Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Quyết định 70/2009/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình giám sát dịch tễ gia súc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành

Tại Việt Nam từ năm 2009 và những năm tiếp theo, khả năng dịch Cúm gia cầm, LMLM gia súc và PRRS trên
heo vẫn còn diễn biến phức tạp do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán còn phổ biến; việc kiểm soát vận
chuyển, kinh doanh giết mổ gia súc gia cầm, công tác tổ chức tiêm phòng và quản lý tiêm phòng còn nhiều bất
cập.
Tại thành phố Hồ Chí Minh dự báo bệnh LMLM có khả năng xảy ra tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ do chưa thực
hiện tốt công tác tiêm phòng và các biện pháp an toàn sinh học; bệnh Cúm gia cầm vẫn là mối nguy cơ do tình
trạng chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ ở các hộ dân còn khá phổ biến tại các huyện ngoại thành và tình trạng vận
chuyển, kinh doanh, giết mổ gia cầm trái phép chưa được giải quyết triệt để; bệnh PRRS có khả năng xảy ra
do vi-rút lưu hành trong đàn gia súc cao, chưa có biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả, bệnh dịch tả heo
tiềm ẩn nguy cơ cao do mức độ bảo hộ trong quần thể đàn heo đang có chiều hướng giảm.
3. Tình hình tiêu thụ động vật, sản phẩm động vật trên địa bàn thành phố:
- Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiêu thụ động vật, sản phẩm động vật (SPĐV) rất lớn, bình quân một năm tiêu
thụ trên 3 triệu con heo; 230.000 con trâu bò; 25,5 triệu con gia cầm; 30.000 tấn thịt gia cầm; 10.950 tấn thịt
trâu bò và 7.300 tấn thịt nhập khẩu. Khả năng tự cung cấp của thành phố 18 - 20%, phần còn lại phải tiếp
nhận từ 40 tỉnh, thành trên cả nước.
- Công tác kiểm dịch động vật (KDĐV), SPĐV trên địa bàn cả nước chưa được đồng bộ, còn nhiều bất cập.
Từ năm 2003 - 2008 số gia súc bệnh LMLM có nguồn gốc từ các tỉnh xử lý tại các CSGM của thành phố là
745 con (chiếm tỷ lệ 81,78%).
Do đó đã gây áp lực rất lớn về mặt dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm của thành phố.
4. Sự cần thiết xây dựng chương trình:
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân, là trung tâm kinh tế, du lịch của cả nước vì thế nếu không
kiểm soát tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế và an toàn sức
khỏe của người dân thành phố.
Trong những năm qua, thành phố Hồ Chí Minh là nơi cung cấp con giống chất lượng cao, an toàn dịch bệnh,
có uy tín đối với các tỉnh, đặc biệt là từ các CSCN quốc doanh như Công ty Bò sữa thành phố Hồ Chí Minh, Xí
nghiệp Chăn nuôi (XNCN) heo Đồng Hiệp, Phước Long, Giống cấp I và các CSCN tập trung trên địa bàn
thành phố, do đó cần tiếp tục duy trì và phát triển.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiêu thụ động vật, SPĐV rất lớn từ các tỉnh, trong khi tình hình dịch bệnh trên
gia súc luôn diễn biến phức tạp, cùng một thời điểm có thể xảy ra nhiều loại bệnh, dịch khác nhau, thậm chí
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người trong khi đó công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát
giết mổ của các tỉnh chưa đồng bộ. Chi cục Thú y đã có nhiều cố gắng trong việc kiểm tra, giám sát nhằm
cung cấp thực phẩm có nguồn gốc từ động vật đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và
ngăn chặn dịch bệnh gia súc, gia cầm xâm nhập vào địa bàn thành phố tuy nhiên nguy cơ tiềm ẩn phát sinh
dịch bệnh vẫn còn nhiều.
Mặc dù thời gian qua ngành thú y thành phố đã triển khai, thực hiện nhiều biện pháp về công tác giám sát dịch
bệnh ở một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, gia cầm, đã gặt hái những kết quả khả quan. Tuy
nhiên chưa có chương trình tổng thể để tập trung giám sát tiến đến thanh toán một số bệnh. Chính vì vậy việc
triển khai thực hiện các biện pháp chủ động phòng, chống dịch trên địa bàn thành phố, trong đó công tác giám
sát dịch tễ có ý nghĩa rất quan trọng nhằm kiểm soát tình hình dịch bệnh; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, không
để dịch bệnh lây lan trên diện rộng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và sự ổn định, phát triển kinh tế - xã
hội của thành phố.
Từ những vấn đề trên, thực hiện Quyết định số 11/2009/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2008 của Ủy ban
nhân dân thành phố về ban hành Kế hoạch chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách và
chương trình công tác năm 2009 và Quyết định số 75/2008/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2008 của Ủy
ban nhân dân thành phố về việc phê duyệt Đề án Chiến lược phát triển chăn nuôi thành phố Hồ Chí Minh tạo
nguồn thực phẩm bình ổn giá giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2015.
Nhằm thực hiện tốt chương trình phát triển chăn nuôi bền vững cung cấp con giống chất lượng cao, đảm bảo
an toàn dịch tễ cho đàn gia súc, gia cầm; bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và cung cấp nguồn thực phẩm an
toàn cho người tiêu dùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng chương trình “Giám sát dịch tễ
gia súc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” để triển khai đồng
bộ các giải pháp cho công tác giám sát dịch bệnh từ khâu chăn nuôi đến vận chuyển, giết mổ động vật, xử lý
gia súc bệnh, chết, tại vùng ổ dịch cũ và giám sát sự lưu hành của tác nhân gây bệnh phục vụ việc dự báo
dịch tễ định hướng sử dụng vắc-xin thích hợp và tiến đến thanh toán một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
trên động vật.
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
1. Các văn bản luật:
- Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 4 năm 2004.
2. Các văn bản của Chính phủ:
- Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Pháp lệnh Thú y;
- Nghị định số 05/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ về phòng, chống bệnh dại ở động
vật;
- Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020;
- Chỉ thị số 279/CT-TTg ngày 13 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp
phòng, chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1) ở người.
3. Các văn bản của các Bộ, ngành:
- Quyết định số 67/2006/QĐ-BNN ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16 tháng 5 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy định phòng, chống bệnh lở mồm long
móng gia súc;
- Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN ngày 26 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành Quy định vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật;
- Quyết định số 80/2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành Quy định phòng, chống Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS);
- Chỉ thị số 1141/CT-BNN-TY ngày 28 tháng 4 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc
tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, đề phòng dịch “cúm lợn”.
4. Các văn bản của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:
- Quyết định số 109/2006/QĐ-UBND ngày 18 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
về việc phê duyệt Chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật trên địa bàn thành phố giai
đoạn 2006 - 2010;
- Quyết định số 119/2006/QĐ-UBND ngày 03 tháng 8 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
về phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển bò sữa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 -
2010;
- Chỉ thị số 06/2008/CT-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về
đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1) ở người trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh;
- Chỉ thị số 09/2008/CT-UBND ngày 23 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về
việc tập trung triển khai một số biện pháp cấp bách phòng, chống hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
(PRRS) trên đàn heo;
- Quyết định số 75/2008/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
về việc phê duyệt Đề án Chiến lược phát triển chăn nuôi thành phố Hồ Chí Minh tạo nguồn thực phẩm bình
ổn giá giai đoạn 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2015;
- Quyết định số 11/2009/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
về ban hành Kế hoạch chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách thành phố, Chương trình
công tác của Ủy ban nhân dân thành phố năm 2009;
- Chỉ thị số 07/2009/CT-UBND ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về
đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh cúm A (H1N1) ở người trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG
1. Phạm vi:
Phạm vi giám sát dịch tễ là các hộ, CSCN, các hoạt động của tổ chức, cá nhân vận chuyển, kinh doanh, giết
mổ gia súc, gia cầm, các khu vực xử lý tiêu hủy gia súc chết, bệnh.
2. Đối tượng: Các loại bệnh, dịch phổ biến của gia súc, gia cầm, động vật hoang dã, vật nuôi khác có liên
quan.
Phần I
ÐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁM SÁT DỊCH TỄ
GIA SÚC, GIA CẦM NĂM 2006 - 2008
I. XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT, THÔNG TIN DỊCH BỆNH; BÁO CÁO DỊCH TỄ ĐỊNH KỲ CÁC CƠ SỞ
CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
- Hiện nay, Chi cục Thú y có 120 mạng lưới thú y (được hưởng phụ cấp lương tối thiểu tại 13 quận, huyện có
chăn nuôi gia súc) thực hiện công tác thú y như quản lý chăn nuôi, thống kê, giám sát tình hình dịch tễ trên địa
bàn, tiêm phòng, điều trị bệnh cho gia súc,
- Ngoài ra Chi cục Thú y đã xây dựng hệ thống giám sát, thông tin dịch bệnh gồm 422 người/12 quận, huyện.
Đã được tập huấn về phòng, chống dịch, chế độ báo cáo khi phát hiện hoặc nghi có dịch bệnh và được
hưởng chế độ thù lao khi cung cấp thông tin dịch bệnh chính xác.
- Chi cục Thú y đã triển khai báo cáo dịch tễ định kỳ hàng tháng đối với các CSCN tập trung.
1. Công tác giám sát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm:
Hàng năm, Chi cục Thú y thực hiện giám sát chủ động qua việc lấy mẫu huyết thanh, swab (dịch, chất tiết lỗ
huyệt, mũi, miệng, ) xét nghiệm bệnh Cúm gia cầm, LMLM, DTH, PRRS, bệnh Dại nhằm phục vụ công tác
giám sát dịch tễ, công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh và chương trình phát triển bò sữa. Kết quả
giám sát dịch bệnh từ năm 2003 - 2008 như sau:
a) Giám sát bệnh LMLM trên đàn bò sữa thành phố:
- Tỷ lệ lưu hành bệnh LMLM bình quân trong ba năm 2006 - 2008 là 7,89% giảm đáng kể so với bình quân ba
năm 2003 - 2005 (12,16%) kết quả có được là do áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi,
loại thải gia súc mang trùng.
- Tỷ lệ bảo hộ bệnh LMLM cao và tương đối ổn định qua các năm (80,87% - 96,66%) tăng so với bình quân
ba năm 2003 - 2005 (61,28%) kết quả do công tác tiêm phòng trong nhiều năm đạt yêu cầu kỹ thuật. Từ đó
bảo hộ tốt đàn bò sữa mặc dù vẫn phát hiện có sự lưu hành vi-rút LMLM trong quần thể đàn bình quân trong
ba năm gần đây là 7,89%.
b) Giám sát bệnh LMLM trên heo:
- Tỷ lệ lưu hành bệnh LMLM: Năm 2006: 1,89%; năm 2007: 4,81%; năm 2008: 0,63% giảm đáng kể so với
bình quân ba năm 2003 - 2005 (1,7%).
- Tỷ lệ bảo hộ bệnh LMLM cao qua các năm (78,61% - 90,63%) tăng so với bình quân ba năm 2003 - 2005
(83,76%) từ đó đã giữ ổn định tình hình dịch tễ mặc dù áp lực dịch bệnh rất lớn từ các tỉnh qua việc vận
chuyển, tiêu thụ động vật và SPĐV.
c) Giám sát bệnh Dịch tả heo:
- Tỷ lệ lưu hành bệnh DTH: Năm 2006: 7,48%; năm 2007 - 2008: 0,00% giảm đáng kể so với bình quân ba
năm 2003 - 2005 (3,08%).
- Tỷ lệ bảo hộ bệnh DTH: Thấp (30,62% - 55,17%) và giảm nhiều so với bình quân ba năm 2003 - 2005
(72,20%) do chưa kiểm soát tốt việc tự tiêm phòng vắc-xin DTH (sử dụng nhiều loại vắc-xin và chủ yếu do hộ
chăn nuôi tự tiêm).
d) Giám sát bệnh Cúm gia cầm:
- Từ cuối năm 2003 đầu năm 2004 khi xảy ra dịch Cúm gia cầm, Chi cục Thú y đã triển khai giám sát bệnh
Cúm gia cầm phục vụ cho công tác phòng, chống dịch. Kết quả thực hiện qua các năm như sau:
- Từ tháng 4 năm 2004 đến tháng 12 năm 2005: Qua xét nghiệm huyết thanh giám sát bệnh Cúm gia cầm tại
các hộ chăn nuôi đã xử lý 32.239 con vịt, 502 con gà dương tính với vi-rút cúm gia cầm phân týp H5 tại 93 hộ
chăn nuôi; kiểm tra huyết thanh đàn gia cầm, thủy cầm từ các tỉnh nhập về các CSGM trên địa bàn thành phố
đã phát hiện và xử lý 3 trường hợp huyết thanh dương tính trên gia cầm có nguồn gốc từ tỉnh Long An, Đồng
Nai.
- Tháng 7 năm 2006: Qua giám sát huyết thanh bệnh Cúm gia cầm đã phát hiện đàn cò tại khu du lịch Suối
Tiên dương tính và đã xử lý tiêu hủy.
- Năm 2007 - 2008: Qua giám sát trên đàn gà thịt trước khi xuất chuồng tại hai CSCN tập trung trên địa bàn
thành phố; giám sát đối với gia cầm nuôi, kinh doanh, vận chuyển trái phép và giám sát tại các khu vui chơi
giải trí, chim hoang dã, chim nuôi cảnh; gia cầm từ các tỉnh đưa về giết mổ tại thành phố. Kết quả đều không
phát hiện vi-rút Cúm gia cầm.
- Ngoài ra Chi cục Thú y thực hiện kiểm tra hiệu giá kháng thể đối với đàn gia cầm đã tiêm phòng vắc-xin Cúm
gia cầm đối với gia cầm từ các tỉnh đưa về giết mổ tại thành phố. Kết quả bảo hộ được thông báo cho Chi cục
Thú y các tỉnh để phối hợp trong công tác phòng, chống dịch và giúp các tỉnh kiểm soát công tác tiêm phòng.
đ) Giám sát bệnh Dại trên chó, mèo:
- Từ năm 1998 đến nay Chi cục Thú y thực hiện phương pháp FAT và MIT để phát hiện nhanh, chính xác các
trường hợp dương tính bệnh Dại có ý nghĩa rất lớn, từ đó đề xuất kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh
Dại trong cộng đồng.
- Giám sát sự biến đổi gen vi-rút Dại ở động vật: trong các năm qua Chi cục Thú y thực hiện giám sát đặc
điểm dịch tễ học phân tử vi-rút Dại đang lưu hành và phối hợp với Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ươg, trường
Đại học Y khoa Oita - Nhật Bản nghiên cứu giải trình tự vùng gene N nhằm đề ra chương trình phòng, chống
bệnh Dại hiệu quả trên người và tiến đến loại trừ bệnh dại ở Việt Nam.
* Xác định các trường hợp dương tính bệnh Dại trên chó:
- Năm 2002: 02 TH, năm 2004: 02 TH, năm 2006: 03 TH, năm 2007: 01 TH, năm 2008 đến nay không phát
hiện trường hợp dương tính. Khi có kết quả xét nghiệm dương tính bệnh Dại, Chi cục Thú y đã phối hợp với
cơ quan y tế triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, không để phát sinh bệnh Dại trên người hoặc trên
chó, mèo.
- Kiểm tra tỷ lệ bảo hộ bệnh Dại trên chó: Tỷ lệ bảo hộ bệnh Dại tương đối ổn định qua ba năm 2006 - 2008
(81,42% - 87,52%). Từ kết quả trên cho thấy công tác phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn thành phố trong
thời gian qua rất hiệu quả, hạn chế phát sinh bệnh Dại trên đàn chó, mèo, góp phần bảo vệ sức khỏe người
dân thành phố.
2. Nâng cao năng lực chẩn đoán xét nghiệm của Chi cục Thú y:
- Trong các năm qua Trạm Chẩn đoán xét nghiệm - Điều trị, Chi cục Thú y được đầu tư các trang thiết bị cho
công tác chẩn đoán xét nghiệm dịch bệnh trên động vật như tủ an toàn sinh học class II, hệ thống máy Real
time PCR, hệ thống máy ELISA… và đào tạo, tập huấn cán bộ trong và ngoài nước nâng cao trình độ về
chuyên môn kỹ thuật; áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán vi trùng, chẩn đoán vi-rút LMLM,
PRRS, DTH,…
- Áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng trong hoạt động chẩn đoán xét nghiệm và được cấp chứng chỉ công
nhận phù hợp ISO 9001:2000 và ISO/IEC 17025:2005.
- Ngoài ra Chi cục Thú y đã phối hợp với Cơ quan Thú y Vùng VI thực hiện việc định serotype vi-rút LMLM
đang lưu hành nhằm phục vụ công tác giám sát dịch tễ và sử dụng vắc-xin phù hợp tiêm phòng cho đàn gia
súc thành phố.
- Được Cục Thú y công nhận kết quả xét nghiệm của Chi cục Thú y đối với bệnh Cúm gia cầm có giá trị trong
cả nước.
3. Phối hợp với Chi cục Thú y các tỉnh trong công tác giám sát dịch bệnh:
- Ủy ban nhân dân thành phố và một số tỉnh đã ký chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp - nông thôn
tạo tiền đề cho Chi cục Thú y phối hợp với các tỉnh trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm,
thông tin tình hình dịch bệnh kịp thời, kiểm dịch động vật, kiểm soát vận chuyển; hỗ trợ trong công tác chẩn
đoán xét nghiệm; xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp gia súc đưa về thành phố giết mổ an toàn dịch bệnh.
- Hợp tác Chi cục Thú y các tỉnh về giám sát bệnh Cúm gia cầm (kiểm tra hiệu giá kháng thể, lưu hành bệnh)
đối với đàn gia cầm có nguồn gốc từ các tỉnh đưa về giết mổ tại CSGM của thành phố; thông báo kết quả xét
nghiệm đến các tỉnh nhằm hỗ trợ các tỉnh rà soát, tăng cường giám sát công tác tiêm phòng, chấn chỉnh công
tác KDĐV, thực hiện chiến lược phòng dịch từ xa.
4. Các hoạt động liên quan công tác giám sát - phòng, chống dịch bệnh gia súc:
a) Công tác tiêm phòng gia súc:
Qua phối hợp với Cơ quan Thú y Vùng VI, Chi cục Thú y đã thực hiện việc định serotype vi-rút LMLM đang
lưu hành từ đó sử dụng vắc-xin phù hợp tiêm phòng cho đàn gia súc thành phố như sau: Tiêm phòng cho heo
sử dụng vắc-xin Aftopor (OManisa, O3039), tiêm phòng cho trâu bò sử dụng Aftovax (O
Manisa
, O
3039
, A
22
,
ASIA1).
Kết quả tiêm phòng gia súc 2006 - 2008:
Vắc-xin
2006 2007 2008
Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II
LMLM trâu bò 100 70,84 81,43 69,19 77,11 81,79
(LMLM bò sữa) 81,03 76,32 84,71 73,37 80,69 82,20
LMLM heo 79,61 77,90 94,27 78,32 76,59 89,47
Dịch tả heo 82,54 81,11 86,89 78,25 72,82 84,13
Tỷ lệ tiêm phòng đạt trên 80% /TĐKT, đảm bảo yêu cầu phòng, chống dịch.
b) Công tác giám sát sau tiêm phòng:
- Từ năm 2007, Chi cục Thú y đã triển khai kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng LMLM gia súc để quyết
toán tiền công tiêm phòng vắc-xin LMLM.
- Kết quả giám sát sau tiêm phòng LMLM 2007 - 2008: đánh giá công tác tiêm phòng LMLM đạt hiệu quả cao,
vắc-xin sử dụng đáp ứng bảo hộ được bệnh LMLM cho gia súc cụ thể như sau:
Năm
Bảo hộ trên bò (%) Bảo hộ trên heo (%)
Đợt I Đợt II Đợt I Đợt II
2007 87,62 93,33 81,00 72,54
2008 95,12 95,12 82,71 86,96
c) Công tác tuyên truyền, tập huấn:
- Trong các năm qua Chi cục Thú y đã tập trung cho công tác tập huấn, tuyên truyền về pháp luật thú y, biện
pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, gia cầm nâng cao nhận thức phòng,
chống dịch cho người chăn nuôi từ đó hạn chế phát sinh bệnh và trở thành cộng tác viên đắc lực trong việc
giám sát, cung cấp thông tin dịch bệnh cho cơ quan chức năng.
- Trong ba năm 2006 - 2008, Chi cục Thú y đã cấp phát 2,3 triệu tờ bướm, poster tuyên truyền phòng, chống
dịch (trong đó 323.000 tờ bướm LMLM, 1.646.000 tờ bướm, poster Cúm gia cầm, 290.000 tờ bướm PRRS),
tổ chức tập huấn 182 buổi có 12.332 lượt người dự, phát loa tuyên truyền tại các phường, xã phục vụ công
tác phòng, chống dịch, tiêm phòng,…
II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÙNG, CƠ SỞ AN TOÀN DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT
Thực hiện Quyết định số 62/2002/QĐ-BNN ngày 11 tháng 7 năm 2002 và Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN
ngày 26 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định vùng,
cơ sở an toàn dịch bệnh động vật, Chi cục Thú y đã triển khai công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch
bệnh động vật trên địa bàn thành phố từ năm 2003 như sau:
- Giám sát huyết thanh học bệnh LMLM, DTH, Dại,… trên địa bàn thành phố và phường, xã, CSCN xây dựng
an toàn dịch bệnh.
- Hướng dẫn các CSCN thực hiện các yêu cầu về xây dựng an toàn dịch bệnh, xây dựng quy trình vệ sinh,
phòng dịch; thực hiện các biện pháp an toàn sinh học - phòng, chống dịch bệnh.
* Kết quả thực hiện chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh năm 2006 - 2008 như sau:
+ Năm 2005, được Cục Thú y công nhận XNCN heo Đồng Hiệp an toàn dịch bệnh đối với bệnh LMLM, DTH
đầu tiên trên địa bàn thành phố.
+ Năm 2007, được Cục Thú y công nhận 13 CSCN heo an toàn dịch bệnh LMLM, DTH, trong đó 10 CSCN
thuộc huyện Củ Chi (XNCN heo Đồng Hiệp được tái công nhận và công nhận thêm hai bệnh mới Xoắn khuẩn,
Sẩy thai truyền nhiễm), 03 CSCN tại huyện Hóc Môn, quận 12 và quận 9.
+ Năm 2008, được Cục Thú y công nhận 09 CSCN heo an toàn dịch bệnh đối với bệnh LMLM, DTH, trong đó
08 CSCN tại huyện Củ Chi, 01 tại huyện Nhà Bè và 05 CSCN bò tại huyện Củ Chi an toàn dịch bệnh LMLM và
02 phường (phường 4, phường 6), quận Tân Bình được công nhận phường an toàn bệnh Dại đầu tiên của
thành phố.
III. NHẬN XÉT - ĐÁNH GIÁ
- Thông qua báo cáo dịch tễ định kỳ và thông tin từ hệ thống giám sát dịch bệnh, bước đầu đã giúp ngành thú
y phát hiện sớm dịch bệnh, từ đó triển khai các biện pháp phòng, chống dịch kịp thời, hiệu quả.
- Việc chủ động lấy mẫu giám sát dịch tễ từ khâu chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ gia súc; kiểm tra hiệu giá
kháng thể sau tiêm phòng; kiểm tra định kỳ, đột xuất tình hình dịch tễ trong chăn nuôi đã giúp ngành thú y chủ
động trong quản lý tình hình dịch tễ. Từ đó việc dự báo tình hình dịch bệnh, xây dựng biện pháp chủ động
phòng, chống dịch, chiến lược sử dụng vắc-xin khoa học, chính xác, hiệu quả;
- Từ năm 2007, Chi cục Thú y đã triển khai công tác kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng LMLM gia súc
đã nâng cao hiệu quả công tác tiêm phòng gia súc, đánh giá hiệu quả sử dụng vắc-xin kết hợp Cơ quan Thú y
Vùng VI xác định serotype vi-rút LMLM các ca bệnh từ đó xây dựng chiến lược sử dụng vắc-xin phù hợp phục
vụ tốt công tác phòng, chống dịch và xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật trên địa bàn thành
phố.
- Thực hiện công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh trên địa bàn thành phố từ năm 2003 đến nay đã
mang lại hiệu quả ổn định tình hình dịch tễ trên địa bàn thành phố, làm tiền đề để tiếp tục thực hiện chương
trình giai đoạn 2006 - 2010 và thực hiện chuỗi vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng thương hiệu cho các cơ
sở chăn nuôi cung cấp sản phẩm “thịt an toàn” như Hợp tác xã Chăn nuôi Heo an toàn Tiên Phong.
IV. KHÓ KHĂN - TỒN TẠI
Công tác giám sát dịch bệnh gia súc trên địa bàn thành phố gặp khó khăn, hạn chế như sau:
- Tình hình biến đổi khí hậu ngày một phức tạp làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, kể
cả xuất hiện bệnh mới;
- Từ phương thức chăn nuôi gia súc nhỏ lẻ, phân tán là chủ yếu nên chưa quản lý chặt chẽ việc lưu chuyển
gia súc làm ảnh hưởng đến công tác giám sát và quản lý tình hình dịch tễ; việc chăn nuôi tự phát không đảm
bảo vệ sinh chưa có biện pháp xử lý triệt để đã làm hoạt động giám sát dịch tễ càng thêm khó khăn. Nguyên
nhân do các địa phương chưa quy hoạch vùng chăn nuôi cụ thể nên người chăn nuôi không dám mạnh dạn
đầu tư; trình độ, nhận thức của một bộ phận người chăn nuôi còn nhiều hạn chế nên việc chấp hành pháp
luật chưa tốt.
- Hệ thống giám sát dịch bệnh bước đầu hoạt động có kết quả nhưng cần phải được củng cố, một số trường
hợp dịch bệnh chưa được phát hiện kịp thời. Nguyên nhân do lực lượng tham gia thường là công tác kiêm
nhiệm từ các ban, ấp, hội nông dân, đoàn thể nên việc thu thập thông tin có giới hạn; khối lượng công việc
nhiều, địa bàn quản lý rộng, cự ly di chuyển xa, chi phí có hạn; ngoài ra nhận thức của người chăn nuôi chưa
cao, e ngại đụng chạm khi cung cấp thông tin.
- Báo cáo dịch tễ định kỳ của các CSCN tập trung (trừ XNCN quốc doanh) trong thời gian qua chưa thực hiện
đầy đủ.
- Tỷ lệ bảo hộ bệnh DTH tại hộ chăn nuôi trong ba năm 2006 - 2008 thấp (30,62% - 55,17%) không đạt yêu
cầu. Trong các năm về sau cần tập trung kiểm soát, quản lý việc tiêm phòng, khuyến cáo loại vắc-xin sử dụng
và hướng dẫn kỹ thuật, quy trình tiêm phòng cho các hộ chăn nuôi để nâng cao tỷ lệ bảo hộ.
- Chi phí xét nghiệm một số bệnh do vi-rút khá cao hoặc chưa có quy định tại Quyết định số 08/2005/QĐ-BTC
ngày 20 tháng 01 năm 2005 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong
công tác thú y cũng ảnh hưởng đến công tác xét nghiệm giám sát dịch bệnh (xét nghiệm RT-PCR đối bệnh
PRRS).
- Trong các năm qua ngành thú y mới tập trung giám sát các bệnh LMLM, Cúm gia cầm, DTH, PRRS, bệnh
Dại, chưa thực hiện tầm soát đối với các bệnh khác như Cúm A H1N1, Aujeszky, PCV2 trên heo, bệnh Bò
điên, Tiêu chảy trên heo PED (Porcine Epidemic Diarrhea),
- Hoạt động vận chuyển động vật, SPĐV, khai báo kiểm dịch chưa được chấp hành nghiêm; việc giết mổ gia
súc, gia cầm trái phép vẫn còn.
Phần 2
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁM SÁT TÌNH HÌNH DỊCH TỄ GIA SÚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát:
- Kiểm soát được dịch bệnh trong chương trình quốc gia (bệnh Cúm gia cầm, LMLM, Dại) và từng bước đi
đến thanh toán các bệnh trên thông qua xây dựng liên kết vùng ATDB với các tỉnh giáp ranh thành phố.
- Tầm soát một số bệnh mới BSE (bò điên); PED (dịch tiêu chảy), Cúm A H1N1, PCV2 trên heo để phòng
ngừa từ xa và khống chế các bệnh mang tính chất địa phương (DTH, PRRS, Tụ huyết trùng trâu bò,
Newcastle,…)
- Nâng cao nhận thức về phòng, chống dịch bệnh cho người chăn nuôi, cán bộ chính quyền, đoàn thể, các
ban ngành liên quan. Củng cố hệ thống thú y cơ sở qua việc đào tạo, đào tạo lại nâng cao trình độ kiến thức
chuyên môn về dịch tễ, phòng, chống dịch bệnh để thực hiện chương trình có hiệu quả.
- Hoàn thiện hệ thống giám sát dịch bệnh nhằm phát hiện sớm, thông tin tình hình dịch bệnh kịp thời và khống
chế, ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.
2. Mục tiêu cụ thể qua các giai đoạn:
2.1. Mục tiêu đến năm 2010:
- Trên cơ sở giám sát tình hình dịch tễ gia súc, thực hiện chủ động các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia
súc, gia cầm; thực hiện chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh giai đoạn 2006 - 2010. Mục tiêu
đến năm 2010 như sau:
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm; phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững, hiệu quả; không
để phát sinh dịch Cúm gia cầm, Cúm A H1N1 ở heo trên địa bàn thành phố; khống chế, không để xảy ra dịch
bệnh trên diện rộng tại hộ, CSCN đối với dịch PRRS, LMLM gia súc;
- Tập trung xây dựng xã Phú Mỹ Hưng, xã An Phú huyện Củ Chi an toàn dịch bệnh đối với bệnh LMLM, DTH
để được công nhận sau năm 2010; xây dựng và được công nhận 10 CSCN heo an toàn LMLM và Dịch tả; 03
CSCN bò an toàn LMLM; 05 CSCN heo an toàn bệnh PRRS, Brucellose, Lepto, Aujeszky, Cúm gia cầm; 05
phường, xã an toàn bệnh Dại.
2.2. Mục tiêu đến năm 2020:
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm; phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững, hiệu quả.
- Được công nhận xã Phú Mỹ Hưng, xã An Phú huyện Củ Chi an toàn dịch bệnh LMLM, DTH; mở rộng phạm
vi vùng an toàn dịch bệnh qua liên kết các tỉnh giáp ranh thành phố. Ít nhất có 2 quận, huyện được Cục Thú y
công nhận an toàn bệnh Dại. Sau năm 2015 huyện Củ Chi được công nhận vùng an toàn dịch bệnh.
- Bảo vệ sức khỏe cộng đồng đối với các bệnh truyền nhiễm lây giữa gia súc và con người, đặc biệt là bệnh
Cúm gia cầm và bệnh Dại.
- Cung cấp sản phẩm động vật vệ sinh, an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
II. CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM NĂM 2009 - 2010
1. Công tác giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm thụ động:
1.1. Về hệ thống giám sát, thông tin dịch bệnh:
- Tiếp tục củng cố, hoàn thiện hệ thống giám sát, thông tin dịch bệnh gia súc, gia cầm; thực hiện cơ chế khen
thưởng cụ thể những thông tin có giá trị phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh nhằm phát huy tính năng
động, tích cực của người tham gia hoạt động giám sát dịch bệnh.
- Duy trì và củng cố hoạt động báo cáo dịch tễ từ hệ thống thú y cơ sở, các CSCN tập trung, khai thác hiệu
quả các báo cáo dịch tễ định kỳ phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh. Điều chỉnh quy mô chăn nuôi phải
thực hiện báo cáo dịch tễ định kỳ hàng tháng như sau: CSCN heo (quy mô > 50 heo nái, > 300 heo thịt),
CSCN trâu bò (quy mô > 50 trâu bò sinh sản, > 100 trâu bò thịt), CSCN dê cừu quy mô > 100 con.
- Mở rộng nguồn cung cấp thông tin dịch bệnh từ các hoạt động dịch vụ kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc
thú y, điều trị thú y tư nhân,…
- Xây dựng hệ thống thông tin độc lập của ngành thú y.
1.2. Chuẩn hóa công tác giám sát dịch bệnh như biểu mẫu, chế độ báo cáo, quy trình giám sát, định kỳ thông
tin mới về dịch bệnh cho hệ thống thú y cơ sở.
1.3. Tiếp tục duy trì quan hệ cung cấp thông tin dịch bệnh từ Cơ quan Thú y vùng VI, vùng VII, Chi cục Thú y
các tỉnh trong khu vực.
2. Công tác giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm chủ động:
2.1. Giám sát dịch bệnh gia súc:
a) Giám sát bệnh Cúm gia cầm:
- Lấy mẫu xét nghiệm từ các CSCN gia cầm tập trung; nuôi gia cầm trái phép; chim cảnh tại các khu vui chơi;
chim hoang dã; gia cầm nhập từ các tỉnh về thành phố để giết mổ;
- Loại hình giám sát - phương pháp xét nghiệm:
+ Giám sát huyết thanh (test HI, ELISA) đối với gà thịt (không áp dụng biện pháp tiêm phòng) 07 - 10 ngày
trước khi xuất chuồng để xác định có phơi nhiễm với loài gia cầm bị bệnh, sự an toàn của gia cầm trước khi
tiêu thụ;
+ Giám sát lưu hành vi-rút (test HI, Directigen hoặc PCR) đối với các loại gia cầm áp dụng biện pháp tiêm
phòng tại các CSCN tập trung; gia cầm tại CSGM; gia cầm nuôi, vận chuyển, kinh doanh giết mổ trái phép;
chim nuôi tại các khu vui chơi; chim hoang dã; chim cảnh của hộ dân nhằm xác định có sự bài thải vi-rút hoặc
gia cầm đã mắc bệnh trước đó;
+ Phối hợp cơ quan vùng VI, Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương I kiểm tra sự biến đổi của vi-rút (nếu
có);
+ Kiểm tra tỷ lệ bảo hộ trên đàn gia cầm tiêm phòng vắc-xin Cúm gia cầm (test HI) tại các CSCN tập trung trên
địa bàn thành phố và gia cầm nhập từ các tỉnh về thành phố giết mổ để khuyến cáo Chi cục Thú y các tỉnh
tăng cường kiểm soát tiêm phòng và quản lý đàn gia cầm khi cấp giấy chứng nhận kiểm dịch.
b) Giám sát bệnh Lở mồm long móng:
- Giám sát huyết thanh và lưu hành vi-rút LMLM (serotype O, A) đánh giá tỷ lệ bảo hộ bệnh LMLM trên heo,
trâu bò, heo nọc giống (6 tháng/lần) sau khi tiêm phòng, kiểm tra sự hiện diện của vi-rút trong đàn để phục vụ
công tác quản lý dịch tễ và công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Số lượng mẫu lấy theo phần
mềm Win-episcope 2.0.
Lấy mẫu ngẫu nhiên giám sát trên động vật hoang dã mẫn cảm với bệnh LMLM;
- Xét nghiệm xác định serotype vi-rút LMLM trong trường hợp xảy ra ổ dịch hoặc phát hiện gia súc bệnh tại
các CSGM, gia súc vận chuyển trái phép để có định hướng trong sử dụng vắc-xin phù hợp và áp dụng các
biện pháp phòng, chống dịch khẩn cấp khi xuất hiện subtype mới chưa có trong vắc-xin đang sử dụng;
- Kiểm tra hiệu giá kháng thể serotype O / A tùy theo tình hình dịch tễ hai đợt/năm (theo hai đợt tiêm phòng
LMLM trâu bò, heo) nhằm đánh giá và quản lý chặt chẽ công tác tiêm phòng; giám sát hiệu quả của vắc-xin
tiêm phòng theo từng lô để có phản ảnh về chất lượng vắc-xin cho Cục Thú y và nhà sản xuất.
c) Giám sát bệnh Dịch tả heo:
- Giám sát huyết thanh học và sự lưu hành vi-rút DTH, tỷ lệ bảo hộ bệnh DTH phục vụ công tác quản lý dịch tễ
và công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Số lượng mẫu lấy theo phần mềm Win-episcope 2.0;
- Xét nghiệm phát hiện vi-rút DTH đối với heo nọc giống (6 tháng/lần) hoặc trong trường hợp xảy ra ổ dịch
hoặc phát hiện gia súc bệnh tại các CSGM, gia súc vận chuyển trái phép; xét nghiệm kiểm tra nguồn tinh nọc
giống sử dụng trên địa bàn thành phố, xác định nguồn cung cấp, truy nguyên nguồn gốc khi phát hiện trường
hợp dương tính, theo dõi xử lý tạm ngưng khai thác, tái kiểm tra trước khi loại thải, giết mổ bắt buộc.
- Kiểm tra đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng DTH hai đợt/năm (theo hai đợt tiêm phòng) nhằm kiểm soát,
đánh giá công tác tiêm phòng và quản lý hoạt động tự tiêm của hộ chăn nuôi.
- Đánh giá hiệu quả các loại vắc-xin DTH sử dụng trên địa bàn thành phố, khuyến cáo loại vắc-xin, quy trình
tiêm phòng phù hợp cho các loại hình chăn nuôi.
d) Giám sát bệnh PRRS:
- Giám sát lưu hành vi-rút PRRS (chủng Trung Quốc độc lực cao) trên quần thể đàn nái sinh sản, heo nọc
giống (6 tháng/lần); phục vụ công tác quản lý dịch tễ. Số lượng mẫu lấy theo phần mềm Win-episcope 2.0;
- Xét nghiệm phát hiện vi-rút PRRS (chủng Trung Quốc độc lực cao) trong trường hợp xảy ra ổ dịch và mở
rộng giám sát vùng uy hiếp hoặc phát hiện gia súc bệnh tại các CSGM, gia súc vận chuyển trái phép;
- Kiểm tra đáp ứng miễn dịch và xác định hiệu giá kháng thể trên heo chưa tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng
vắc-xin hãng Besta (Singapore) hoặc vắc-xin Trung Quốc.
- Phối hợp Đại học Nông Lâm thực hiện đề tài “Đánh giá tình trạng nhiễm vi-rút PRRS trên đàn heo sinh sản
của thành phố Hồ Chí Minh, thiết lập quy trình phân biệt chủng vi-rút PRRS thực địa và chủng vi-rút vắc-xin”.
đ) Giám sát bệnh Cúm A H1N1 trên heo:
Hiện nay, Cúm A H1N1 trên người xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, chủng virus mới này có nguồn gien
tổ hợp từ cúm heo châu Á và Châu Âu, cúm heo Bắc Mỹ, cúm loài gia cầm Bắc Mỹ và cúm người, do đó việc
giám sát vi-rút Cúm A H1N1 trên heo là rất quan trọng nhằm quản lý tình hình dịch tễ, đánh giá các nguy cơ
xảy ra dịch bệnh. Giám sát dịch bệnh qua hệ thống thông tin dịch bệnh, lấy mẫu xét nghiệm giám sát huyết
thanh học, vi-rút học tại các hộ, CSCN trên địa bàn thành phố cũng như nguồn heo nhập từ vùng có nguy cơ
dịch bệnh. Phối hợp Cơ quan Thú y Vùng VI, Trung tâm bệnh Nhiệt đới khảo sát, kiểm tra cấu trúc gen để
giám sát chủ động, cảnh báo dịch tễ.
e) Giám sát bệnh Dại:
- Xét nghiệm phát hiện vi-rút Dại trong trường hợp xảy ra ổ dịch; trong mẫu bệnh phẩm từ các tỉnh thành trong
cả nước, xác định vùng có nguy cơ cao qua các năm.
- Kiểm tra tỷ lệ bảo hộ bệnh Dại tại các phường, xã xây dựng an toàn bệnh Dại, vùng đệm và trên số chó thả
rông bị bắt hàng năm nhằm đánh giá công tác tiêm phòng phục vụ công tác quản lý dịch tễ và công tác xây
dựng vùng, cơ sở an toàn bệnh Dại.
g) Giám sát các bệnh khác trên gia súc:
- Phối hợp Cơ quan Thú y Vùng VI tầm soát các bệnh khác trên gia súc như bệnh Bò điên (BSE), bệnh Tiêu
chảy trên heo (PED) và các bệnh mới phát sinh trên đàn gia súc nhập nội.
- Giám sát kiểm tra đánh giá về huyết thanh học, về sự lưu hành mầm bệnh của một số bệnh truyền nhiễm
trên gia súc (Aujeszky, PCV2) trong chăn nuôi có thể ảnh hưởng việc phát sinh hoặc làm trầm trọng hơn các
bệnh truyền nhiễm khác (PRRS, PMWS) nhằm phục vụ công tác dự báo và quản lý tình hình dịch tễ (đính
kèm phụ lục chi tiết số mẫu thực hiện giám sát dịch bệnh gia súc, gia cầm qua các năm).
h) Giám sát tại khu vực xử lý tiêu huỷ gia súc bệnh, chết:
Xét nghiệm các mẫu đất, nước, không khí/năm tại khu vực xử lý tiêu hủy gia súc, gia cầm bệnh, chết để dự
báo dịch tễ.
2.2. Kiểm tra tình hình dịch tễ hộ, cơ sở chăn nuôi:
- Đối tượng kiểm tra: Hộ chăn nuôi; CSCN gia súc, gia cầm tập trung.
- Chế độ kiểm tra:
+ Kiểm tra định kỳ (6 tháng/lần) đối với CSCN tập trung.
+ Kiểm tra hộ chăn nuôi tại thời điểm tác nghiệp công tác thú y như tiêm phòng, kiểm tra tình hình chăn nuôi,
lấy mẫu xét nghiệm, cấp KDĐV vận chuyển
+ Kiểm tra đột xuất khi có thông tin từ nguồn giám sát bị động hoặc khi có biến động về tình hình dịch tễ.
2.3. Nâng cao năng lực, trình độ chẩn đoán, giám sát dịch bệnh:
a) Đối với Trạm Chẩn đoán xét nghiệm - Điều trị, Chi cục Thú y:
+ Tiếp tục đầu tư các trang thiết bị và đào tạo, nâng cao trình độ về chuyên môn cho cán bộ đáp ứng yêu cầu
chẩn đoán, xét nghiệm dịch bệnh trên động vật; chuẩn hóa quy trình lấy mẫu,
+ Duy trì hệ thống quản lý chất lượng trong hoạt động chẩn đoán xét nghiệm theo ISO 9001:2000 và ISO/IEC
17025:2005, đến năm 2010 được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO trong lĩnh vực chẩn đoán bệnh.
+ Trình Cục Thú y công nhận năng lực phòng thí nghiệm về các loại bệnh LMLM, PRRS, DTH, Leptospira,
Brucella, Aujeszky,… có giá trị trong cả nước.
b) Đối với hệ thống thú y cơ sở:
+ Đầu tư, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn thú y cho 30% hệ thống thú y cơ sở chưa có trình độ trung
cấp chăn nuôi, thú y.
+ Tập huấn điều tra ổ dịch, các bệnh mới trên động vật, thường xuyên cập nhật thông tin mới về dịch bệnh 6
tháng/lần.
2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng bản đồ dịch tễ, cảnh báo dịch bệnh:
- Cập nhật, hoàn chỉnh bản đồ dịch tễ gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố qua các năm, hoàn thiện cơ sở
dữ liệu phục vụ điều tra dịch tễ.
- Cập nhật, hoàn chỉnh bản đồ dịch tễ gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố qua các năm.
- Khi xảy ra ổ dịch sử dụng bản đồ dịch tễ để khoanh vùng ổ dịch; xác định tình hình chăn nuôi, tiêm phòng,…
trong vùng uy hiếp; xác định tốc độ lây lan; dự báo diễn biến dịch bệnh.
- Xây dựng hệ thống cảnh báo dịch bệnh động vật theo cấp độ màu.
3. Công tác khác:
3.1. Công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh:
a) Trong năm 2009:
+ Duy trì 14 CSCN gia súc đã được công nhận an toàn dịch trong năm 2008;
+ Triển khai xây dựng và dự kiến tái công nhận 13 CSCN heo an toàn LMLM và DTH của năm 2007; công
nhận mới 05 CSCN bò an toàn LMLM; 13 CSCN heo an toàn LMLM và Dịch tả; 08 CSCN heo an toàn các
bệnh khác như PRRS, bệnh Xoắn khuẩn, bệnh Sẩy thai truyền nhiễm, Aujeszky, Cúm gia cầm,…
b) Trong năm 2010:
+ Duy trì các CSCN gia súc đã được công nhận an toàn dịch trong năm 2009;
+ Triển khai xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh và được công nhận 03 CSCN bò an toàn LMLM; 10
CSCN heo an toàn LMLM và Dịch tả; 05 CSCN heo an toàn bệnh PRRS, Brucellose, Lepto, Aujeszky, Cúm
gia cầm,…; 05 phường, xã an toàn bệnh Dại.
3.2. Công tác tập huấn, tuyên truyền: tiếp tục tập huấn, tuyên truyền cho người chăn nuôi:
- Tập huấn, tuyên truyền Pháp lệnh Thú y và các văn bản liên quan về phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm và Nghị định số 40/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thú y;
- Biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm gia súc, gia cầm nguy hiểm;
- Công tác xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật;
- Triển khai, thực hiện quy trình thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) cho các mô hình kinh tế trang trại, kinh tế
tập thể.
+ Năm 2009, triển khai 04/08 CSCN bò sữa quy mô >100 con và 05/11 CSCN heo quy mô >250 nái sinh sản.
+ Năm 2010, triển khai CSCN bò sữa quy mô >100 con và CSCN heo quy mô >250 nái sinh sản còn lại.
3.3. Quản lý tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm:
- Điều tra, thống kê tổng đàn gia súc tiến hành hai lần/năm (kết hợp Phòng Thống kê các quận, huyện);
- Tiếp tục thực hiện quản lý tình hình chăn nuôi gia súc đến tận hộ, CSCN; ứng dụng công nghệ thông tin địa
lý trong định vị hộ, CSCN và cập nhật biến động đàn.
+ Năm 2009, hoàn tất công tác định vị hộ, CSCN; nhập cơ sở dữ liệu vào phần mềm quản lý phục vụ theo dõi
tình hình chăn nuôi, dịch tễ;
+ Năm 2010, tiếp tục định vị, cập nhật hộ, CSCN mới phát sinh.
- Cấp Sổ quản lý tình hình chăn nuôi và dịch tễ bổ sung cho các hộ, CSCN gia súc phát sinh; triển khai Sổ
quản lý dịch tễ chăn nuôi gia cầm;
- Kết hợp Trung tâm Quản lý - Kiểm định giống cây trồng, vật nuôi quản lý cá thể bò sữa theo số tai.
3.4. Công tác tiêm phòng gia súc:
a) Tiêm phòng bệnh LMLM:
- Năm 2009 và các năm tiếp theo, tiếp tục duy trì tỷ lệ tiêm phòng bệnh LMLM trên trâu bò và heo (>80% tổng
đàn gia súc kiểm tra được tiêm phòng vắc-xin);
Chính sách tiêm phòng: (thực hiện như năm 2008):
+ Tiêm phòng miễn phí LMLM cho đàn trâu bò (trừ CSCN quốc doanh, cơ sở liên doanh nước ngoài);
+ Hỗ trợ 50% tiêm phòng LMLM cho các hộ chăn nuôi heo, miễn phí cho các hộ chăn nuôi thuộc diện xóa đói
giảm nghèo;
- Kiểm tra bảo hộ sau tiêm phòng đạt tỷ lệ bảo hộ > 80% trên số mẫu kiểm tra.
b) Tiêm phòng bệnh Dịch tả heo:
- Năm 2009, tập trung kiểm soát việc tự tiêm vắc-xin DTH trong hộ dân, tăng cường công tác tiêm phòng của
cơ quan thú y, quản lý tình hình kinh doanh vắc-xin DTH tại các cửa hàng thuốc thú y. Phấn đấu tiêm phòng
đạt tỷ lệ 60%; năm 2010 đạt 70% tổng đàn gia súc kiểm tra (trên cơ sở quản lý chặt chẽ tự tiêm trong hộ chăn
nuôi);
- Chính sách tiêm phòng: thực hiện như năm 2008, tiêm phòng miễn phí DTH cho hộ dân;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét