ĐẶT VẤN ĐỀ
Những rủi ro có thể tiềm ẩn trong cuộc sống nó đe doạ tới sức khoẻ, tính mạng
con người, của cải vật chất trên phạm vi toàn xã hội. Các rủi ro đó xuất phát từ nhiều
nguồn khác nhau, nhưng hầu hết khi nó đã xảy ra thì để lại những hậu quả đáng kể,
thậm chí rất lớn cho người bị thiệt hại, gây khó khăn trong cuộc sống, đôi khi họ
không thể tự khắc phục được. Hoạt động bảo hiểm đã ra đời làm hạn chế thiệt hại do
rủi ro, trong các trường hợp này, nếu người gặp rủi ro đã tham gia bảo hiểm và rủi ro
mà họ gặp đã được bảo hiểm, thì bằng nguồn vốn của mình, công ty bảo hiểm thực
hiện việc chi trả tiền bảo hiểm một cách kịp thời. Từ đó người gặp rủi ro sẽ dễ dàng
vượt qua được khó khăn do rủi ro đã mang đến. Và một trong số các dạng hợp đồng
bảo hiểm phổ biến đó là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1.1 Thế nào là hợp đồng bảo hiểm?
Trước hết ta có thể hiểu Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền
được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong
trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách
nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của
thống kê.
Tại Điều 567 BLDS quy định hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên,
theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một
khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Như vậy hợp
đồng bảo hiểm là việc tổ chức bảo hiểm cam kết bảo đảm bồi thường một số tiền nhất
định cho cá nhân, tổ chức khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và có gây thiệt hại cho đối
tượng được bảo hiểm trong một thời gian nhất định, còn bên mua bảo hiểm phải đóng
một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm.
1
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có đền bù. Hoạt động bảo hiểm là hành vi kinh
doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, muốn được bảo hiểm về tài sản thì các
chủ thể phải mua phí bảo hiểm theo thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu
cầu bên mua bảo hiểm phải thông báo tình trạng của đối tượng bảo hiểm…có nghĩa vụ
trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng
phí bảo hiểm và có quyền yêu cầu bên bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận
hoặc theo quy định của pháp luật.
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Trường hợp bên mua
bảo hiểm có chỉ định người thụ hưởng là người thứ ba, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,
bên bảo hiểm chi trả cho người thứ ba được xác định. Hoặc bên mua bảo hiểm không
phải bảo hiểm cho mình mà bảo hiểm cho người thứ ba.
Đối tượng bảo hiểm có thể là con người, tài sản, trách nhiệm dân sự hay các đối
tượng khác theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, hợp đồng
bảo hiểm có thể được phân chia thành các loại sau: Hợp đồng bảo hiểm con người,
hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Việc tham gia
bảo hiểm của các bên phải được thực hiện bằng hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm phải
được lập thành văn bản. Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ kí của bên mua bảo hiểm. Giấy
chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm là bằng chứng cho việc giao kết hợp đồng
bảo hiểm.
1.2 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Theo ý kiến của em thì có thể hiểu rằng: Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
là hợp đồng có sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm (doanh nghiệp bảo
hiểm) với bên tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân), theo đó doanh nghiệp bảo hiểm
cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho
bên được bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp
đồng, còn bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.
2
Căn cứ vào tính ý chí của chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm thì bảo hiểm trách
nhiệm dân sự được chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt
buộc và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh trách nhiệm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chia
thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh theo hợp đồng và
hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh ngoài hợp đồng.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm cụ thể, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
chia thành các loại là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm của chủ đóng tàu, bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không
đối với hành khách, bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bảo hiểm trách nhiệm sản
phẩm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động đối với người lao động,
các loại bảo hiểm trách nhiệm khác.
2. Một số đặc trưng về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự mang những đặc điểm chung của hợp
đồng bảo hiểm, tuy nhiên nó cũng có những đặc trưng riêng.
Đối tượng trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm về bồi
thường thiệt hại, là loại bảo hiểm không thể xác định được giá trị đối tượng bảo hiểm
tại thời điểm giao kết hợp đồng. “ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân
sự là trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba theo quy
định của pháp luật ” (Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm).
Hợp đồng bảo hiểm tài sản có đối tượng là tài sản cụ thể, hợp đồng bảo hiểm con
người là bảo hiểm đối với một người cụ thể còn đối tượng của hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người tham gia bảo hiểm
đối với bên thứ ba. Đó là thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai, trong phạm vi, giới
hạn bảo hiểm và thuộc trách nhiệm bồi thường của bên tham gia bảo hiểm.
3
Chỉ khi nào người tham gia bảo hiểm gây thiệt hại cho người khác và phải bồi
thường thì mới xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại là bao nhiêu. Thường
đối với các hợp đồng bảo hiểm tài sản ta có thể xác định được mức tổn thất tối đa của
tài sản khi giao kết hợp đồng, còn với các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì
không thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại tối đa là bao nhiêu.
Mức trách nhiệm bồi thường được xác định theo thoả thuận của các bên và các
quy định của pháp luật, trên cơ sở mức độ lỗi của người gây thiệt hại và thiệt hại thực
tế của người thứ ba. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện:
Có hành vi gây thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với người thứ ba; có lỗi của
người gây thiệt hại; có thiệt hại thực tế đối với bên thứ ba; thiệt hại xảy ra là kết quả
tất yếu của hành vi gây thiệt hại và ngược lại hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây ra
thiệt hại.
Lỗi của người tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại là căn cứ để
xác định trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm, đồng thời cũng là căn
cứ để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. Căn cứ vào mức độ lỗi để xác
định người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ, một phần hoặc liên đới bồi thường,
từ đó doanh nghiệp bảo hiểm xác định trách nhiệm bồi thường của mình.
Nếu đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng người thứ ba không đòi
người tham gia bảo hiểm phải bồi thường, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không phải
chịu trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Chỉ khi nào có yêu cầu bồi thường
của bên thứ ba thì doanh nghiệp bảo hiểm mới phải bồi thường.
Việc bồi thường thiệt hại có thể là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng có
thể là bồi thường thiệt hại theo hợp đồng. Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng thì người thứ ba có thể là bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào bị thiệt hại. Còn bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng thì người thứ ba được xác định cụ thể là người có một
quan hệ hợp đồng đối với người tham gia bảo hiểm và bị thiệt hại từ hợp đồng đó do
hành vi của người tham gia bảo hiểm gây ra.
4
Hợp đồng bảo hiểm chỉ tồn tại giữa người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp
bảo hiểm, người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp trả tiền bồi
thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu pháp luật không có quy định
khác thì người thứ ba chỉ có quyền đòi bồi thường đối với người tham gia bảo hiểm,
trên cơ sở đó doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm
và trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba thuộc về người tham gia bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm có thể thoả thuận về việc doanh nghiệp
bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người thứ ba bị thiệt hại. Trong một số trường
hợp, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại; khắc phục kịp thời
thiệt hại vật chất góp phần bình ổn tài chính đối với người bị thiệt hại, pháp luật quy
định người thứ ba có thể trực tiếp khiếu nại đến doanh nghiệp bảo hiểm để yêu cầu bồi
thường.
Trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể giới hạn trách nhiệm bảo
hiểm hoặc không giới hạn trách nhiệm bảo hiểm. Để đảm bảo lợi ích kinh doanh của
doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời nâng cao ý thức của người tham gia bảo hiểm, các
danh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra các giới hạn trách nhiệm xác định mức bồi
thường tối đa của doanh nghiệp bảo hiểm đối với những hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự cụ thể.
Khi gây thiệt hại, mức trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm có
thể là rất lớn, song mức trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trong
phạm vi số tiền bảo hiểm mà các bên đã thoả thuận. Trong bảo hiểm trách nhiệm dân
sự có một số nghiệp vụ bảo hiểm không xác định số tiền bảo hiểm mà trách nhiệm dân
sự phát sinh bao nhiêu doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường bấy nhiêu. Trường hợp
này số tiền bảo hiểm được hiểu là toàn bộ thiệt hại xảy ra. Điều khoản số tiền bảo
hiểm được đặt ra nhằm mục đích giới hạn phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp bảo
hiểm, để đảm bảo kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp bảo hiểm phải tính toán để giới
5
hạn phạm vi trách nhiệm của mình trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cụ
thể.
Đối với một số trường hợp ngoại lệ, khi doanh nghiệp bảo hiểm ký hợp đồng với
người tham gia bảo hiểm, trong hợp đồng không xác định số tiền bảo hiểm cụ thể thì
khi rủi ro xảy ra doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ bảo hiểm toàn bộ đối với thiệt
hại.
3. Nguyên nhân ra đời và vai trò của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Cuộc sống sinh hoạt, lao động, sản xuất của con người luôn luôn gắn liền với môi
trường xung quanh đó là thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ tạo cho con người những
điều kiện thuận lợi mà còn mang đến cho con người bao nhiêu điều bất hạnh như:
động đất, núi lửa, mưa bão…. Không những thiên nhiên mà ngay cả con người cũng
có thể gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác.
Pháp luật quy định: vốn, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
được nhà nước bảo hộ; bất kì tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại cho người khác thì
phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra. Thiệt hại xảy ra có
thể là rất lớn, nó vượt quá khả năng tài chính của người có trách nhiệm, đồng thời ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống của người có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt
hại. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế chắc chắn để khắc phục điều đó.
Nhiều khi người gây thiệt hại không đủ khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ bồi
thường, nên đối với người gây ra thiệt hại bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế
đảm bảo trách nhiệm bồi thường của họ khi họ gây ra thiệt hại cho người khác.
Đối với người bị thiệt hại bảo hiểm trách nhiệm dân sự tạo cho họ một tâm lý yên
tâm khi những thiệt hại của họ được một doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra bồi thường
thay cho người tham gia bảo hiểm. Về phía doanh nghiệp bảo hiểm họ có quyền thu
phí bảo hiểm từ khách hàng song không phải lúc nào họ cũng phải đứng ra bồi thường
thay cho khách hàng. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời đóng vai trò chia sẻ gánh
nặng rủi ro về tài chính cho người có hành vi gây thiệt hại; khắc phục kịp thời thiệt hại
6
về vật chất của bên thứ ba bị thiệt hại; góp phần bình ổn đời sống vật chất của các chủ
thể trong xã hội. Đặc biệt điển hình là các vụ tai nạn giao thông, đó là nỗi khiếp sợ và
ám ảnh của mỗi người dân vì thiệt hại của nó gây ra không hề nhỏ nguyên nhân là do
tình hình phương tiện giao thông gia tăng chóng mặt song cơ sở hạ tầng của giao
thông vận tải không đáp ứng kịp, còn chưa đồng bộ, yếu kém. Chính vì vậy, Nhà nước
khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia vào bảo hiểm nhằm giải quyết các
thiệt hại một cách kịp thời nhất.
4. Khái quát các quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự.
Bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu khách quan của con người và ra đời từ rất lâu
trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm trách nhiệm dân
sự nói riêng ra đời tương đối muộn. Sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm gắn
liền với những sự kiện lịch sử của đất nước.
Trước thời kỳ đổi mới chưa có văn bản luật chính thức nào điều chỉnh các lĩnh
vực thuộc bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Sau thời kỳ đổi mới kinh tế được 10 năm, nền kinh tế Việt Nam đã có những
bước phát triển vượt bậc, lạm phát đã được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt
mức cao từ 6 - 9 %/ năm, môi trường kinh tế- xã hội và môi trường pháp lý có nhiều
thuận lợi hơn. Cùng với sự phát triển thì hàng loạt các rủi ro không những do thiên tai
mà còn do cả con người gây ra khiến người ta quan tâm hơn đến loại hình bảo hiểm
trách nhiệm dân sự để nhằm giảm thiểu thiệt hại, nhanh chóng khắc phục những rủi ro
đó.
Sau Nghị định 100 /CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm,
từ năm 1994 đến nay, nhiều công ty bảo hiểm mới được cấp phép hoạt động. Có thể
nói, Nghị định 100 /CP ra đời là một bước ngoặt có tính cách mạng đối với thị trường
bảo hiểm Việt Nam. Nghị định này đã thể hiện chủ trương phát triển một ngành đa
thành phần của nhà nước ta.
7
Ngày 09 tháng 12 năm 2000 Quốc Hội đã thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm,
tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Nhờ có Luật
kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh bình đẳng hơn và đang
thực sự là động lực thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam, trong đó có bảo hiểm
trách nhiệm dân sự.
Ngày 16-9-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/2008/NĐ-CP quy
định về bảo hiểm bắt buộc (BHBB) trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; quyền và
nghĩa vụ của chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm; trách nhiệm của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương trong việc thực hiện BHBB trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thay cho
Nghị định số 115/1997/NĐ-CP ngày 17-12-1997.
II. Những quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự.
1. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
1.1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm gồm: Bên nhận bảo hiểm (bên bán bảo
hiểm) và bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm).
Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và
cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Theo quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân
và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh nghiệp bảo hiểm.
Bên tham gia bảo hiểm là bên đã nộp cho bên nhận bảo hiểm một khoản tiền là
phí bảo hiểm. Khác với bên nhận bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm là bất kỳ tổ chức,
cá nhân nào khi có nhu cầu bảo hiểm về một đối tượng bảo hiểm nhất định hoặc trong
trường hợp pháp luật buộc phải tham gia bảo hiểm về một trách nhiệm dân sự nhất
định. Nếu bên tham gia bảo hiểm là cá nhân thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự.
Năng lực hành vi dân sự là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện kiểm soát
8
và làm chủ hành vi của mình. Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm bao gồm: cá nhân,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình….
1.2. Hình thức của hợp đồng bảo hiểm bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự được quy định theo pháp luật dưới hình
thức văn bản có hai dạng:
- Hình thức của hợp đồng bảo hiểm được thiết kế dưới dạng giấy chứng nhận
bảo hiểm, trong trường hợp mà việc tham gia bảo hiểm là bắt buộc theo quy định của
pháp luật thì người tham gia bảo hiểm thường phải chứng minh với người thứ ba rằng
họ đã tham gia bảo hiểm và hợp đồng đó đang có hiệu lực pháp luật . Nghĩa là họ luôn
phải mang theo bên mình một bằng chứng chứng minh hợp đồng bảo hiểm đang có
hiệu lực.
Ví dụ: người điều khiển xe máy phải luôn mang giấy chứng nhận bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe máy, nếu không việc cho lưu thông chiếc xe đó là
vi phạm.
- Đơn bảo hiểm thường là hình thức của hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, có thể
có các dạng khác nhau và thường bao gồm nhiều trang. Các thông tin ghi trên đơn chi
tiết, cụ thể tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm: tên, địa chỉ của chủ
doanh nghiệp bảo hiểm; bên mua bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm;
phạm vi bảo hiểm; điều kiện bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời
hạn bảo hiểm; mức phí và phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; giải quyết
tranh chấp. Đơn bảo hiểm thường kèm theo các phụ lục để chi tiết hoá các thông tin
đặc điểm của từng khách hàng cụ thể, đồng thời giải thích thuật ngữ trong đơn bảo
hiểm. Nội dung đơn bảo hiểm gồm phần mở đầu; phần quy định về các điều khoản
chính; phần quy định về các điều khoản loại trừ; phần quy định về các điều kiện; chữ
ký, ghi rõ họ tên của người đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm.
1.3. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
9
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của người tham gia bảo hiểm. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại khi có đủ bốn yếu tố:
- Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật.
Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là những hành vi xâm phạm tới tài sản, sức
khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể khác được thực hiện không phù hợp với quy định của pháp luật (trừ hành vi gây
thiệt hại trong các trường hợp trong giới hạn phòng vệ chính đáng, trong giới hạn của
tình thế cấp thiết, do sự kiện bất ngờ).
- Có thiệt hại xảy ra.
Chỉ khi có thiệt hại xảy ra thì mới phải bồi thường; vì vậy cần phải xác định xem
có thiệt hại xảy ra hay không và thiệt hại là bao nhiêu. Để từ đó khắc phục một phần
hoặc toàn bộ tổn thất tài chính cho người bị thiệt hại.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại
xảy ra.
- Có lỗi của người gây thiệt hại.
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉ là trách nhiệm về bồi
thường thiệt hại do hành vi vô ý gây ra. Vì bản chất của bảo hiểm là chỉ bảo hiểm rủi
ro nên phạm vi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm chỉ bao gồm các thiệt hại do hành
vi vô ý; do súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng gây ra; không bảo hiểm với
những thiệt hại do hành vi cố ý gây ra.
1.4. Sự kiện bảo hiểm.
Điều 571BLDS quy định: “ sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên
thoả thuận hoặc do pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải
trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm ”. Các quan hệ bảo hiểm được hình thành từ
thời điểm hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, song bên bảo hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa
10
vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm khi sự
kiện bảo hiểm xảy ra.
Sự kiện bảo hiểm là những rủi ro xảy ra nằm ngoài ý chí của các bên tham gia
hợp đồng bảo hiểm và đã gây ra những tổn thất nhất định trong phạm vi bảo hiểm đã
được xác định trước theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
1.5. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm và loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra trong đời sống dân sự rất phong phú, đa
dạng; và doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm đối với những
khoản tài chính mà theo quy định của pháp luật người tham gia bảo hiểm phải có trách
nhiệm bồi thường cho người thứ ba bị thiệt hại. Vì vậy giới hạn trách nhiệm bảo hiểm
là công việc không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và là một trong
những nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm. Việc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm
làm cho nhà bảo hiểm chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống có phát sinh
trách nhiệm và đánh giá được mức độ bồi thường tối đa trong từng tình huống có phát
sinh trách nhiệm đối với từng hợp đồng cụ thể. Ngoài ra nhà bảo hiểm cũng có thể
chia sản phẩm của mình thành nhiều mức khác nhau cho phù hợp với thị trường.
Người tham gia bảo hiểm sẽ chỉ được bảo hiểm trong phạm vi giới hạn bảo hiểm đó
mà không được bảo hiểm cho toàn bộ trách nhiệm dân sự của mình đối với người thứ
ba, họ phải tự thực hiện phần trách nhiệm vượt quá giới hạn bảo hiểm đối với người
thứ ba.
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là một trong những điều khoản bắt
buộc phải có của hợp đồng bảo hiểm được quy định tại khoản 1, Điều 16: “ i u kho nĐ ề ả
lo i tr trách nhi m b o hi m quy nh tr ng h p doanh nghi p b o hi m không ph i b iạ ừ ệ ả ể đị ườ ợ ệ ả ể ả ồ
th ng ho c không ph i tr ti n b o hi m khi x y ra s ki n b o hi m”. ườ ặ ả ả ề ả ể ả ự ệ ả ể Quy định nhằm hạn
chế phạm vi những thiệt hại có thể xảy ra đối với đối tượng được bảo hiểm, đảm bảo
hiệu quả trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Thông qua phần loại trừ này, doanh
nghiệp bảo hiểm giữ phí bảo hiểm ở một mức hợp lý vì nếu bảo hiểm với phạm vi
11
không hạn chế mức phí sẽ phải rất cao, sẽ hạn chế khả năng tham gia hợp đồng bảo
hiểm của những người có nhu cầu bảo hiểm. Cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm từ
chối bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm có ý định
trục lợi bảo hiểm bằng những hành vi cố ý.
Điều khoản loại trừ cũng có thể bao gồm việc từ chối trả tiền bảo hiểm trong
những trường hợp có thảm hoạ, có thể gây tổn thất trên diện rộng và làm mất khả
năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm. Ví dụ: sóng thần, động đất, núi lửa…
thiệt hại vô cùng lớn. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong
các trường hợp: bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý; bên mua bảo hiểm có
lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy
ra sự kiện bảo hiểm. (Khoản 3 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm).
1.6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
Bên bảo hiểm:
Quyền: Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin chi tiết liên quan đến
đối tượng được bảo hiểm, đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm; phải
thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách
nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm. Có quyền từ chối trả tiền bảo
hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong
trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu bên mua bảo hiểm
áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của pháp luật. Có
quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã
bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách
nhiệm dân sự.
12
Bên bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi
bên mua bảo hiểm có một trong các hành vi sau: cố ý cung cấp thông tin sai sự thật
nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc để được bồi thường;
không thông báo cho bên bảo hiểm những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm
phát sinh thêm trách nhiệm của bên bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo
hiểm dù bên bảo hiểm đã yêu cầu….
Nghĩa vụ: Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp thông tin chính xác về
hợp đồng và giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo
hiểm cho bên mua bảo hiểm sau khi giao kết hợp đồng và thu phí bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; có
nghĩa vụ giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi
thường; phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi
bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
(Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm).
Bên tham gia bảo hiểm:
Quyền: Bên mua bảo hiểm có quyền lựa chọn mua bảo hiểm ở bất kỳ doanh
nghiệp bảo hiểm nào đang tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ Việt
Nam; yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm
để tìm hiểu những thông tin cần thiết, xem xét hợp đồng bảo hiểm đó có phù hợp với
nhu cầu, điều kiện, hoàn cảnh của mình hay không; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm
hoặc đơn bảo hiểm cho mình.
Bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong
13
hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm chậm trả
tiền bảo hiểm so với thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật đã quy
định thì yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất do
Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả tiền tương ứng với thời gian chậm trả.
Bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm
trong các trường hợp sau: trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm, trường hợp này doanh nghiệp
bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp
thông tin sai sự thật; khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm,
dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh
nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm,
trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên
mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng
phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Nghĩa vụ: bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho bên nhận bảo hiểm các
thông tin chi tiết liên quan đến đối tượng được bảo hiểm.
Có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo đúng thời hạn và phương thức đã
thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm đầy
đủ, theo đúng thời hạn và phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bởi
hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người tham gia bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải đóng toàn bộ phí bảo hiểm trong một lần trước khi
bên bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm; hoặc phí bảo
hiểm được đóng nhiều lần theo định kỳ thì bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm
vào định kỳ đầu tiên trước khi được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo
hiểm và phải tiếp tục đóng phí của các kỳ sau theo đúng định kỳ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét