trọng yếu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các quy định về trình bày báo cáo tài chính
của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tính trọng yếu.
- Phù hợp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chi phí và doanh thu là hai
mặt thống nhất của cùng một quá trình, chi phí là cơ sở nguồn gốc tạo ra doanh thu, doanh thu là kết
quả của chi phí bỏ ra là nguồn bù đắp chi phí. Do đó việc ghi nhận doanh thu và chi phí phảI phù hợp
với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phảI ghi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan
đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và
chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phảI trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.
5
1.3.2 Các yêu cầu của kế toán tài chính
Với mục đích cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng
bên ngoài doanh nghiệp, kế toán tài chính trong doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau
Thứ nhất là thông tin, số liệu kế toán tài chính cung cấp phảI đảm bảo tính trung thực, phản ánh
đúng thực tế về hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghệp vụ kinh tế phát sinh.
Thứ hai là thông tin, số liệu kế toán tài chính cung cấp phải khách quan, phản ánh đúng thực tế
không bị xuyên tạc,cản trở bởi bất kỳ một định kiến nào
Thứ ba là thông tin, số liệu kế toán tài chính cung cấp phảI đảm bảo đầy đủ và kịp thời. Mọi nghiệp
vị kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến tài sản, các hoạt động kinh tế, các bộ phận, đơn vị trong
doanh nghiệp phảI được ghi chép phản ánh báo cáo đầy đủ, không bỏ sót. Việc ghi nhận, báo cáo
được thực hiện ngay sau khi phát sinh hoặc trước hay đúng thời hạn quy định .
Thứ tư là thông tin số liệu kế toán tài chính cung cấp đảm bảo rõ ràng và dễ hiểu đối với người sử
dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế, hiểu
biết về kế toán ở mức trung bình.tính rõ ràng và dễ hiểu giúp người sử dụng thông tin hiếu đúng về
tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó có quyết định đúng đắn. Tuy nhiên trường hợp, thông tin
về những vẫn đề phức tạp cần phảI có kèn theo giảI trình thuyết minh
Thứ năm là thông tin số liệu kế toán tài chính cung cấp phải đảm bảo tính có thể so sánh
Thứ sáu thông tin số liệu kế toán tài chính cung cấp phải đảm bảo tính hữu ích. Tính hữu ích của
thông tin kế toán thể hiện việc đáp ứng nhu cầu khác nhau của các đối tượng sử dụng thông tin.
Ngoài những yêu cầu xét về phương diện thực hiện chức năng cung cấp thông tin phục vụ
công tác quản lý, với góc độ là một bộ phận cấu thành kế toán trong các doanh nghiệp , kế toán tài
chính được tổ chức trong các doanh nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu tuân thủ luật kế toán, các
chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế và các quy định của chế độ kế toán. đồng thời phải phù hợp
với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp
6
CHƯƠNG II : KẾ TOÁN TÀI SẢN BẰNG TIỀN VÀ CÁC KHOẢN NỢ PHẢI THU TRONG
DOANH NGHIỆP
I - KẾ TOÁN TÀI SẢN BẰNG TIỀN
1. Những quy định chung về hạch toán tài sản bằng tiền và xử lý ảnh hưởng thay đổi chênh
lệchtỷ giá hối đoái
Tài sản bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ở các ngân hàng, kho bạc,
các công ty tài chính và các khoản tiền đang chuyển, bao gồm cả tiền Việt Nam, ngân phiếu, ngoại tệ,
vàng bạc và các kim loại quý hiếm, .
Việc hạch toán tài sản bằng tiền phải tuân theo những quy định hiện hành và chế độ quản lý,
lưu thông tiền tệ của Nhà nước.
- Hạch toán tài sản bằng tiền sử dụng đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam
- Những doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phải quy đổi
ngoại tệ ra Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán (Nếu được
chấp thuận) để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra Đồng
Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán về nguyên tắc phải sử dụng tỷ
giá hối đoái ngày giao dịch, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do ngân
hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ (Gọi tắt là tỷ giá giao dịch)
• Khi phát sinh các nghiệp vụ thu bằng ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá giao dịch để quy đổi
sang Đồng Việt Nam để ghi sổ kế toán.
• Khi phát sinh các nghiệp vụ chi bằng ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá thực tế thu ngoại tệ trong
trong kỳ để ghi sổ(Gọi tắt là tỷ giá thực tế ghi sổ). Khi tính tỷ giá thực tế chi ngoại tệ (tỷ
giá thực tế ghi sổ) có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp giá bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
• Đối với các tài khoản Doanh thu, Hàng tồn kho, TSCĐ, Chi phí khi phát sinh nghiệp vụ bằng
ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá giao dịch để ghi sổ kế toán.
• Đối với Bên Nợ các tài khoản Nợ phải thu; Bên Có các tài khoản Nợ phải trả khi phát sinh
nghiệp vụ bằng ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá giao dịch để ghi sổ kế toán.
• Đối với Bên Có các tài khoản Nợ phải thu; Bên Nợ các tài khoản Nợ phải trả khi phát sinh
nghiệp vụ bằng ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá ngày nhận nợ (Gọi tắt là tỷ giá thực tế ghi sổ) để ghi
sổ kế toán.
Chênh lệch tỷ giá trong kỳ phản ánh vào tài khoản 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (nếu
lãi tỷ giá hối đoái) hoặc tài khoản 635 - Chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá hối đoái). Cuối cuối năm tài
chính, kế toán đánh giá lại số dư của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái bình
quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố tại thời điểm
cuối năm tài chính. Chênh lệch tỷ giá hối đoái phản ánh vào tài khoản 413 (4131).
Ngoại tệ được hạch toán chi tiết theo từng loại nguyên tệ trên Tài khoản 007 - Ngoại tệ các
loại (Tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán ).
Nguyên tắc xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái.
• Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch đánh giá lại cuối kỳ liên
quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh:
Toàn bộ chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá
lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính hoặc ngày kết thúc năm tài chính khác
với năm dương lịch (đã được chấp thuận) của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được ghi nhận
ngay vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh của năm tài chính.
Đối với doanh nghiệp vừa có hoạt động kinh doanh, vừa có hoạt động đầu tư XDCB, nếu phát
sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái trong kỳ và chênh lệch đánh giá lại cuối kỳ liên quan đến hoạt động
7
đầu tư XDCB thì cũng xử lý các chênh lệch tỷ giá hối đoái này vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu
hoạt động tài chính trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm tài chính.
Doanh nghiệp không được chia lợi nhuận hoặc trả cổ tức trên lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái
đánh giá lại cuối năm tài chính của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ.
• Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch do đánh giá lại cuối kỳ liên
quan đến hoạt động đầu tư xây dựng (giai đoạn trước hoạt động):
Trong giai đoạn đầu tư xây dựng, khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực hiện và chênh lệch
tỷ giá đánh giá lại cuối năm tài chính của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phản ánh luỹ kế trên
Bảng cân đối kế toán (Chỉ tiêu Chênh lệch tỷ giá hối đoái).
Khi kết thúc quá trình đầu tư xây dựng, chênh lệch tỷ giá hối đoái thực tế phát sinh trong giai
đoạn đầu tư xây dựng (lỗ hoặc lãi tỷ giá hối đoái) không tính vào trị giá TSCĐ mà kết chuyển toàn bộ
vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính của năm tài chính có TSCĐ và các tài sản
đầu tư hoàn thành đưa vào hoạt động hoặc phân bổ tối đa là 5 năm (kể từ khi công trình đưa vào hoạt
động).
Chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính
và ở thời điểm quyết toán, bàn giao đưa TSCĐ vào sử dụng (lỗ hoặc lãi tỷ giá hối đoái) không tính
vào trị giá TSCĐ hoàn thành đầu tư mà phân bổ vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài
chính của các kỳ kinh doanh tiếp theo với thời gian tối đa là 5 năm (kể từ khi công trình đưa vào hoạt
động).
- Đối với vàng, bạc, đá quý phản ánh ở tài khoản tài sản bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh
nghiệp không có chức năng kinh doanh vàng, bạc, kim khí quý, đá quý. Vàng, bạc, kim khí quý, đá
quý phải theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá
vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế (giá hoá đơn hoặc giá được thanh toán).
Khi tính giá xuất của vàng, bạc, kim khí quý, đá quý áp dụng một trong các phương pháp :
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp tính giá thực tế đích danh
- Phương pháp nhập trước, xuất trước;
- Phương pháp nhập sau, xuất trước.
2. Kế toán tiền mặt
2.1. Chứng từ kế toán và những quy định trong hạch toán tiền mặt
Tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp bao gồm tiền Việt Nam, kể cả ngân phiếu, ngoại tệ, vàng
bạc, kim khí quý. Kế toán tiền mặt cần tuân theo những quy định sau:
- Chỉ phản ánh vào TK111 - Tiền mặt, số tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng, bac, kim khí quý,
đá quý thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với những khoản tiền thu được chuyển nộp ngay
vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi bên Nợ TK 111 - Tiền mặt
mà ghi vào bên Nợ TK 113 - Tiền đang chuyển.
- Các khoản tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cược, ký
quỹ tại doanh nghiệp xây lắp thì việc quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng tiền của
đơn vị. Riêng vàng, bạc, kim khí quý, đá quý trước khi nhập quỹ phải làm đầy đủ các thủ tục
về cân, đong, đo, đếm số lượng và trọng lượng, giám định chất lượng. Sau đó tiến hành niêm
phong, có xác nhận của người ký cược, ký qũy trên dấu niêm phong.
- Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi hoặc chứng từ nhập, xuất
vàng, bạc, kim khí quý, đá quý và có đủ chữ ký của người nhận, người giao, người cho phép
nhập, xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp phải có lệnh
nhập quỹ, xuất quỹ đính kèm.
- Kế toán quỹ tiền mặt phải chịu trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt, ghi chép hàng ngày,
liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, xuất, nhập quỹ tiền mặt, ngân phiếu, ngoại
tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý và tính ra số tồn quỹ ở mọi thời điểm. Riêng vàng, bạc, kim
khí quý, đá quý nhận ký cược, ký quỹ phải theo dõi riêng một sổ hay một phần sổ.
- Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim
khí quý, đá quý tại quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế,
8
đối chiếu với số liệu, sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch kế toán và thủ
quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.
2.2. Tài khoản sử dụng:
Để hạch toán tổng hợp thu - chi tiền mặt, kế toán sử dụng TK 111 “Tiền mặt.
Kết cấu TK 111 như sau:
Bên Nợ :
• Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, vàng, bạc, đá quý nhập quỹ
• Tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc thừa phát hiện khi kiểm kê
• Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ tăng (đối với tiền mặt ngoại tệ)
Bên Có:
• Tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý xuất quỹ
• Tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc thiếu ở quỹ tiền mặt
• Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ giảm (đối với tiền mặt ngoại tệ).
Số dư bên Nợ: Tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý còn tồn quỹ.
Tài khoản 111 - Tiền mặt được chi tiết thành 3 TK cấp II.
- TK 1111 - Tiền Việt Nam.
- TK 1112 - Ngoại tệ.
- TK 1113 - Vàng bạc, kim khí quý, đá quý.
2.3. Kế toán thu - chi tiền mặt bằng tiền Ngân hàng Việt Nam
Khi thu tiền bán hàng, kế toán ghi:
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp Nhà nước (3331)
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Khi thu tiền từ các hoạt động tài chính, hoạt động khác, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính.
Có TK 711 - Thu nhập khác.
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp Nhà nước (3331)
Khi thu tiền từ các khoản nợ phải thu, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 131 - Phải thu khách hàng.
Có TK 136 - Phải thu nội bộ.
Có TK 138 - Phải thu khác.
Có TK 141 - Tạm ứng.
Có TK 144 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Có TK 244 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ dài hạn.
Nhận vốn ngân sách, cấp trên cấp, nhận vốn góp liên doanh bằng tiền mặt, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh.
Khi thu tiền từ các hoạt động đầu tư, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 121, 128, 221, 222, 223, 228 .
Khi xuất tiền mặt để mua vật tư, hàng hoá, tài sản.
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi
Nợ TK 151, 152, 153, 156, 157,211, 213 .
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
9
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp.
Nợ TK 156 - Hàng hoá
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
Khi xuất tiền mặt để trả tiền vay, các khoản phải trả.
Nợ TK 311 - Vay ngắn hạn.
Nợ TK 341 - Vay dài hạn.
Nợ TK 331 - Phải trả cho người bán.
Nợ TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp NN.
Nợ TK 336 - Phải trả nội bộ.
Nợ TK 338 - Phải trả, phải nộp khác
Có TK 111 - Tiền mặt (1111).
Khi xuất tiền mặt để chi cho các hoạt động đầu tư tài chính.
Nợ TK 121, 128, 221, 222, 223
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
Khi xuất tiền mặt ký cược, ký quỹ, ghi.
Nợ TK 144 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
Nợ TK 244 - Ký cược, ký quý dài hạn.
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
Khi xuất tiền mặt gửi vào ngân hàng, tạm ứng, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Nợ TK 141 - Tiền tạm ứng.
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
2.4. Kế toán thu - chi ngoại tệ :
Nhập quỹ tiền mặt bằng ngoại tệ, căn cứ vào tỷ giá giao dịch của nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
hoặc tỷ giá mua bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt nam
công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để quy đổi sang Đồng Việt Nam để ghi sổ kế toán,
ghi:
Khi bán hàng thu bằng ngoại tệ, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1112)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp NN(3331)
Đồng thời ghi: Nợ TK 007 - Nguyên tệ
Các khoản doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác bằng ngoại tệ:
Nợ TK 111-Tiền mặt (1112)
Có TK 515 - Doanh thu HĐTC
Có TK 711 - Thu nhập khác
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp NN(3331)
Đồng thời ghi: Nợ TK 007- Nguyên tệ
Khi thu được tiền nợ phải thu bằng ngoại tệ (Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ. ):
- Nếu phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá trong giao dịch thanh toán nợ phải thu, ghi:
Nợ các TK 111 (1112) (Tỷ giá hối đoái ngày giao dịch)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)
Có TK 131, 136, 138 (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán).
- Nếu phát sinh lãi tỷ giá hối đoái khi thanh toán nợ phải thu bằng ngoại tệ, ghi:
Nợ TK 111 (1112) (Tỷ giá hối đoái ngày giao dịch)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Lãi tỷ giá hối đoái)
Có TK 131, 136, 138. (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán).
Đồng thời ghi: Nợ TK 007 - Nguyên tệ
- Khi phát sinh các khoản vay bằng ngoại tệ, ghi:
10
Nợ TK 111 (1112) (Tỷ giá hối đoái ngày giao dịch)
Có TK 311, 341(Tỷ giá hối đoái ngày giao dịch)
Xuất quỹ tiền mặt bằng ngoại tệ để thanh toán, chi trả cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nếu có chênh lệch giữa tỷ giá thực tế thu ngoại tệ trong kỳ và tỷ giá ngày phát sinh nghiệp vụ chi
ngoại tệ thì phản ánh số chênh lệch này trên tài khoản 515 (nếu lãi tỷ giá hối đoái) hoặc tài khoản
635 - Chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá hối đoái):
Khi mua hàng hoá, dịch vụ thanh toán bằng ngoại tệ:
- Nếu phát sinh lỗ tỷ giá hối đoái trong giao dịch mua vật tư, hàng hoá, TSCĐ, dịch vụ:
Nợ TK 151, 152, 153, 156, 157, 211, 213, 241, 623, 627, 641, 642, 133. (Theo tỷ giá
hối đoái ngày giao dịch)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)
Có TK 111 (1112) (Theo tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán).
- Nếu phát sinh lãi tỷ giá hối đoái trong giao dịch mua ngoài hàng hoá, dịch vụ, ghi:
Nợ TK 151, 152, 153, 156, 157, 211, 213, 241, 623, 627, 641, 642, 133. (Theo tỷ giá
hối đoái ngày giao dịch)
Có TK 111 (1112) (Theo tỷ giá ghi sổ kế toán)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Lãi tỷ giá hối đoái).
Khi thanh toán nợ phải trả (Phải trả người bán,vay ngắn hạn, dài hạn, nợ dài hạn, . ):
- Nếu phát sinh lỗ tỷ giá hối đoái trong giao dịch thanh toán nợ phải trả, ghi:
Nợ TK 311, 315, 331, 336, 341, 342 . (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)
Có TK 111 (1112) (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán).
- Nếu phát sinh lãi tỷ giá hối đoái trong giao dịch thanh toán nợ phải trả, ghi:
Nợ TK 311, 315, 331, 336, 341, 342 . (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Lãi tỷ giá hối đoái)
Có TK 111 (1112) (Tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán).
Khi xuất quỹ tiền mặt bằng tiền Việt Nam để mua ngoại tệ nhập quỹ:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1112)
Có TK 111 - Tiền mặt (1111)
Đồng thời ghi: Nợ TK 007 - Nguyên tệ
Khi bán ngoại tệ thu bằng tiền Việt Nam:
- Nếu tỷ giá hối đoái ngày xuất bán > tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán trong kỳ, kế toán ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Có TK 515 - Doanh thu HĐTC
Có TK 111- Tiền mặt (1112)
Đồng thời ghi: Có TK 007- Nguyên tệ
- Nếu tỷ giá hối đoái ngày xuất bán < tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán trong kỳ, kế toán ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1111)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 111 - Tiền mặt (1112)
Đồng thời ghi: Có TK 007 - Nguyên tệ
Thời điểm cuối năm tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán) theo tỷ giá hối đoái
bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm cuối năm tài chính, có thể
phát sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái (lãi hoặc lỗ). Doanh nghiệp phải chi tiết khoản chênh lệch tỷ giá
hối đoái phát sinh do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ này của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
(giai đoạn trước hoạt động) (TK 4132) và của hoạt động sản xuất, kinh doanh (TK 4131):
Nếu phát sinh lãi tỷ giá hối đoái, ghi:
Nợ TK 111 (1112)
Có TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái (4131, 4132).
Nếu phát sinh lỗ tỷ giá hối đoái, ghi:
Nợ TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái (4131, 4132)
11
Có TK 111 (1112)
2.5. Kế toán vàng bạc, kim khí quý, đá quý tại quỹ.
Đối với các doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh vàng bạc, đá quý, khi có nghiệp vụ
phát sinh liên quan đến các tài sản này thì phản ánh vào TK 111 (1113). Do vàng, bạc, đá quý có giá
trị cao nên khi mua cần có đầy đủ các thông tin như: ngày mua, mẫu mã, độ tuổi, giá thanh toán .
Các loại vàng, bạc, đá quý được ghi sổ theo giá thực tế, khi xuất có thể sử dụng một trong các
phương pháp tính giá thực tế như: phương pháp giá đơn vị bình quân; nhập trước, xuất trước; nhập
sau, xuất trước hay phương pháp đặc điểm riêng. Song từng loại vàng bạc, đá quý lại có những đặc
điểm riêng và giá trị khác nhau nên sử dụng phương pháp đặc điểm riêng để tính giá vàng bạc, đá quý
xuất dùng là chính xác nhất.
Khi nhập vàng, bạc, đá quý, ghi:
Nợ TK 111 - Tiền mặt (1113)
Có TK 111 - Tiền mặt (1111,1112).
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng.
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng.
Có TK 144 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh.
Khi xuất vàng, bạc, đá quý để cầm cố, ký quỹ, ký cược hoặc để thanh toán, nếu có chênh lệch
giữa giá gốc và giá thanh toán, phần chênh lệch sẽ được phản ánh vào TK 412 - Chênh lệch
đánh giá lại tài sản, kế toán ghi:
Nợ TK 311 - Vay ngắn hạn.
Nợ TK 331 - Phải trả người bán.
Nợ TK 144 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Nợ (Có) TK 412 - Chênh lệch đánh giá lại tài sản
Có TK 111 - Tiền mặt (1113)
Sổ kế toán:
Đối với thủ quỹ, hằng ngày căn cứ vào chứng từ thu, chi lập báo cáo quỹ gửi cho kế toán quỹ.
Kế toán quỹ căn cứ vào chứng từ thu, chi và báo cáo quỹ ghi vào các sổ kế toán tổng hợp .
Kế toán tiền mặt tại quỹ doanh nghiệp sử dụng các sổ kế toán tổng hợp tuỳ thuộc vào hình
thức kế toán đơn vị áp dụng.
Trong hình thức NKCT bên có TK 111 được phản ánh trên NKCT số 1. Số phát sinh bên nợ
TK 111 được phản ánh trên bảng kê số 1.
Trong hình thức kế toán nhật ký chung, căn cứ vào chứng từ gốc kế toán phản ánh vào nhật
ký chung, nhật ký thu tiền, nhật ký chi tiền. Đồng thời căn cứ vào nhật ký chung để vào sổ cái TK
111 và sổ cái các tài khoản liên quan.
Ngoài ra, để theo dõi chi tiết các loại nguyên tệ kế toán mở sổ chi tiết TK 007.
3. Kế toán tiền gửi ngân hàng.
3.1. Chứng từ kế toán và những quy định trong hạch toán tiền gửi Ngân hàng
Căn cứ để hạch toán tiền gửi Ngân hàng là các giấy báo Có, giấy báo Nợ hoặc bản sao kinh
doanh của Ngân hàng kèm theo các chứng từ gốc (uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc chuyển khoản, séc
bảo chi .).
Khi nhận được chứng từ của Ngân hàng gửi đến, kế toán phải kiểm tra đối chiếu với chứng từ
gốc kèm theo. Nếu có sự chênh lệch giữa số liệu trên sổ kế toán của đơn vị, số liệu ở chứng từ gốc
với số liệu trên chứng từ của Ngân hàng thì đơn vị phải thông báo cho Ngân hàng để cùng đối chiếu,
xác minh và xử lý kịp thời. Cuối tháng, chưa xác định được nguyên nhân chênh lệch thì kế toán ghi
sổ theo số liệu của Ngân hàng trên giấy báo Nợ, báo Có hoặc bảo sao kê. Số chênh lệch (nếu có) ghi
vào bên Nợ TK 138 - Phải thu khác (1388) (nếu số liệu của kế toán lớn hơn số liệu của Ngân hàng)
hoặc được ghi vào bên Có TK 338 - Phải trả, phải nộp khác (3388) (nếu số liệu của kế toán nhỏ hơn
số liệu của Ngân hàng). Sang tháng sau, tiếp tục kiểm tra, đối chiếu, xác định nguyên nhân để điều
chỉnh số liệu ghi sổ.
12
Tại những đơn vị có những tổ chức, bộ phận phụ thuộc, có thể mở tài khoản chuyên thu,
chuyên chi, mở tài khoản thanh toán phù hợp để thuận tiện cho công tác giao dịch, thanh toán. Kế
toán phải mở sổ chi tiết theo từng loại tiền gửi (tiền Đồng Việt nam, ngoại tệ các loại)
Phải tổ chức hạch toán chi tiết theo từng ngân hàng để tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu.
3.2. Tài khoản sử dụng:
Để phản ánh tình hình biến động về tiền gửi kế toán sử dụng TK 112 - Tiền gửi ngân hàng.
Tài khoản 112 dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động các khoản tiền gửi của DN tại các
ngân hàng và các Công ty tài chính. Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 112
Bên Nợ:
• Các khoản tiền gửi ở Ngân hàng và các tổ chức tài chính tăng trong kỳ
• Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ tăng (đối với tiền gửi ngoại tệ).
Bên Có:
• Các khoản tiền gửi ở Ngân hàng và các tổ chức tài chính giảm trong kỳ
• Chênh lệch tỷ giá ngoại tệ giảm (đối với tiền gửi ngoại tệ).
Số dư bên Nợ: Số dư các khoản tiền gửi ở Ngân hàng, các tổ chức tài chính hiện còn cuối kỳ
Tài khoản 112 - Tiền gửi ngân hàng, có 3 tài khoản cấp hai:
- TK 1121 - Tiền Việt Nam
- TK 1122 - Ngoại tệ
- TK 1123 - Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý
3.3. Kế toán tiền gửi Ngân hàng bằng tiền Việt Nam
Xuất quỹ tiền mặt gửi vào tài khoản tại Ngân hàng, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 111- Tiền mặt
Nhận được giấy “Báo Có” của Ngân hàng về số tiền đang chuyển, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 113 - Tiền đang chuyển
Thu hồi các khoản ký cược, ký quỹ bằng TGNH, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 144, 244
Nhận tiền ứng trước hoặc khách hàng trả nợ , căn cứ vào giấy “Báo Có” của Ngân hàng, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng
Nhận các khoản ký quỹ, ký cược bằng tiền gửi Ngân hàng, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 344 - Nhận ký quỹ, ký cược dài hạn
Khi thu tiền bán hàng qua TK TGNH, Ngân hàng đã “Báo Có”, kế toán ghi:
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp Nhà nước(3331)
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp
Nợ TK112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Khi thu tiền từ các hoạt động tài chính, hoạt động khác, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính.
Có TK 711 - Thu nhập khác.
Có TK 333 - Thuế và các khoản nộp Nhà nước (3331)
Khi thu tiền từ các khoản nợ phải thu, ghi:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
13
Có TK 131 - Phải thu khách hàng.
Có TK 136 - Phải thu nội bộ.
Có TK 138 - Phải thu khác.
Có TK 141 - Tạm ứng.
Nhận vốn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nhận vốn góp liên doanh, vốn cổ phần . bằng TGNH:
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh.
Khi thu tiền từ các hoạt động đầu tư, ghi
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Có TK 121, 128, 221, 222, 223, 228 .
Khi rút TGNH để mua vật tư, hàng hoá, TSCĐ
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi
Nợ TK 151, 152, 156, 157, 211, 213
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
- Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp.
Nợ TK 151, 152, 156, 157, 211, 213
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi rút TGNH để trả tiền vay, các khoản phải trả.
Nợ TK 311, 315, 341, 331, 333, 336, 338.
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi rút TGNH để đầu tư tài chính và chi phí cho các hoạt động đầu tư tài chính.
Nợ TK 121, 128, 221, 222, 223
Nợ TK 635.
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi rút TGNH ký cược, ký quỹ, ghi.
Nợ TK 144 - Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
Nợ TK 244 - Ký cược, ký quý dài hạn.
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi rút TGNH để giao tạm ứng, ghi:
Nợ TK 141 - Tiền tạm ứng.
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi rút TGNH để trả tiền chi phí cho các hoạt động của doanh nghiệp, ghi:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Nợ TK 811 - Chi phí khác
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng (1121)
Khi phát sinh chênh lệch số liệu trên sổ kế toán của doanh nghiệp với số liệu trên chứng từ
của ngân hàng, cuối tháng chưa xác định được nguyên nhân.
- Nếu số liệu trên sổ kế toán lớn hơn số liệu của ngân hàng
Nợ TK 138 - Phải thu khác (1381)
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng
• Khi xác định được nguyên nhân
Nếu do ngân hàng ghi thiếu
Nợ TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng
Có TK 138 - Phải thu khác(1381)
Nếu do kế toán ghi thừa
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
14
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013
Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
Môi trường và pháp triển bền vững nguyễn đình hoè
5
• Chương 5 giới thiệu một số phép đo đơn giản giúp đánh giá độ bền vững địa
phương.
• Chương 6 trình bày về định hướng chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững tại Việt Nam.
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả mong nhận
được ý kiến đóng góp của người đọc để có thể nâng cao chất lượng của giáo trình.
Tác giả
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG
1.1. MÔI TRƯỜNG LÀ GÌ ?
Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) Việt Nam sửa đổi (2006) có định nghĩa :
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh
vật".
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp ; phòng ngừa, hạ
n chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi
trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường ; khai thác, sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên ; bảo vệ đa dạng sinh học".
"Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như : đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái, và các hình thái vật chất
khác".
Các yếu tố xã hội - nhân vă
n chưa được coi là yếu tố môi trường.
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy
đủ hơn về môi trường :
“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các
điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của
con người trong thời gian bất kỳ"
Có thể phân tích định nghĩ
a này chi tiết hơn như sau :
- Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm :
+ Đất trồng trọt ;
+ Lãnh thổ ;
+ Nước ;
+ Không khí ;
+ Động, thực vật ;
+ Các hệ sinh thái ;
+ Các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ).
- Các thành tố xã hội - nhân văn (XHNV) gồm :
+ Dân số và động lực dân cư, tiêu đùng, xả thải ;
+ Nghèo đói ;
7
+ Giới ;
+ Dân tộc, phong tục, tập quán, văn hoá, lối sống, thói quen vệ sinh ;
+ Luật, chính sách, hương ước, lệ làng .
+ Tổ chức cộng đồng, xã hội v.v .
- Các điều kiện tác động (chủ yếu và cơ bản là hoạt động phát triển kinh tế) gồm:
+ Các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự chiến tranh .
+ Các hoạt động kinh tế : nông nghi
ệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du
lịch, xây dựng, đô thị hoá .
+ Công nghệ, kỹ thuật, quản lý.
Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, bảo đảm
cuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của một cộng đồng
hoặc một xã hội.
1 .2. CẤU TRÚC HỆ THỐNG MÔI TRƯỜNG
Các phân hệ nói trên và m
ỗi thành tố trong từng phân hệ, nếu tách riêng, thì
thuộc phạm vi nghiên cứu và tác động của các lĩnh vực khoa học khác, không phải của
lĩnh vực khoa học môi trường.
Ví dụ :
- Đất trồng trọt là đối tượng nghiên cứu của khoa học thổ nhưỡng ;
- Dân tộc, văn hoá thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn ;
- Xây dựng, công nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế.
Nếu xem xét, nghiên cứ
u, điều khiển, quản lý riêng rẽ từng thành tố, từng phân
hệ, thì vấn đề môi trường bị lu mờ và không được đặt đúng vị trí.
Vấn đề môi trường chỉ được phát hiện và quản lý tốt khi xem xét môi trường
trong tính toàn vẹn hệ thống của nó. Môi trường có tính hệ thống. Đó là các hệ thống
hở, gồm nhiều cấp, trong đó con người và các yếu tố xã hội - nhân văn, thông qua các
điều kiện tác động, tác động vào hệ thống tự nhiên. Không thể có vấn đề môi trường
nếu thiếu hoạt động của con người. Trong bất cứ vấn đề môi trường nào cũng có đầy
đủ các thành tố của ba phân hệ :
- Phân hệ sinh thái tự nhiên : tạo ra các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng,
nơi cư trú và nơi chứa đựng chất thải.
- Phân hệ xã hội - nhân văn : t
ạo ra các chủ thể tác động lên hệ tự nhiên.
- Phân hệ các điều kiện : tạo ra các phương thức, các kiểu loại, các mức độ tác
động lên cả hai hệ tự nhiên và hệ xã hội nhân văn. Những tác động lên hệ tự nhiên gây
ra do con người và hoạt động phát triển của con người được gọi là tác động môi
8
trường. Những tác động ngược lại của hệ tự nhiên lên xã hội và hoạt động của con
người được gọi là sức ép môi trường.
Do môi trường có tính hệ thống nên công tác môi trường đòi hỏi những kiến thức
đa ngành, liên ngành. Những quyết định về môi trường chỉ dựa trên một lĩnh vực
chuyên môn nhất định là không hoàn hảo và không hiệu quả, mà cần dựa trên sự hợp
tác cửa nhiề
u ngành (hình 1.1 và 1.2) . Quản lý môi trường chính là điều phối sự hợp
tác đó trên cớ sở thoả hiệp tự nguyện và bắt buộc của các ngành nhằm thực hiện các
quy định luật pháp về BVMT.
Hình 1.1. Sự vận hành thiếu hợp tác của các hệ thống trong xã hội
Hình . 1 cho thấy phát triển kinh tế không chú ý đến bảo tồn tự nhiên và phúc lợi
nhân văn. Ở đây không có lĩnh vực cho quản lý môi trường, không có địa bàn cho
khoa học môi trường, mà chỉ có lĩnh vực của các ngành quản lý và khoa học truyền
thống.
Hình 1.2 cho thấy tính hệ thống của môi trường trong phát triển kinh tế có tính.
đến bảo tồn hệ tự nhiên và đảm bảo phúc lợi nhân văn. Đó là phát triển bền vững.
9
1.3. CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÔI TRƯỜNG - Ô NHIỄM, SUY THOÁI
VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 . Chức năng của môi trường
Hệ thống môi trường có bốn chức năng cơ bản :
- Cung cấp nơi sống cho con người (nơi cư trú an toàn và đủ điều kiện để phát
triển các phẩm cách cá nhân và cộng đồng, tạo dựng bản sắc văn hoá) ;
- Cung cấp nguyên liệu và nă
ng lượng ;
- Chứa đựng và tự làm sạch chất thải ;
- Cung cấp (lưu giữ) thông tin cho các nghiên cứu khoa học.
1 .3.2. Suy thoái môi trường
Suy thoái môi trường là sự giảm khả năng đáp ứng 4 chức năng cơ bản nói trên
của hệ thống môi trường. Suy thoái môi trường có các mặt biểu hiện sau :
- Mất an toàn nơi cư trú (do sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường và mất ổn
định xã h
ội ;
- Cạn kiệt tài nguyên (do khai thác quá mức, sử dụng không hợp lý và do biến
động :điều kiện tự nhiên) ;
- Xả thải quá mức, ô nhiễm.
Suy thoái môi trường thường là quá trình chậm, khó định lượng chính xác, khó
(nhưng không phải là không thể) đảo ngược nên đòi hỏi phải được can thiệp bằng một
chiến lược, bằng các chương trình phát triển bền vững (PTBV). Ví dụ điển hình của
suy thoái môi trường là suy thoái đất.
Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng, gồm :
- Biến động của thiên nhiên theo chiều hướng không thuận lợi cho con người
như: lụt, hạn hán, động đất .
- Khai thác tài nguyên quá khả năng tự phục hồi ;
- Không xác định rõ quyền sử dụng/sở hữu tài nguyên ;
- Thị trường yếu kém ;
- Chính sách yếu kém ;
- Mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế tiến t
ới xây dựng một xã
hội tiêu thụ ;
- Bùng nổ dân số, nghèo đói (hoặc xa hoa) và bất bình đẳng.
1.3.3. Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố (vật lý hoá học,
10
sinh học) vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường, khiến cho môi trường trở nên
độc hại đối với con người, vật nuôi, cây trồng (hình l.3). Ô nhiễm môi trường là yếu tố
có thể định lượng được.
Hình 1.3. Mô hình ô nhiễm "yếu tố A” trong hệ thống môi trường.- Yếu tố vật lý : bụi,
tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, nhiệt, điện, từ trường, phóng xạ;
- Yếu tố hoá học : các chất khí, lỏng và rắn ;
- Yếu tố sinh học : vi trùng, ký sinh trùng, virut.
Tổ hợp các yếu tố trên có thể làm tăng mức độ ô nhiễm lên rất nhiều.
Các tác nhân gây ô nhiễm xuất phát từ nguồn ô nhiễm, lan truy
ền theo các
đường: nước mặt, nước ngầm, không khí, theo các vecto trung gian truyền bệnh (côn
trùng, vật nuôi), người bị nhiễm bệnh, thức ăn (của người hoặc động vật).
Nguồn ô nhiễm gồm hai loại :
- Nguồn điểm (ví dụ bãi rác, cống xả) ;
- Nguồn điện (ví dụ khu vực nông nghiệp).
Mặc dù chất gây ô nhiễm có thể có từ nguồn gốc tự nhiên, nhưng phầ
n lớn các
nguồn ô nhiễm là từ nguồn nhân tạo, liên quan đến hoạt động sản xuất và hoạt động
sống của con người. Gần đây còn xuất hiện khái niệm "ô nhiễm văn hoá", "ô nhiễm xã
hội" đo hành vi và lối sống của con người, gây hại cho văn hoá, thuần phong mỹ tục và
trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chưa có tiêu chuẩn môi trường nào quy định mức độ
các hành vi này.
Ô 1.1. TÓM TẮT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ SUY THOÁI ĐẤT
1. Ô nhiễm nước
Các yếu tố đánh giá độ nhiễm :
- Tác nhân gây ô nhiễm: các yếu tố vật lý (pH, độ màu, độ đục, chất rắn tổng số -
gồm chất rắn lơ lửng và chất rắn hoà tan. độ dẫn điện, độ axit, độ kiềm, độ cứng) ; các
yếu tố hoá học (DO, BOD, COD, NH
4+
, NO
3
-
, NO
2
-
, P, CO
2
, SO
2
2-
, Cl
-
, các hợp chất
phenol, hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV), lignin, kim loại năng) ; các yếu tố sinh học
(E.Con. Coliform, Streptococus feacalis, tổng số vi khuẩn kỵ khí và háo khí).
11
- Bệnh dịch liên quan : tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy
trẻ em, viêm gan siêu vi trùng (có thể truyền qua sò, hến), lỵ amip, giun chỉ, sán ruột,
giun gan, sán hydatit, sán máng, sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh mù sông do giun
Onchoceare, bệnh sốt vàng, bệnh ngủ Châu Phi.
2. Ô nhiễm khí
- SO
2
toát nhiên liệu hoá thạch) : gây mưa axit, khói mù axit – smog, giảm chức
năng hô hấp, viêm phế quản mãn tính thạch cao hoá các công trình xây dựng bằng đá.
- NO
X
(đôi Sinh khối) : tạo smog, tạo hợp chất PAN gây cháy lá cây có hoa, chảy
nước mắt và viêm phế quản. No tước đoạt ôxy của máu.
- F (khói nhà máy) : gây cháy lá cây. biến dạng xương. mủn răng.
- CFC
S
(dung môi máy lạnh, bình xịt .) : gây hiệu ứng nhà kính và thông tầng
ôzôn.
- CO (đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu) : nhiễm độc hô hấp.
- CO
2
( núi lửa phun, đốt nhiên liệu) : khí nhà kính chủ yếu.
- Pb(C
2
H
5
)
4
( đốt xăng pha chì) : nhiễm độc thần kinh, cao huyết áp, đột quỵ,
nhồi máu cơ tim, trẻ chậm lớn.
- Amiăng (công nghiệp luyện kim và xây dựng) : gây ung thư phổi.
- Hoá chất BVTV (vùng trồng trọt) : nhiễm độc thần kinh, hại gan, thận, biến đổi
di truyền.
- Hydrôcacbua thơm đa vòng (đốt xăng dầu, sơn, chất thơm) : gây ung thư.
- Chất phóng xạ (nổ hạt nhân, điện hạt nhân, bệnh viện, phòng thí nghiệm) : gây
tổn thương tế bào và cơ chế di truyền.
-Vi trùng, vi rút : gây lao, bạch hầu, tụ cầu, cúm.
- Tiếng ồn : đo bằng deciben (dB).
Mức khó chịu: ≥45dB
Mức tai biến : ≥100dB
Ngưỡng nghe của tai : 0 ÷ 180 dB
3. Ô nhiễm đất:
- Các tác nhân gây ô nhiễm : phân bón vô cơ, hoá chất BVTV, chất diệt cỏ, chất
phóng xạ, kim loại nặng, nhiều loại vi trùng và ký sinh trùng (trực khuẩn lỵ, phảy,
khuẩn tả,trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, lỵ amip, giun đũa, giun xoắn, giun
móc, xoắn trùng vàng da, trực trùng than, nấm ăn da, uốn ván các loại vinh bại liệt,
viêm màng não, sốt phát ban, viêm cơ tim. viêm não trẻ sơ sinh)
- Nguồn phát xả ô nhiễm chủ yếu là chất thải của người và động vậtphân bón, hoá
12
chất BVTV và chất độc dùng trong chiến tranh.
4. Thoái hoá đất:
- Mặn hoá thứ sinh do bốc hơi, do tưới;
-Xói mòn do nước và do gió ;
-Axit hoá thứ sinh : mưa axit. hoạt động dinh dưỡng chọn lọc của vị cây trồng, phân
khoáng, ôxy hoá pyrit (FeS
2
) ;
- Đá ong hoá, karst hoá;
- Rửa trôi, bạc màu ;
- Nhiễm mặn ;
- Cát lấp lũ quét ;
- Bùng phát cỏ dại.
1. 3.4. Sự cố môi trường và tai biến môi trường:
Sự cố môi trường là những thiệt hại không mong đợi xảy ra bởi các quá trình tai
biến vượt quá ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường. Quá trình tai biến là những
quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường, đó là một đặc tính vốn có, phản
ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn định của bất cứ hệ thống môi trường nào.
Các sự cố có thể có ngu
ồn gốc tự nhiên hay nhân sinh, nhưng thường là do phối hợp cả
hai kiểu nguồn gốc đó, vì chính các quá trình nhân sinh thường đóng góp đáng kể vào
sự cố thông qua việc làm thay đổi tính nhạy cảm tai biến của cộng đồng.
Các sự cố có thể gồm loại cấp diễn - xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột như động
đất, cháy rừng, lũ lụt . và loại trường diễn - xảy ra chậm chạ
p, trường kỳ, từ từ như
nhiễm mặn, sa mạc hoá, . Các sự cố cấp diễn thường nhanh chóng kết thúc và được
xen kẽ bằng một khoảng thời gian dài bình yên không sự cố. Trong khi đó, các sự cố
trường diễn thường diễn ra liên tục, trường kỳ.
Ứng xử sự cố môi trường chỉ là giải quyết tình thế. Chiến lược ứng xử lâu bền là
nhằm vào quá trình gây ra sự
cố quá trình tai biến. Quá trình ứng xử tai biến gồm hai
cách tiếp cận :
- Cách tiếp cận nhằm vào tai biến, để giảm thiểu thiệt hại, giảm mức độ nghiêm
trọng của tai biến, để giúp cho cộng đồng "tránh xa hiểm hoạ".
- Cách tiếp cận nhằm vào cộng đồng, với mục tiêu là giảm độ nhạy cảm tai biến
của cộng đồng, tức là tăng sức chố
ng chịu, giúp cho cộng đồng "sống cùng tai biến"
(hình 1 .4).
Tai biến môi trường, không phải là một sự kiện, mà là một quá trình Quá trình tai
biến môi trường gồm ba giai đoạn :
13
• Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ) : các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống,
nhưng chưa phát triển gây mất ổn định. Hệ thống môi trường luôn luôn có 2 tính chất :
- Tính chống chịu : tạo ra khả năng của hệ thống chịu được các hành động phát
triển của con người. Tính chống chịu đồng thời cũng là tính tự điều khiển của môi
trườ
ng.
- Tính bất ổn định, còn gọi là tính bất trắc, tạo ra các quá trình tai biến.
Hình 1.4. Hai hướng tiếp cận trong ứng xử tai biến môi trường
•
Giai đoạn phát triển : Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái
mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường.
• Giai đoạn sự cố môi trường : Quá trình tai biến vượt qua ngưỡng an toàn, gây
thiệt hại cho con người (sức khoẻ, tính mạng, sản nghiệp). Những sự cố gây thiệt hại
lớn được gọi là tai ho
ạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường.
Tai biến môi trường xảy ra trong toàn bộ hệ thống môi trường. Tuy nhiên, mỗi
phân hệ của hệ thống này lại là một hệ ở bậc thấp hơn. Tai biến xảy ra trong phấn hệ
sinh thái tự nhiên, được gọi là tai biến sinh thái. Một bộ phận của tai biến sinh thái vận
hành trong tổ phần động, thực vật c
ủa phân hệ, được gọi là tai biến sinh học. Như vậy
tai biến sinh học là sự bùng phát dịch bệnh ở người, dịch hại ở vật nuôi - cây trong
hoặc động, thực vật hoang dại, và sự suy thoái thảm hại tài nguyên sinh học do khai
thác quá mức.
An toàn sinh học là một bộ phận của tai biến sinh học, liên quan với lĩnh vực
công nghệ sinh học. An toàn sinh học là sự an toàn khi đưa vào môi trường các sinh
vậ
t đã được biến nạp di truyền - nghĩa là các loài mang bộ đen không có sẵn trong tự
nhiên.
Tai biến sinh học là quá trình phổ biến nhất, do đó hay gặp nhất trong đời sống
hằng ngày. Chia theo nguồn gốc có thể gặp các loại tai biến sinh học như sau :
- Các ổ dịch địa phương :sốt rét, sán máng, dịch hạch, sán lá phổi, sốt xuất huyết v.v .
14
- Nuôi trồng thiếu tính toán các loài đã bị biến nạp di truyền (ví dụ : giống ngô
không nảy mầm).
- Mất cân bằng loài do :
+ Đưa vào hệ một loài lạ có tính cạnh tranh cao (ví dụ ốc bươu vàng) ;
+ Lấy ra khỏi hệ một vài loài khiến cho một vài loài còn lại trong hệ bùng phát
thành dịch hại (ví dụ dịch chuột .).
- Ô nhiễm, gây bùng phát các loài thích nghi có khả năng gây hại do các loài này
trở nên quen với môi trường ô nhiễm (ví dụ t
ảo độc, rầy nâu .). Việc sử dụng lan tràn
thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm này.
- Vũ khí sinh hoá : đạn pháo có vi trùng dịch hạch, bom có vi khuẩn than .
- Khai thác quá mức (phá rừng, đánh cá bằng chất nổ .).
1.4. AN NINH MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN MÔI TRƯỜNG :
- An ninh môi trường:là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng
đảm bảo điều kiện sống an toàn của con người cư trú trong hệ thống đó. Tr
ạng thái an
ninh của riêng phan hệ sinh thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái. Đó chỉ là một
khía cạnh của an ninh môi trường. Quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi
trường chính là tai biến môi trường. Thuật ngữ "an ninh" thường được hiểu theo quy
mô rộng, thường là ở mức quốc gia, khu vực hay quốc tế. Trong phạm vi các địa
phương hẹp, người ta thường dùng thuật ngữ an toàn môi trường. Ví dụ rò rỉ phóng xạ
t
ừ một bệnh viện, cháy một khu rừng, một trận lũ quét tại một huyện, một trận dịch tả
do ô nhiễm nước tại một địa phương, một trận ngộ độc thức ăn do ô nhiễm thực phẩm
tại một xí nghiệp . thường được coi là thuộc phạm vi "an toàn môi trường". Những sự
kiện lớn hơn như suy thoái tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, sa mạc hoá di
ện rộng . thuộc
lĩnh vực "an ninh môi trường". Tuy nhiên, cũng rất khó phân định rạch ròi giới hạn
giữa "an ninh" và "an toàn".
Tỵ nạn môi trường là việc con người buộc phải rời nơi ở truyền thống của mình tạm
thời hay vĩnh viễn do sự huỷ hoại môi trường gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ
(Chương trình môi trường Liên hợp quốc, 1985). Trên thế giới n
ăm 1995 có khoảng
25 triệu người tỵ nạn môi trường, trong đó :
- Ethiopia : 1,5 triệu
- Somali : 500.000
- Su dan : 2 triệu
- Sahara : 5 triệu
- Cận Sahara : 7 triệu
- Trung Quốc : 6 triệu
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)