hiện. Cuối cùng việc
đảo ngợc các nghiệp vụ trên thị trờng tự do càng đơn giản đối với NHTW.
Dễ thực hiện: NHTW có thể thực hiện các giao dịch chng khoán nhanh chóng
và không có sự chậm chễ về mặt hành chính. Mội yêu cầu đều đợc phòng kinh
13
doanh đều đợc chuyển thành đơn đặt hàng với các nhà kinh doanh trên thị trờng
chứng khoán chính phủ.
3.2. Chính sách chiết khấu
Chính sách chiết khấu, bao gồm việc đặt ra lãi suất chiết khấu và các khoản cho
vay chiết khấu, là một công cụ quan trọng để kiểm soát cung tiền. Chính sách chiết
khấu, ảnh hởng đến cung tiền bằng cách ảnh hởng đến khối lợng cho vay chiết
khấu là một phần của cơ cấu tiền tệ. Một sự tăng lên trong khối lợng cho vay chiết
khấu làm tăng cơ số tiền và cung tiền. Ngợc lại một sự giảm sút trong khối lợng
cho vay chiết khấu làm giảm cơ số tiền và cung tiềnãi suất chiết khấu mà tại đó
NHTW cho vay đối với thị trờng tín dụng và quan điểm chung của nó về cho vay
chiết khấu phu thuộc vào những ảnh hởng mong muốn của NHTW đến cung tiền.
Cửa sổ chiết khấu là phơng tiện qua đó NHTW cho vay chiết khấu tới các ngân
hàng, hoạt động nh một kênh qua đó yêu cầu của các ngân hàng đợc thoả mãn.
Sử dụng cửa sổ chiết khấu
NHTW tác động đến khối lợng vay chiết khấu bằng hai cách: Nó đặt ra giá cả
của khoản vay (lãi suất chiết khấu) và tác động đến số lợng khoản vay qua các điều
khoản mà nó đặt ra.
Chúng ta có thể mô tả hiệu ứng giá cả một cự thay đổi trong lãi suất chiất khấu
nh sau: giả sử rằng NHTW tăng lãi suất chiết khấu, khi lãi suát chiết khấu tăng lên
các ngân hàng sẽ giảm vay ở cửa sổ chiết khấu. Do vậy một sự tăng lên trong lãi
suất chiết khấu làm giảm khối lợng vay chiết khấu do đó làm giảm cơ số tiền và
cung tiền. Mức lãi suất chiết khấu cao hơn tạo ra áp lực đẩy lên các mức lãi suất
ngắn hạn khác, khi các ngân hàng cố gắng huy động từ các nguồn khác nh phát
hành chứng nhận tiền gửi. Một sự giảm sút trong lãi suất chiết khấu khối lợng vay
chiết khấu tăng lên, làm tăng cơ số tiền và cung tiền. Tuy nhiên không có gì đảm
bảo răng các ngân hàng sẽ vay ở cửa sổ chiết khấu khi lãi suất chiết khấu giảm
xuống. Nếu không có các khoản cho vay có lợi hay các cơ hội đầu t tốt thì các
ngân hàng có thể tăng vay chiết khấu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét