Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Ảnh hưởng xuất nhập khẩu Việt Nam đến FDI

I. Ảnh hưởng xuất nhập khẩu Việt Nam đến FDI
Đứng trên góc độ phân tích về mặt lí thuyết có thể thấy giữa ngoại
thương va đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hề tương hỗ lẫn
nhau.Nếu như hoạt động xuất nhập khẩu của một đất nước hoạt động tốt
thì đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để các nhà đầu tư nước ngoài nền
nhìn vào nền kinh tế đó, quyết định vốn đầu tư của mình. Mặt khác khi
hoạt động khi đầu tư trực tiếp nước ngoài được đẩy mạnh đặc biệt trong
lĩnh vực trong lĩnh vực xuất nhập khẩu với thì năng lực sản xuất của nước
sở tại tăng lên và hàng hoá ản xuất ra có chất lượng tốt hơn, giá thành rẻ
hơn, do đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Vậy mội quan hệ giữa ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài
được biểu hiện như thế nào?
Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu xem vì sao các hoạt động của các
doanh nghiệp FDI trong thời gian vừa qua lại đầu tư vào lĩnh vực xuất
nhập khẩu của Việt Nam nhanh và nhiều như vậy.
1.Trong cuộc hành trình 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã có bước
tiến nhảy vọt trong việc mở cửa giao lưu với các nền kinh tế nước bạn. Sự
ra đời của những chính sách thân thiện trong thương mại cũng như chính
sách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chính là yếu tố quan trọng nhất đem lại
thành công trong việc tạo lập môi trường cho các công ty FDI đầu tư vào
ngành xuất nhập khẩu tai Việt nam. Tổng xuất khẩu và nhập khẩu bằng
160% GDP đã biến nền kinh tế Việt Nam trở thành một trong những nền
kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới.
Từ năm 1980 tới nay, bắt đầu với Nghị định 40- 7/2/1980 và tới
nay là Nghị định 57CP- 31/7/1998, Nhà nước đã xoá bỏ hoàn toàn điều
kiện , các doanh nghiệp có quyền tham gia các hoạt đông ngoại thương mà
không cân cần cố điều kiện gì, chỉ cần có mã số thuế ở Cục Thuế.
Ta có thể nhận thấy ró sự thay đổi về kim ngạch xuất nhập khẩu
trong 10 năm gần đây là tù 1997 tới 2007:
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục trong suốt
thời gian 10 năm từ 1997 đến 2007. Sau thời kì khủng hoảng kinh tế 1997,
cán cân thương mại có nhiều xáo trộn. Năm 2001 là giới hạn của thời kì
này. Tất cả các chỉ số của năm này đều thay đổi rất ít so với năm 2000.
Tiếp sau đó là một thời kì tăng trưởng khá năng động của xuất nhập khẩu
với tỉ lê tăng trưởng trung bình lên đến hơn 20%. Thâm hụt thương mại
theo đó cũng tăng lên một cách đáng kể từ 1,2 tỷ năm 2001 lên tới 5,1 tỷ
năm 2006. Điều này chứng tỏ rằng Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu
vào nền kinh tế thế giới.
Trong vòng 9 năm nhập khẩu tăng lên khoảng 3,8 lần. Trong khi đó
nhập khẩu tăng 4,3 lần. Đó là một xu thế tốt và có thể nói là thành công
bước đầu của Việt Nam trong quá trình hội nhập nói chung và thể hiện
một môi trường tốt cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, góp
phần tăng tỉ trọng xuất nhập khẩu nói riêng.
2. Thêm nữa, đó là do chính sách của nhà nước ta đối với các doanh
nghiệp FDI về vấn đề XNK ngày càng được nới rộng.Chúng ta có thể nhìn
thấy rõ điều đó
Nhằm khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hút vốn
đầu tư trực tiếp của nước ngoài, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư nước
ngoài, năm 1998, Chính phủ đưa ra Nghị định số 10/1998/NĐ-CP về một
số biện pháp khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam trong đó điểm khác biệt rõ nét. Điểm dễ nhận thấy là
nhà nước khuyển khích đầu tư bằng cách điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức
ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế lợi tức theo các tiêu chuẩn khuyến
khích đầu tư ( Điều 8, 9 10, 11/ chương III). Nếu trước đây các doanh
nghiệp FDI phải uỷ thác vốn cho công ty Việt Nam thi theo Nghị định 10,
các doanh nghiệp FDI được quyền thu mua sản phẩm. Nhưng hạn chế của
Nghị định là chỉ được nhập khẩu các yểu tố đầu vào cho sản xuất, không
được kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đến năm 2001, theo Nghị định 44 ban hành 2/8/2001, thương nhân
theo quy định của pháp luật được quyền xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa,
không phụ thuộc ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu;
được nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh(điều 8).
Tới năm 2006, nhà nước ta thực hiện cam kết khi gia nhập WTO
trong đó cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần ngành nghề
được xuất nhập khẩu.các doanh nghiệp FDI “ được quyền tạm nhập hàng
hóa mà thương nhân đã xuất khẩu để tái chế, bảo hành theo yêu cầu của
thương nhân nước ngoài và tái xuất khẩu trả lại thương nhân nước ngoài.
Thủ tục tạm nhập tái xuất giải quyết tại Hải quan cửa khẩu”(điều 13).
Đồng thời cho các doanh nghiệp FDI đứng tên mở tờ khai thuế nhập khẩu
và đóng thuế.
Tới năm 2007, theo Nghi định 23 NĐ-CP, các doanh nghiệp FDI
được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp mọi hàng hoá ; được quyền phân
phối các hoạt động bán buôn, bán lẻ, đại lý mua bán hàng hoá và nhượng
quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam.(điều 3
Vào ngày 1/1/2008, theo Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12, nhà
nước cho phép các liên doanh nước ngoài góp vốn không hạn chế trong
lĩnh vực hoạt động phân phối
Phải nói rằng sau khoảng 10 năm mở rộng, nhưng sự thay đổi chính
sách kịp thời của Nhà nước ta đã có những hiệu quả to lớn .Có thể nhận
thấy chính sách của nhà nước ta càng ngày càng thông thoáng hơn đối với
các doanh nghiệp FDI.
II. Ảnh hưởng của FDI đến xuất nhập khẩu Việt Nam
1. FDI thúc đẩy ngoại thương phát triển – cải thiện cán cân thương
mại
Ông Lê Văn Được, Vụ trưởng Vụ đầu tư nước ngoài (Bộ Công
Thương) cho biết, nguồn vốn lớn mạnh FDI đã tác động rất lớn đến cán
cân xuất nhập khẩu.
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của cả nước đạt xấp xỉ 40 tỷ
USD (39,6 tỷ), tăng 22,1% so với năm 2005, vượt 4,9% chỉ tiêu kế hoạch
của Chính phủ đặt ra từ đầu năm (37,75 tỷ USD). Đặc biệt, khu vực doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục chứng tỏ vị trí chủ lực của mình
với kim ngạch chiếm 57,7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 23%
so với năm 2005; còn khu vực doanh nhiệp 100% vốn trong nước tăng
20,5% so với năm 2005.
Năm 2007, xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có những
mặt hàng có kim ngạch tăng khá cao: dệt may, điện tử máy tính, hàng thủ
công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, gỗ, cà phê, hạt tiêu,
hạt điều. Đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dầu
thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê,
gạo và cao su với kim ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Theo đó, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
đến năm 2007 đã đạt khoảng 107 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu
đạt 48 tỷ USD mà tỷ trọng của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chiếm gần 57%.
Theo báo cáo của Vụ Kế hoạch, Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất
khẩu 6 tháng đầu năm nay đạt 29,69 tỉ đô la Mỹ, tăng 31,8% so với cùng
kỳ năm trước và đây là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ nhiều năm gần
đây (6 tháng 2007 tăng 19,4%; 6 tháng 2006 tăng 25,7%; 6 tháng 2005
năm tăng 17,4%). Trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) đạt 16,92 tỉ đô la Mỹ, chiếm 57% tổng kim ngạch cả
nước, tăng 34% so với cùng kỳ.
Khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế.
Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới được nhập vào Việt
Nam như thiết kế, chế tạo máy biến thế; dây chuyền tự động lắp ráp hàng
điện tử, mạch điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ thuật số, công
nghệ sản xuất cáp điện, cáp thông tin… Nhìn chung, phần lớn các trong
thiết bị là đồng bộ, có trình độ bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến đã
có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước công nghiệp trong khu
vực. Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp,
chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế; đồng
thời cũng đem lại những mô hình quản lý tiến tiến cùng phương thức kinh
doanh hiện đại, điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự cạnh tranh lành mạnh
giữa các doanh nghiệp.
Sự tham gia của các dự án FDI vào ngành công nghiệp đã tạo ra một môi
trường kinh doanh cạnh tranh, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, đổi
mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Các dự án FDI trong lĩnh vực
công nghiệp không chỉ khai thác thị trường trong nước mà còn góp phần
làm tăng kim ngạch thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu. Điển hình như
ngành công nghiệp điện tử, mặc dù kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
điện tử năm 2005 chỉ chiếm 4% tổng kim ngạch thương mại, song đã đạt
tốc độ tăng tới 34,4%. Trong thời gian tới, khi một số dự án của các tập
đoàn lớn được đưa vào hoạt động, góp phần thúc đẩy hơn nữa xuất khẩu
của nước ta.
Trong điều kiện sản xuất nông lâm nghiệp còn thiếu vốn đầu tư thì đầu tư
trực tiếp nước ngoài đã và đang tăng cường nguồn vốn quan trọng để nâng
cao năng lực sản xuất, trang bị thêm công nghệ mới như dây chuyền sản
xuất các loại rau quả hộp, nước trái cây, một số liên doanh đã được thành
lập ở Việt Nam để xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ sản phẩm Bên cạnh
đó, các dự án FDI đã chuyển giao nhiều giống cây, con và các sản phẩm
khác đạt tiêu chuẩn quốc tế. Một số giống cây mới đã được đưa vào Việt
Nam cho năng suất cao như giống dứa Cayen, giống mía ấn Độ, Đài Loan,
châu Mỹ La tinh. Nhiều loại thiết bị chế biến đã được đưa vào Việt Nam
thuộc loại tiên tiến và hiện đại bậc nhất thế giới như dây chuyền xay xát
gạo Satake của Nhật Bản, dây chuyền sản xuất bột mỳ của Singapo,
Inđônêxia, các dây chuyền chế biến rau quả của ý, Hà Lan, các dây chuyền
chế biến thịt của úc, các dây chuyền chế biến thức ăn gia súc của Mỹ,
Pháp, Hà Lan, các dây chuyền chế biến chè của Nhật, Bỉ, Đài Loan, các
nhà máy đường của Anh, Pháp, ấn Độ, úc, Nhật, Đài Loan, liên doanh chế
biến sữa và các sản phẩm sữa, liên doanh sản xuất bia, nước giải khát, liên
doanh chế biến hải sản
Các công nghệ mới này góp phần thúc đẩy đa dạng hóa các sản phẩm nông
lâm nghiệp, tạo ra một khối lượng hàng nông sản xuất khẩu lớn, chất lượng
cao và giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Điều
này đã được khẳng định rõ trong văn kiện đại hội IX Đảng cộng sản Việt
Nam: “Trong nông nghiệp, đã ứng dụng một số thành tựu của công nghệ
sinh học; đưa một số giống mới vào sản xuất đại trà trên cơ sở áp dụng các
kết quả nghiên cứu, tuyển chọn, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi bằng công
nghệ mới và công nghệ cao”.
Tóm lại, có thể thấy FDI đầu tư vào lĩnh vực xuất nhập khẩu đã góp
phần làm tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, thúc đẩy ngoại
thương phát triển, cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam.
2. FDI và bài toán nhập siêu
“Việt Nam đang chịu mức thâm hụt thương mại lớn và phải phụ thuộc
rất nhiều vào FDI để bổ sung cho thâm hụt thương mại đó. Nhưng nếu chỉ
dựa vào FDI thì Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục phải chịu sự thâm hụt thương
mại”
Chuyên gia hàng đầu về kinh tế Việt Nam của Chương trình Phát triển
Liên hiệp quốc (UNDP), ông Jonathan Pincus, đã phát biểu như vậy trong
hội thảo tiểu vùng “Chia sẻ kinh nghiệm về việc gia nhập và thực thi các
cam kết WTO”, được tổ chức mới đây tại Hà Nội.
1.2.1. Các doanh nghiệp FDI vẫn nhập nhiều hơn là xuất
“Dòng vốn FDI rất quan trọng để các nước đang phát triển có được
công nghệ mới cho tiếp cận thị trường cũng như tăng cường năng lực quản
lí trong nước. Tuy nhiên, FDI không thể giúp Việt Nam bù đắp được thâm
hụt thương mại”, ông Jonathan Pincus nhấn mạnh.
Lí do được ông Jonathan Pincus đưa ra rất đơn giản: “Những công ty
nước ngoài tạo ra xuất khẩu nhưng cũng tạo ra nhập khẩu. Trong trường
hợp họ tạo ra nhập khẩu lượng hàng hoá lớn hơn xuất khẩu thì Việt Nam
sẽ phải chịu thâm hụt thương mại. Thực tế, điều này đang xảy ra ở Việt
Nam.”
Cục Đầu tư nước ngoài công bố: trong 6 tháng đầu năm 2008, giá trị
xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ước đạt 11,3 tỉ USD, tăng 28% so với
cùng kỳ; nhập khẩu ước đạt 13,9 tỉ USD, tăng 42,7% so với cùng kỳ năm
trước. Căn cứ vào số liệu trên có thể thấy mức thâm hụt thương mại mà
các doanh nghiệp FDI tạo ra trong 6 tháng đầu năm khoảng 2,6 tỉ USD.
Giải thích cụ thể hơn, ông Jonathan Pincus cho rằng: “Dòng vốn FDI
chiếm phần lớn trong khu vực công nghiệp. Đó là lí do tại sao Việt Nam
phải chịu thâm hụt thương mại”. Trên thực tế, việc đầu tư vào lĩnh vực
công nghiệp đòi hỏi nhiều máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, phần lớn
chỉ dựa vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu. Trong quá trình này, khi giá trị
xuất khẩu thấp hơn so với giá trị nhập khẩu, trong chừng mực nhất định, đã
chứng tỏ nguồn vốn FDI không thể nào là “cứu tinh” cho tình trạng thâm
hụt thương mại hiện nay của Việt Nam.
1.2.2. Do lạm phát tăng cao
Theo một góc nhìn nhận khác, TS. Phan Minh Ngọc, Phó chủ tịch
nghiên cứu kinh doanh của tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui, cho rằng
trong bối cảnh lạm phát tăng cao, những doanh nghiệp FDI có chiến lược
sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu sẽ phải chùn bước vì giá thành sản
phẩm trở nên kém cạnh tranh. Chỉ những dự án đầu tư để tiêu thụ sản
phẩm ngay tại Việt Nam là vẫn muốn duy trì và mở rộng sản xuất tại Việt
Nam.
“Như vậy, có thể nói lạm phát tăng cao sẽ làm thay đổi cơ cấu dòng
FDI vào Việt Nam theo hướng khá bất lợi cho Việt Nam”, ông Ngọc nói.
Trong khi đó, thống kê của Tổng cục Thống kê, nhập siêu hàng hoá 6
tháng đầu năm 2008 ước tính là 14,8 tỉ USD, bằng 49,8% kim ngạch xuất
khẩu, tăng 184,6% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 0,7 tỷ USD so với
mức nhập siêu của cả năm 2007. Nhập siêu chủ yếu là nhập nguyên, nhiên
vật liệu từ thị trường các nước trong khu vực. Như vậy, thâm hụt thương
mại từ các doanh nghiệp FDI chiếm gần 18% trong tổng thâm hụt của cả
nước trong 6 tháng đầu năm.
Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam rất lớn
nhưng sản xuất hầu hết phục vụ nhu cầu trong nước. Trong khi khu vực tư
nhân rất nhỏ bé, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ. Sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp này tương đối yếu, những sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia
tăng cao rất ít. Tổng hoà của 3 khu vực này, theo ông Jonathan Pincus, đã
khiến cho Việt Nam phải chịu thâm hụt thương mại.
1.2.3. Doanh nghiệp FDI được quyền nhập khẩu hàng hóa
Trong văn bản cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh
nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hoá như
người trong nước kể từ khi gia nhập. Nghị định 23/2007/NĐ-CP được ban
hành ngày 12/02/2007 chính là bước cụ thể hoá cam kết này.
Nghị định 23 “quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua
bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” là một trong hai
nghị định Việt Nam phải ban hành trong vòng 30 ngày sau khi ký Nghị
định thư gia nhập WTO. Nghị định còn lại là nghị định “về hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt
Nam”.
Trước đây, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép
trực tiếp nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu và hàng hoá cho
hoạt động đầu tư; trực tiếp xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài.
Nay với Nghị định 23 này, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
quyền xuất nhập khẩu trực tiếp mọi hàng hoá (trừ năm nhóm hàng hoá
dành riêng cho doanh nghiệp thương mại nhà nước gồm xăng dầu, thuốc lá
điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà
Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và dược
phẩm).
Tuy nhiên, quyền xuất nhập khẩu trực tiếp này không đồng nghĩa với
quyền phân phối hàng hoá. Doanh nghiệp được cấp phép sẽ có quyền xuất
nhập khẩu để bán sản phẩm nhập khẩu cho cá nhân hay doanh nghiệp có
quyền phân phối sản phẩm đó tại Việt Nam. Cụ thể, điều 3 của nghị định
giải thích: “Quyền xuất khẩu không bao gồm quyền tổ chức mạng lưới
mua gom hàng hoá tại Việt Nam để xuất khẩu” và “Quyền nhập khẩu
không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hóa
tại Việt Nam”.
Từ ngày 01/01/2008, nước ngoài mới được liên doanh không hạn chế
tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trong dịch vụ phân phối (đại lý hoa hồng, bán
buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại); và từ 01/01/2009 nước ngoài
mới được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong dịch vị
phân phối.
Theo Nghị định 23, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm cấp giấy phép
kinh doanh để hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan
trực tiếp đến mua bán hàng hoá cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư sau khi
có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của bộ Thương Mại.
Tất cả những nguyên nhân cho thấy hiên tại khu vực FDI vẫn không
khiến chúng ta có thể giảm lượng nhập khẩu, giải quyết bài toán nhập siêu.
Xem xét 1 số ví dụ :
Một số DN ôtô có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới đây đã
xin được giấy phép nhập khẩu ôtô nguyên chiếc, báo hiệu sự cạnh tranh
khốc liệt trên thị trường ôtô thời gian tới.
Ngày 28/12/2007, Toyota Việt Nam là DN đầu tiên được cấp phép
nhập khẩu xe nguyên chiếc. Đến nay đã có thêm Mercedes-Benz Việt Nam
và một số DN khác như Ford Việt Nam, Honda Việt Nam, GM- Daewoo
cũng đang xin giấy phép này.
Nhận xét về việc các DN FDI được nhập khẩu xe nguyên chiếc, tất cả
các ý kiến đều thừa nhận chẳng khác nào "rồng được chắp cánh". Các DN
FDI ôtô Việt Nam vốn là những đại gia, họ chiếm giữ phần lớn thị trường
xe trong nước, nay lại tiếp tục mở rộng sang thị phần xe nhập khẩu thì đã
mạnh lại càng mạnh hơn.
Khi các DN FDI được nhập khẩu xe nguyên chiếc thì điều chắc chắn
là sẽ có nhiều mẫu xe mới với nhiều thương hiệu nổi tiếng được đưa vào
Việt Nam. Tại lễ ra mắt mẫu xe MPV Chevrolet Vivant ngày 25/1/2008,
Tổng giám đốc Công ty Ôtô GM-Daewoo Việt Nam Jung-In Kim cho biết,
nếu GM Daewoo được nhập khẩu thì có thể sẽ đưa về Việt Nam cả 13
thương hiệu của Tập đoàn General Motor như: Opel, Chevrolet, Cadillac,
GMC, Hummer, Saab, Saturn…
Ford hay Toyota Việt Nam cũng vậy, họ hoàn toàn có thể nhập khẩu
rất nhiều mẫu xe với các nhãn hiệu xe như Jaguar, Aston Martin, Land
Rover, Lincoln, Mercury, Volvo (Ford); Lexus, Scion (Toyota).
Điều này sẽ làm cho thị trường xe nhập khẩu trở nên phong phú và
tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với xe nhập khẩu của các nhà nhập khẩu
Việt Nam cũng như với xe sản xuất lắp ráp trong nước.
Tuy nhiên, theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), kể từ ngày 1/1/2009 các doanh nghiệp FDI mới được
phép phân phối xe nguyên chiếc. Những DN đã có giấy phép nhập khẩu
hiện chỉ giới hạn được phân phối xe nhập thông qua 1 đại lý. Điều này đã
hạn chế phần nào "sức mạnh" của họ, nhưng cũng chỉ còn 4 tháng nữa là
"cuộc chơi" bắt đầu. Các DN như Ford Việt Nam, Honda Việt Nam, GM -
Daewoo cho biết chắc chắn 2009 họ sẽ vào cuộc.
Các phân tích cho thấy, DN FDI chắc chắn sẽ có nguồn nhập khẩu xe
dồi dào bởi được tiếp sức từ các công ty mẹ. Không những thế giá cả cũng
có nhiều lợi thế và họ có tiềm lực để nhập khẩu xe với số lượng lớn. Bên
cạnh đó, các DN FDI cũng có lợi thế lớn với hệ thống bán hàng và dịch vụ
chuyên nghiệp rộng khắp đã được xây dựng từ lâu, nên những khách hàng
mua xe sẽ được hưởng lợi.
Những lợi thế mà các DN FDI có lại là những hạn chế của các DN
nhập khẩu ôtô của Việt Nam. Hiện nay các DN nhập khẩu ôtô Việt
Nam chủ yếu phải nhập xe qua trung gian, yếu tố giá cả không có nhiều
thuận lợi, vốn lại ít, nguồn xe nhập cũng không khai thác được nhiều và
thiếu hệ thống bán hàng, dịch vụ chuyên nghiệp. Nhiều nhà nhập khẩu của
Việt Nam hiện chỉ bán xe cho khách hàng xong là hết trách nhiệm, việc
bảo hành bảo dưỡng tự khách hàng lo. Nếu khách hàng đưa xe vào những
cơ sở bảo hành của các DN FDI thì phải chịu 1 cái giá khác, cao hơn so
với khách hàng mua xe từ DN FDI.
Doanh nghiệp trong nước sẽ làm gì ?
Để cạnh tranh, các nhà nhập khẩu ôtô Việt Nam cho biết họ đang lên
kế hoạch chuẩn bị như đẩy mạnh tìm kiếm khai thác nguồn hàng với giá
hợp lý, mẫu mã phong phú, hỗ trợ khách hàng dịch vụ sau bán hàng và
thành lập Hiệp hội các nhà nhập khẩu ôtô Theo ông Tâm sắp tới thị
trường ôtô nhập khẩu sẽ bước vào "cuộc chơi" khốc liệt, nhưng giá xe sẽ
hợp lý hơn, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều từ cạnh tranh này.
Đối với xe sản xuất lắp ráp trong nước, các DN FDI khẳng định việc
nhập khẩu xe nguyên chiếc không ảnh hưởng đến xe trong nước. Nhiều
DN FDI vẫn coi xe sản xuất lắp ráp trong nước là sản phẩm chính và vẫn
đầu tư cho ra đời nhiều mẫu mã mới. Những mẫu xe nhập khẩu chỉ là
những mẫu xe trong nước chưa sản xuất lắp ráp được. Qua nhập khẩu
thăm dò thấy mẫu xe nào có nhu cầu với số lượng lớn sẽ tiến hành sản xuất
lắp ráp trong nước. Bên cạnh đó để cạnh tranh với xe nhập khẩu thì xe sản
xuất trong nước bắt buộc phải nâng cao chất lượng và hạ giá thành Điều
này cuối cùng người tiêu dùng cũng được hưởng lợi.
Tuy nhiên, nhiều lo ngại cho rằng khi xe nhập khẩu về nhiều, mà
người tiêu dùng Việt Nam vốn vẫn đánh giá cao xe ngoại thì xe trong
nước sẽ mất đi một bộ phận khách hàng, nhiều mẫu xe có nguy cơ sẽ tiêu
thụ chậm hoặc giảm số lượng, điều này ngay lập tức tác động tới quyết
định của nhà sản xuất. Rất có thể có những DN sẽ giảm sản xuất và tăng
nhập khẩu - ông Trần Bá Dương Tổng giám đốc Công ty ôtô Trường
Hải nói. Nếu ngành công nghiệp ôtô không có điều chỉnh để khuyến khích
sản xuất trong nước thì sẽ gặp khó khăn. Công nghiệp phụ trợ không phát
triển được, lực lượng lao động thu hút vào giảm và cơ hội để làm chủ
công nghệ sẽ mất
Sony sẽ đóng cửa nhà máy sản xuất tại Việt Nam
Nhà máy tại Sony Việt Nam do Sony Nhật Bản liên doanh với
Viettronics Tân Bình, thành lập từ năm 1994. Sản phẩm sản xuất gồm
bóng đèn hình, tivi, đầu đĩa, dàn âm thanh, máy ảnh và máy quay kỹ thuật
số… Sau khi kết thúc thời hạn liên doanh vào năm 2004, hai bên đã tiếp
tục gia hạn đến năm 2010. Tính đến thời điểm hiện nay Sony Việt Nam
đầu tư khoảng 16.6 triệu USD.
Từ tháng 9, nhà máy sản xuất của Sony sẽ đóng cửa sau 14 năm hoạt
động tại Việt Nam, kèm theo đó 200 công nhân sẽ nghỉ việc.
Thông tin trên chính thức được đưa ra ngày 24/7, từ một đại diện của
liên doanh Sony Việt Nam. Trả lời câu hỏi “Phải chăng việc đóng cửa nhà
máy tại Việt Nam là do sản xuất kinh doanh không hiệu quả, hoặc do Sony
nhận thấy tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này khó khăn nên rút
lui?”, đại diện này cho biết lý do hoàn toàn khác.
Theo thông tin từ tập đoàn sản xuất đồ điện tử này, quyết định đóng
cửa nhà máy không vì không hiệu quả hay bị tác động bởi tình hình kinh tế
ở Việt Nam, mà vì Sony muốn thay đổi chiến lược, chuyển sang thương
mại.
Kể từ năm 2009, theo lộ trình mở cửa WTO, Việt Nam sẽ cho công ty
nước ngoài nhập máy móc điện tử. Sony cho rằng việc nhập máy móc vào
bán ở Việt Nam sẽ hiệu quả hơn đầu tư.
Theo xu hướng hiện nay thì người tiêu dùng ưa chuộng sử dụng tivi
LCD thay vì dùng tivi bóng đèn hình, vì vậy tập đoàn Sony đã quyết định
ngừng sản xuất và kinh doanh mặt hàng tivi bóng đèn hình ở hầu hết các
nước trên thế giới. Ở Việt Nam, tivi bóng đèn hình lại là mặt hàng sản xuất
chính của Sony trong khi các mặt hàng sản xuất khác với số lượng không
nhiều, nếu tiếp tục duy trì sản xuất sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế.
“Mặc dù Sony Việt Nam đã cố gắng duy trì sản xuất mặt hàng tivi
bóng đèn hình nhưng không thể kéo dài vì nhu cầu ngày càng giảm và các
nhà cung cấp toàn cầu đã ngừng cung cấp linh kiện” - đại diện này cho
biết.
Cùng với việc đóng cửa nhà máy này, sẽ có 200 công nhân được cho
nghỉ việc. Tuy nhiên liên doanh Sony Việt Nam (giữa Sony Nhật Bản với
Viettronics Tân Bình) vẫn tiếp tục hoạt động, và 240 lao động gián tiếp
vẫn tiếp tục làm việc. Đồng thời Sony lập công ty mới Sony Electronics
Vietnam Co., Ltd với 100% vốn nước ngoài, chuyên nhập khẩu sản phẩm
của Sony từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam.
2. Ảnh hưởng của cơ cấu đầu tư FDI tới XNK của Việt Nam
Về lý luận, cơ cấu đầu tư FDI có thể dẫn tới hạn chế hay thúc đẩy ngoại
thương. Một khoản đầu tư nước ngoài nếu không được hướng vào mở
mang và phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu thì khả năng xuất khẩu và
nhập khẩu đều bị thu hẹp. Xuất khẩu là điều kiện quan trọng mở rộng quy
mô đầu tư vào thị trường nhập khẩu.
Trên thực tế, tính đến tháng 12/2007, xét cơ cấu đầu tư theo ngành, thì tỉ
trọng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp còn thấp và thiếu ổn
định. Trong khi ngành công nghiệp nặng chiếm tới 45,5%, công nghiệp
nhẹ chiếm 32,7%, thì lĩnh vực nông, lâm nghiệp chỉ chiếm có 7,6%.
Trong giai đoạn từ 1988 đến tháng 9/2007, đã có 8.058 dự án FDI được
triển khai ở Việt Nam. Lượng vốn đầu tư trong gần 20 năm đạt đến con số
72,86 tỉ USD nhưng cho đến thời điểm 9/2007 mới chỉ thực hiện được
khoảng 42,5% – một hiệu suất không hề cao. Nếu bổ ra theo các ngành
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì càng thấy rõ.
Bảng trên cho thấy có rất ít vốn đổ vào ngành nông nghiệp, nhiều nhất và
vượt trội là vốn đầu tư vào ngành công nghiệp. Lượng vốn đầu tư vào
mảng dịch vụ chỉ bằng một nửa.
Có thể phân tích ảnh hưởng của FDI tới XNK Việt Nam bằng cách bổ dọc
các ngành kinh tế thu hút vốn FDI: ngành công nghiệp, ngành dịch vụ,
ngành nông nghiệp và lĩnh vực bất động sản.
2.1. FDI bị thu hút mạnh vào công nghiệp
Trong tổng số 1.445 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép trong năm
2007, có 823 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp.Các dự án này có tổng
số vốn đăng ký 8,06 tỷ USD, chiếm 57% tổng số dự án đầu tư nước ngoài
và 45,2% tổng số vốn đăng ký cả nước.
Theo nhận định của Bộ Công Thương, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
trong công nghiệp có lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có
thị trường ổn định, được khuyến khích bằng các cơ chế, chính sách ngày
càng thông thoáng nên trong những năm qua đã phát triển khá nhanh và ổn
định, luôn có xu hướng tăng nhanh hơn các khu vực khác trong nền kinh
tế.
Đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã gián tiếp đào tạo cho Việt
Nam một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với công
nghệ mới, cũng như các kỹ năng quản lý tiên tiến, kỷ luật công nghiệp chặt
chẽ. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc tận dụng trình độ chuyên môn
kĩ thuật để tìm ra phương hướng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Trong những năm gần
đây, dòng vốn FDI tập trung ngày càng nhiều vào việc xây dựng các khu
công nghiệp và khu chế xuất,sản xuất ra thành phẩm để xuất khẩu. Điển
hình là siêu dự án lớn nhất nước ta hiện nay đang được triển khai . Đó là
dự án do tập đoàn công nghệp nặng Formosa của Đài Loan đầu tư vào xây
dựng nhà máy liên hợp thép tại khu kinh tế Vũng Áng– Hà Tĩnh với tổng
số vốn đẩu tư lên tới 7,9 tỷ USD. Theo báo cáo của Formosa, dự án Nhà
máy liên hợp thép được thực hiện theo 2 giai đoạn, có tổng công suất 15
triệu tấn/năm với các sản phẩm như phôi thép, thép tấm cuộn cán nóng,
thép thành phẩm…. để xuất khẩu. Nguồn quặng để sản xuất thép bước đầu
sẽ nhập từ nước ngoài sau đó sử dụng quặng sắt từ mỏ Thạch Khê.Nếu
được cấp giấy phép Formosa sẽ khởi công nhà máy vào giữa năm 2008 và
dự kiến đưa nhà máy vào hoạt động cuối năm 2011.
2.2. Đầu tư FDI vào ngành dịch vụ tăng – một dấu hiệu đáng mừng
Theo UNCTAD – Diễn đàn Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, tỷ
trọng dịch vụ trong xuất nhập khẩu hiện chiếm khoảng 70% giá trị xuất

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét