Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Ảnh dụng cụ và thiết bị thí nghiệm hóa học


1. Bình phun tia
2. Bình tam giác (Flask Erlenmeyer)
3. Buret tự động điều chỉnh điểm 0
4. Buret
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Cân phân tích
2. Cân phân tích điện tử
3. Chai Aspirator có nắp và van xả
4. Chai Bod có nắp
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Chén làm khô
2. Chén nung có nắp
3. Chổi rửa ống nghiệm
4. Cốc có mỏ
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Cối và chày giã
2. Đèn Bunsen
3. Đèn cồn
4. Đĩa cấy vi sinh
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Đĩa tinh thể hóa
2. Đũa thủy tinh
3. Giấy lọc
4. Kính đồng hồ
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Giá đỡ
2. Kẹp dụng cụ
3. Kẹp gắp
4. Kẹp ống nghiệm
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Phễu lọc hút chân không (Buchner funnel)
2. Các kiểu phễu lọc
3. Vít kẹp
4. Vòng đỡ
(1)
(2)
(3)
(4)

Một số kiểu lọ đựng thuốc thử
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Ống cao su
2. Phễu chiết
3. Ống so màu Nessler đáy bằng
4. Thìa thủy tinh
(1)
(2)
(3)
(4)

1. Tấm amiăng
2. Ống đong
3. Ống làm khô
4. Ống nghiệm và giá đỡ
(1)
(2)
(3)
(4)

Ôn tập giới hạn của dãy số


T TON - TIN HC
T TON - TIN HC
Trng THPT Ging Ring
T TON - TIN HC
T TON - TIN HC

Bộ GIáO DụC Và Đào tạo
I S
V GII TCH
Nhà xuất bản giáo dục
11

Cõu hi v bi tp ụn chng IV Gii Hn
Tit 1: GII HN CA DY S

A. Kin thc cn phi cú

Gii hn 0

Gii hn hu hn

Tng ca cp s nhõn lựi vụ hn

Gii hn vụ cc

Mt s gii hn c bit
( )
1
S 1
1
n
u
q
q
= <

*
*
1 1
)lim 0;lim 0,
)lim 0, 1
)lim
)lim ,
)lim , 1
k
n
k
n
a k
n n
b q q
c c c
d n k
e q q
+
+
= =
= <
=
= +
= + >
Â
Â

a) Cho lim u
n
= a v lim v
n
= b khi ú:
Hóy in cỏc giỏ tr thớch hp
vo cỏc ch trng di õy?
lim (u
n
+ v
n
) =

lim (u
n
v
n
) =

lim (u
n
.v
n
) =

lim
n
n
u
v
=
, 0
a
b
b

a b
a b+
.a b
Kim tra bi c
b) Nu lim u
n
= a v thỡ
lim
n
v =
lim
n
n
u
v
=
0
c) Nu lim u
n
= a > 0, lim v
n
= 0 v v
n
> 0 vi mi n thỡ:
lim
n
n
u
v
=

+
d) Nu lim u
n
= , lim v
n
= a > 0 thỡ lim u
n
v
n
=
+
+

B. Bi tp cng c
Tớnh cỏc gii hn sau:
Ta thy cõu a) cú dng: hóy
xỏc nh u
n
, v
n
, tớnh cỏc gii hn
lim u
n
, lim v
n
sau ú ỏp dng nh
lý 2 tớnh?
2
8
)lim
9
a
n
2
2
3 7 25
)lim
3
n n
b
n n
+
+
lim
n
n
u
v
cõu b) ta chia c t ln mu cho
n
2
ri ỏp dng cỏc gii hn c bit
tớnh!
ỏp ỏn
a) Ta cú: do lim 8 = 8; v
nờn theo nh lớ 2 ta cú:
b)
( )
2
lim 9n = +
2
8
lim 0
9n
=

2
2
2
2
7 25
3
3 7 25
lim lim 3
1 3
3
1
n n
n n
n n
n n
+
+
= =
+
+

Bi toỏn: Tờn ca mt hc sinh c mó húa
bi 1530. Bit rng mi ch s trong s ny
l giỏ tr ca mt trong cỏc biu thc A, H, N,
O vi:
tỡm c tờn ca hc
sinh trờn ta cn phi lm
iu gỡ?
3 1
lim
2
n
A
n

=
+
2
lim 2H n n n= +
2
lim
3 7
n
N
n

=
+
3 5.4
lim
1 4
n n
n
O

=

ỏp ỏn: HOAN

a) Tớnh tng ca cp s nhõn lựi vụ hn (u
n
) vi
b) Tớnh tng sau:
õy l cỏc bi toỏn tỡm tng
ca mt cp s nhõn lựi vụ
hn, ta cn xỏc nh u
1
v q
sau ú ỏp dng cụng thc
gii hn tớnh.
1
2
n
n
u =
( )
1
1 1 1 1
1
2 4 8 2
n
n
S


= + + + + + +
ữ ữ ữ

ỏp ỏn:
a) = 1
b) =2/3

Mnh no sau õy l ỳng?
a) Mt dóy s cú gii hn thỡ luụn tng hoc
luụn gim.
b) Nu (u
n
) l dóy s tng thỡ
c) Nu v thỡ:
lim(u
n
- v
n
) = 0.
d) Nu u
n
= a
n
v -1 < a < 0 thỡ lim u
n
= 0
Cõu hi trc nghim
(Cng c)
lim
n
u = +
lim
n
u = + lim
n
u = +

Cho dóy s (u
n
) vi
Phỏt biu no sau l ỳng?
a) lim u
n
= 0
d) Dóy (u
n
) khụng tn ti gii hn khi n dn
n vụ cc
1
) lim
2
n
b u =
)lim 1
n
c u =
2
1 2 3
1
n
n
u
n
+ + + +
=
+

Quyết định 37/2008/QĐ-UBND ban hành Quy định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí trên địa bàn tỉnh Hậu Giang do Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2008/QĐ-UBND Vị Thanh, ngày 14 tháng 8 năm 2008
QUYẾT ÐỊNH
BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ PHÍ VÀ ĐẤU THẦU PHÍ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HẬU GIANG
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8 năm 2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và lệ phí;
Căn cứ Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy
động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân;
Căn cứ Thông tư số 96/2006/TT-BTC ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn về
mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá;
Căn cứ Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn về
phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương;
Căn cứ Thông tư số 07/2008/TT-BTC ngày 15 tháng 01 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về
lệ phí đăng ký cư trú;
Căn cứ Nghị Quyết số 21/2006/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Hậu Giang về việc thống nhất Tờ trình số 33/Tr-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh
về ban hành Danh mục phí và mức thu phí trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Nghị quyết số 08/2007/NQ-
HĐND ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc điều chỉnh, bổ
sung danh mục phí và mức thu phí áp dụng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang và Nghị quyết số
07/2008/NQ-HĐND ngày 27 tháng 6 năm 2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc sửa
đổi, bổ sung một số khoản thu phí thực hiện trên địa bàn tỉnh Hậu Giang;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Hậu Giang và Giám đốc Sở Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí trên
địa bàn tỉnh Hậu Giang.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số
48/2006/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2006 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc ban hành Quy
định về quản lý thu phí, lệ phí và đấu thầu phí đối với xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hậu
Giang và Quyết định số 15/2007/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2007 của UBND tỉnh Hậu Giang
về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 48/2006/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2006 của UBND
tỉnh Hậu Giang.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Cục trưởng Cục Thuế Hậu Giang, Giám đốc Sở Tài chính;
các Giám đốc Sở, Thủ trưởng cơ quan, Ban, ngành tỉnh; Chủ tịch UBND huyện, thị xã, UBND xã,
phường, thị trấn; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết
định này./.
Nơi nhận:
- Văn phòng CP;
- Bộ Tài chính;
- Tổng Cục Thuế;
- Bộ Tư pháp (CKTVB);
- Như Điều 3;
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
- TT: TU, HĐND, UBND tỉnh;
- VP.TU, các Ban Đảng;
- UBNMTQ, các Đoàn thể tỉnh;
- VP Đoàn đại biểu QH tỉnh;
- Viện KSND, TAND tỉnh;
- Cơ quan Báo, Đài tỉnh;
- Sở Tư pháp (Phòng VB-TT);
- Lưu: VT, 4. TB
quyet dinh UBND tinh ve phi 2007
Nguyễn Văn Thắng
QUY ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ THU PHÍ, LỆ PHÍ VÀ ĐẤU THẦU PHÍ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 37 /2008/QĐ-UBND ngày 14 tháng 8 năm 2008 của UBND tỉnh
Hậu Giang)
Chương I
CÁC LOẠI PHÍ, LỆ PHÍ
Điều 1. Phí là khoản thu của Ngân sách Nhà nước do Nhà nước quy định, nhằm bù đắp một phần
chi phí đầu tư để phục vụ cho các tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, các
tổ chức khác và cá nhân cung cấp dịch vụ, thực hiện công việc mà pháp luật quy định được thu phí.
Lệ phí là khoản thu của Ngân sách Nhà nước, mức thu được ấn định trước bằng một số tiền nhất
định đối với từng công việc quản lý Nhà nước được thu lệ phí, không nhằm mục đích bù đắp chi phí
để thực hiện công việc thu lệ phí.
Điều 2. Các loại phí, lệ phí thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy định này gồm:
1. Các loại phí, lệ phí do xã, phường, thị trấn quản lý thu:
a) Phí
- Phí chợ;
- Phí qua đò, qua phà;
- Phí sử dụng lề đường, bến, bãi, mặt nước;
- Phí trông giữ xe đạp, gắn máy, ô tô;
- Phí vệ sinh.
b) Lệ phí:
Lệ phí đăng ký hộ tịch.
2. Các loại phí, lệ phí do các cơ quan, Ban ngành, đơn vị sự nghiệp quản lý thu:
a) Phí:
- Phí xây dựng;
- Phí đo đạc;
- Phí thẩm định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai;
- Phí thư viện;
- Phí thẩm định cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp;
- Phí tham quan danh lam thắng cảnh;
- Phí vệ sinh (do Công ty Cấp thoát nước - Công trình đô thị thu);
- Phí thẩm định đề án, báo cáo khai thác nước dưới đất;
- Phí thẩm định đề án, báo cáo khai thác và sử dụng nước mặt;
- Phí thẩm định đề án, báo cáo xả nước thải vào nguồn nước, công trình thủy lợi;
- Phí thẩm định báo cáo kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng nước dưới đất;
- Phí thẩm định hồ sơ đề nghị cấp phép hành nghề khoan nước dưới đất;
- Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường;
2
- Phí đấu thầu;
- Phí dự thi, dự tuyển;
- Phí đấu giá.
b) Lệ phí:
- Lệ phí đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân (CMND);
+ Lệ phí đăng ký hộ tịch người trong nước;
+ Lệ phí đăng ký hộ tịch người nước ngoài;
+ Lệ phí đăng ký cư trú;
+ Lệ phí chứng minh nhân dân;
- Lệ phí cấp phép cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
- Lệ phí địa chính;
- Lệ phí cấp giấy phép xây dựng;
- Lệ phí cấp biển số nhà;
- Lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
- Lệ phí cấp giấy phép hoạt động điện lực;
- Lệ phí cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất;
- Lệ phí cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt;
- Lệ phí cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.
3. Các loại phí, lệ phí do Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ quy định thực hiện thống nhất trên
phạm vi cả nước, các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện theo đúng các
quy định pháp luật về phí và lệ phí hiện hành.
Điều 3. Đối tượng thu nộp phí, lệ phí là các tổ chức, cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quy định nhiệm vụ thu phí, lệ phí; các tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí có nghĩa vụ nộp tiền
phí, lệ phí vào Ngân sách Nhà nước (NSNN) theo quy định.
Điều 4. Xác định các loại phí, lệ phí và mức thu trên địa bàn tỉnh Hậu Giang (theo Danh mục phí, lệ
phí và mức thu phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Hậu Giang ban hành kèm theo Quyết định ban hành Quy
định này).
Chương II
QUẢN LÝ, THU NỘP, SỬ DỤNG CHỨNG TỪ PHÍ, LỆ PHÍ
Điều 5. Quản lý thu phí, lệ phí
1. Những loại phí, lệ phí trong Danh mục do UBND tỉnh ban hành, quy định tại khoản 1, Điều 2 của
Quy định này, phát sinh ở địa phương nào thì do UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND
cấp xã) nơi đó quản lý tổ chức thu. Chi cục Thuế có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện và phân cấp quản
lý cụ thể cho các xã; Đội thuế làm tham mưu cho UBND cấp xã để tổ chức quản lý thu phí, lệ phí
theo đúng quy định Pháp lệnh phí và lệ phí và quy định này.
a) Loại phí của xã đã được đấu thầu, người trúng thầu sẽ tổ chức thu nộp đúng quy định.
b) Các loại phí không tổ chức đấu thầu, do UBND cấp xã chỉ định thu, các ủy nhiệm thu được UBND
cấp xã chỉ định thu phải lập bộ và phải được UBND cấp xã duyệt. Ủy nhiệm thu là người trực tiếp
thu nộp phí.
Đối tượng thu nộp phí, lệ phí quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này thực hiện theo hướng dẫn của
cơ quan thuế trực tiếp quản lý.
2. Phí, lệ phí do các Sở, Ban ngành, các đơn vị sự nghiệp có thu (bao gồm cả cơ quan Trung ương
đóng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang) quy định tại khoản 2, 3, Điều 2 của Quy định này, tổ chức thu,
quản lý, sử dụng và nộp vào NSNN theo quy định.
Điều 6. Mức thu cho các loại phí, lệ phí
Các loại phí, lệ phí do UBND tỉnh ban hành kèm theo Quyết định ban hành Quy định này và các loại
phí do Trung ương quy định mức thu, các đơn vị, các địa phương căn cứ mức thu phí, lệ phí nêu
trên để tổ chức thu nhưng không được quy định trái với Quy định này và quy định của Trung ương.
3
Điều 7. Quản lý thu, nộp tiền phí, lệ phí
Cơ quan, đơn vị tổ chức thu phí, lệ phí phải đăng ký kê khai với cơ quan thuế, kê khai phí, lệ phí
hàng tháng và phải nộp tờ khai thu phí, lệ phí cho cơ quan thuế trong 5 ngày đầu của tháng tiếp
theo và có trách nhiệm nộp số tiền phí, lệ phí vào NSNN theo quy định không quá ngày 15 của tháng
sau.
Các Sở, Ban ngành; UBND huyện, thị xã; UBND cấp xã, các đơn vị sự nghiệp của huyện, thị xã có
trách nhiệm đôn đốc các đối tượng thu phí, lệ phí thuộc phạm vi mình quản lý, tổ chức thu và đăng
nộp phí, lệ phí vào NSNN hàng tháng theo quy định.
Đối với các khoản tiền ký cược để tham gia đấu thầu và tiền đặt cọc khi đã trúng thầu, các Chi cục
Thuế có trách nhiệm hướng dẫn đối tượng dự thầu và trúng thầu nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của
Chi cục Thuế tại Kho bạc Nhà nước cùng cấp và hoàn trả lại cho đối tượng trúng thầu theo quy
định.
Đối với các khoản phí do các đơn vị kinh doanh, đơn vị hoạt động công ích tổ chức thu (nếu được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép) thì phải đăng ký với cơ quan thuế để kê khai doanh
thu và nộp thuế theo quy định pháp luật về thuế (khoản phí này được gọi là khoản thu không thuộc
Ngân sách Nhà nước theo khoản 1, Điều 11 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm
2002 của Chính phủ).
Riêng các khoản thu như: cho thuê kiốt, lô, sạp, tại các chợ, trung tâm thương mại do các cơ
quan, đơn vị đầu tư để cho thuê (theo quy định của Pháp lệnh phí và lệ phí thì khoản thu này không
có trong danh mục phí và lệ phí, khoản thu này được xác định là doanh thu của cơ quan, đơn vị và
phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
Cuối năm thực hiện quyết toán chứng từ thu, số tiền thu, số nộp vào NSNN với cơ quan thuế trực
tiếp quản lý, đồng thời quyết toán việc sử dụng phí, lệ phí được trích để lại với cơ quan tài chính
cùng cấp theo quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống kê.
Điều 8. Sử dụng chứng từ thu phí, lệ phí
Các tổ chức, cá nhân được phép thu phí, lệ phí phải đăng ký, kê khai với cơ quan thuế cùng cấp để
nhận mẫu biểu, chứng từ thu do ngành thuế phát hành, khi thu phí phải cấp chứng từ thu cho người
nộp tiền. Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí không sử dụng chứng từ hoặc chứng từ
không đúng quy định.
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ có thu phí (phí này được quy định là phí không thuộc
NSNN) phải đăng ký với cơ quan thuế về chứng từ thu, vé thu theo hướng dẫn của cơ quan thuế,
đồng thời là đối tượng kê khai nộp thuế theo quy định.
Chương III
TỔ CHỨC ĐẤU THẦU PHÍ
Điều 9. Mức thu phí phải đưa ra đấu thầu
- Mức thu trên 48 triệu đồng/năm của một địa điểm thu phí thì phải tổ chức đấu thầu.
- Các loại phí thuộc đối tượng đưa ra đấu thầu theo mức trên bao gồm:
+ Phí chợ;
+ Phí qua đò, qua phà;
+ Phí trông giữ xe;
+ Phí bến bãi đậu xe;
+ Phí sử dụng mặt nước đậu ghe tàu;
+ Phí vệ sinh (trừ phí vệ sinh do Công ty Cấp thoát nước - Công trình đô thị thu).
- Chủ tịch UBND huyện, thị xã chỉ đạo Phòng Tài chính - Kế hoạch, UBND cấp xã khảo sát về mức
giá, tính chất ổn định thường xuyên của từng loại phí ở địa phương có trong danh mục (kèm theo
Quyết định ban hành quy định này), tổng số tiền thu của năm trước và khả năng phát triển về số thu
của năm tiếp theo, để dự kiến mức giá khởi điểm đưa ra đấu thầu cho sát với tình hình thực tế của
địa phương.
- Khi đưa các loại phí ra đấu thầu cần xác định rõ phạm vi, ranh giới cụ thể để việc thu phí không
trùng lắp giữa phạm vi áp dụng đấu thầu phí với phạm vi ủy nhiệm thu.
Điều 10. Nội dung đấu thầu phí gồm có:
4
1. Mức khởi điểm do UBND cấp xã công bố theo các điều kiện sau:
- Đảm bảo sát với tổng thu phí của các năm qua.
- Được hình thành trên tiêu thức mức giá thu phí ban hành kèm theo Quyết định ban hành Quy định
này.
2. Thời gian thực hiện cho mỗi lần đấu thầu là 6 tháng hoặc 1 năm
- Nêu rõ phạm vi và đối tượng thu phí.
- Người tham gia đấu thầu phải cam kết đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện hợp đồng, phải ký
cược 10% trên tổng số tiền của giá khởi điểm mới được tham gia đấu thầu, người không trúng thầu
sẽ được hoàn lại số tiền ký cược. Sau khi kết thúc buổi đấu thầu, người trúng thầu phải đặt cọc
trước từ 10 đến 15% trên tổng số tiền của giá trị hợp đồng nhận thầu, cả 2 khoản ký cược và đặt
cọc sẽ được hoàn trả lại một lần cho đối tượng trúng thầu sau khi thực hiện xong hợp đồng.
- Khu vực đấu thầu, thời gian, địa điểm đấu thầu phải được thông báo công khai rộng rãi.
- Tùy vào mức thu phí, loại phí giao cho Chủ tịch UBND huyện, thị xã xem xét mức đặt cọc từ 10%
đến 15% trên tổng số tiền của hợp đồng nhận thầu.
Điều 11. Thành phần tham dự đấu thầu
- Đại diện UBND cấp xã chủ trì;
- Đại diện Phòng Tài chính - Kế hoạch;
- Đại diện Chi cục Thuế;
- Ban Tài chính cấp xã; Đội trưởng Đội Thuế;
- Các đối tượng tham gia đăng ký đấu thầu (tối thiểu phải có 2 đối tượng trở lên tham gia đấu thầu).
Điều 12. Đối tượng trúng thầu, quyền lợi, nghĩa vụ của bên giao và bên nhận thầu:
Đối tượng trúng thầu là người có số tiền đấu thầu cao nhất và được thực hiện theo hợp đồng trúng
thầu theo phương thức: Đối tượng nhận thầu được hưởng 100% phần thu vượt, nếu lỗ thì phải bù
đắp phí theo hợp đồng giao nhận. Khi nhận thầu phải làm hợp đồng với UBND cấp xã, hợp đồng
phải được ghi rõ những nội dung sau:
- Số tiền trúng thầu phải nộp vào NSNN hàng tháng;
- Quyền lợi và nghĩa vụ của người trúng thầu và UBND cấp xã phải thực hiện đúng hợp đồng. Khi
có thiên tai hoặc một số trường hợp đột xuất khác sẽ được điều chỉnh bằng phụ kiện hợp đồng;
- UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo công khai mức giá thu phí và mức giá sàn làm giá khởi
điểm trước khi tổ chức đấu thầu để mọi người biết.
Điều 13. Các loại phí không qua đấu thầu và các hoạt động dịch vụ
- Đối với các loại phí do cấp xã thu (ngoài đấu thầu) có số thu nhỏ, không ổn định giao cho UBND
cấp xã phối hợp cùng Chi cục Thuế xét và chỉ định ủy nhiệm thu lập bộ và tổ chức thu nộp phí vào
NSNN đúng quy định.
- Đối với các loại phí, lệ phí nêu tại Quy định này và các loại phí, lệ phí do Chính phủ, Bộ Tài chính
và các Bộ quy định, các tổ chức, đơn vị hành chính sự nghiệp và sự nghiệp có thu (kể cả các đoàn
thể) có tổ chức thu, số tiền phí, lệ phí thu được sau khi trích để lại cho đơn vị được hưởng theo quy
định, số còn lại phải nộp vào NSNN.
- Đối với phí do các đơn vị kinh doanh thu (đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép) thì số tiền phí thu được là doanh thu tính thuế theo quy định của pháp luật thuế.
Điều 14. Các tổ chức, cá nhân làm ủy nhiệm thu (kể cả đối tượng trúng thầu) thu các loại phí quy
định tại khoản 1, Điều 2 Quy định này: phí chợ; phí qua đò, qua phà; phí trông giữ xe đạp, xe gắn
máy, xe ô tô; phí bến bãi đậu xe; phí sử dụng mặt nước đậu ghe tàu; phí vệ sinh (trừ phí vệ sinh do
Công ty Cấp thoát nước - Công trình đô thị thu) được trích để lại số tiền thu phí trước khi nộp vào
NSNN tối đa là 10% để tổ chức thu phí, lệ phí theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 11, Nghị định
số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ, để trả thù lao cho người trực tiếp thu
phí và các chi phí khác như: chi mua biểu mẫu, biên lai, vé thu phí,
Các tổ chức, đơn vị hành chính sự nghiệp, Sở, Ban ngành tỉnh, đơn vị sự nghiệp có thu (bao gồm
cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn) nếu được giao nhiệm vụ thu phí thì được trích để lại theo
quy định sau đây:
5
- Trường hợp tổ chức thu phí, lệ phí được NSNN đảm bảo kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí cả
năm thì số phí, lệ phí thu được nộp vào NSNN 100%.
- Trường hợp tổ chức thu phí chưa được NSNN đảm bảo kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí thì
tổ chức thu phí được trích để lại tỷ lệ % để sử dụng cho chi phí phục vụ cho việc thu phí, lệ phí theo
công thức sau:
Tỷ lệ (%) =
Dự toán cả năm về chi phí cần thiết cho việc thu phí, lệ phí theo chế độ,
tiêu chuẩn, định mức quy định
X 100
Dự toán cả năm về phí, lệ phí thu được
Số phí còn lại sau khi đã trích theo tỷ lệ, tổ chức nộp vào NSNN.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 15. UBND huyện, thị xã; các Sở, Ban ngành tỉnh, các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị sự
nghiệp có thu, các đoàn thể chỉ đạo cho các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình tổ chức
thực hiện quy định này. Tổ chức, cá nhân tổ chức thực hiện tốt quy định quản lý thu phí, lệ phí, đấu
thầu phí sẽ được khen thưởng theo quy định của nhà nước.
Điều 16. Các đối tượng được thu phí, lệ phí phải chấp hành nghiêm chỉnh việc thu các mức phí, lệ
phí đúng quy định và nộp tiền phí theo hợp đồng đã ký (đối với hộ trúng thầu), các ủy nhiệm thu phải
thanh toán nộp phí, lệ phí hàng tháng do cơ quan thuế quy định.
Điều 17. Nghiêm cấm các cơ quan, cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tiền phí,
khi phát hiện phải bồi thường toàn bộ số tiền sử dụng trái phép vào ngân sách và tùy theo mức độ vi
phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Điều 18. Cục Thuế có trách nhiệm in ấn, cấp phát chứng từ thu phí theo quy định của Bộ Tài chính
và hướng dẫn việc thanh quyết toán chứng từ cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân thu phí (kể cả đối
tượng trúng thầu).
Cục Thuế cung cấp biểu mẫu và chứng từ thu, biên lai thu, vé thu cho các đơn vị thu phí, lệ phí của
tỉnh, cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang do Cục Thuế quản lý, Chi cục Thuế
cung cấp biểu mẫu và chứng từ thu, biên lai thu, vé thu cho các đối tượng thu phí, lệ phí thuộc địa
bàn mình (bao gồm các: ban ngành, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn).
Điều 19. Sở Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn quyết toán việc sử dụng số tiền phí, lệ phí được
trích và quyết toán tài chính đối với cơ quan tài chính cùng cấp theo chế độ kế toán thống kê của
nhà nước quy định.
Điều 20. Cục Thuế căn cứ vào Quy định này tổ chức triển khai hướng dẫn cho các Sở, Ban, ngành
tỉnh, Chi cục Thuế huyện, thị xã, các đối tượng thu phí, lệ phí và thực hiện thu nộp phí, lệ phí theo
quy định pháp luật về phí, lệ phí.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan
báo cáo về Ủy ban nhân tỉnh để kịp thời chỉ đạo./.
(Đính kèm danh mục phí, lệ phí và các mức thu phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Hậu Giang)
DANH MỤC
PHÍ, LỆ PHÍ VÀ CÁC MỨC THU PHÍ, LỆ PHÍ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG
DANH MỤC PHÍ
I PHÍ XÂY DỰNG ĐVT
Số tiền Ghi chú
Hộ gia đình Tổ chức
Đo vẽ hiện trạng, lập hồ sơ hoàn
công công trình xây dựng
- Đối với nhà ở
+ Nhà ở đô thị Đồng/m2 3.500
+ Nhà ở nông thôn nt 2.000
6
- Đối với các công trình kiến trúc
khác
nt 3.500
II PHÍ ĐO ĐẠC Đất khu vực đô thị Đất khu vực nông thôn
Giới hạn diện tích (m2)
Nhóm đất
nông
nghiệp
(đồng/m2)
Nhóm đất
phi nông
nghiệp
(đồng/m2)
Nhóm đất
nông nghiệp
(đồng/m2)
Nhóm đất
phi nông
nghiệp
(đồng/m2)
1 Diện tích 300m2 trở xuống 550 950 440 750
2
Diện tích trên 300m2 đến
1.000m2
500 850 400 670
3
Diện tích trên 1.000m2 đến
3.000m2
450 660 360 520
4 Diện tích trên 3.000m2 trở lên 400 570 320 450
III
PHÍ THẨM ĐỊNH CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QSDĐ (Đăng ký,
chuyển nhượng, chuyển mục
đích được cấp giấy CN mới).
ĐVT Số tiền
Mức Thu
Tối thiểu/ 1 hồ

Tối đa/ 1 hồ

1 Đất khu vực đô thị
- Hộ gia đình, cá nhân (kể cả
trang trại)
+ Nhóm đất phi nông nghiệp (đất
ở + chuyên dùng)
Đồng/m2 900 90.000 2.000.000
+ Nhóm đất nông nghiệp nt 300 90.000 2.000.000
- Tổ chức ĐVT Số tiền
Tối thiểu/1 hồ
sơ/DA
Tối đa/ 1 hồ
sơ/DA
+ Nhóm đất phi nông nghiệp (đất
ở + chuyên dùng)
Đồng/m2 1.200 200.000 5.000.000
+ Nhóm đất nông nghiệp nt 300 200.000 5.000.000
2 Khu vực đất nông thôn
- Hộ gia đình, cá nhân (kể cả
trang trại)
+ Nhóm đất phi nông nghiệp (đất
ở + chuyên dùng)
Đồng/m2 600 60.000 1.000.000
+ Nhóm đất nông nghiệp nt 200 60.000 1.000.000
- Tổ chức ĐVT Số tiền
Tối thiểu/ 1 hồ
sơ DA
Tối đa/1 hồ
sơ/DA
+ Nhóm đất phi nông nghiệp (đất
ở + chuyên dùng)
Đồng/m2 800 200.000 3.000.000
+ Nhóm đất nông nghiệp nt 200 200.000 3.000.000
IV PHÍ CHỢ ĐVT Số tiền
1 Chợ loại I
- Đối với hộ kinh doanh cố định
Đồng/m2/
ngày
1.500
- Đối với hộ kinh doanh tự sản,
tự tiêu (1 buổi)
Đồng/buổi 1.500
- Đối với hộ kinh doanh tự sản,
tự tiêu (ngày)
Đồng/ngày 2.000
7
2 Chợ loại II
Đối với hộ kinh doanh cố định
Đồng/m2/
ngày
1.000
Đối với hộ kinh doanh tự sản, tự
tiêu (buổi)
Đồng/buổi 1.000
Đối với hộ kinh doanh tự sản, tự
tiêu (ngày)
Đồng/ngày 1.500
3 Chợ loại III
Đối với hộ kinh doanh cố định
Đồng/m2/
ngày
500
Đối với hộ kinh doanh tự sản, tự
tiêu (buổi)
Đồng/buổi 500
Đối với hộ kinh doanh tự sản, tự
tiêu (ngày)
Đồng/ngày 1.000
4
Hộ kinh doanh ở chợ (ngoài nhà
lồng), trên lề đường, mặt bằng
(đất công)
nt 500
V PHÍ QUA ĐÒ ĐVT Số tiền
1 Đối với người
- Đò ngang
Đồng/
người/
chuyến
500
- Đò dọc (tuỳ theo chiều dài
tuyến sông)
Đồng/
người/ km
1.000
2 Đối với người và phương tiện
- Đò ngang
+ Người và xe đạp
Đồng/
người/
chuyến
1.000
+ Người và xe mô tô nt 2.000
- Đò dọc
+ Người và xe đạp
đồng/
người/ km
1.000
+ Người và xe mô tô Nt 2.000

Riêng đối với học sinh, sinh viên
giảm 50% phí qua phà, qua đò
nói trên
VI
PHÍ SỬ DỤNG LỀ ĐƯỜNG,
BẾN, BẢI, MẶT NƯỚC.
ĐVT Số tiền
1
Phương tiện đậu, đỗ để lên,
xuống hàng hóa tại chợ
- Đối với đường bộ
+ Xe có trọng tải đến 5 tấn
(không quá 60.000đ/tháng)
Đồng/lần
tạm dừng
(không quá
ngày đêm)
3.000
8
+ Xe có trọng tải trên 5 đến 10
tấn
(không quá 80.000đ/tháng)
nt 4.000
+ Xe có trọng tải trên 10 tấn
(khômg quá 100.000đ/tháng)
nt 5.000
- Đối với đường thuỷ
+ Tàu ghe có trọng tải đến 10 tấn
(không quá 40.000đ/tháng)
nt 2.000
+ Tàu ghe có trọng tải trên 10 tấn
đến 20 tấn (không quá
60.000đ/tháng)
nt 3.000
+ Tàu ghe có trọng tải trên 20 tấn
(không quá 100.000đ/tháng)
nt 5.000
2 Bến, bãi đậu xe, tàu ghe
- Bãi đậu xe các loại
+ Xe lam, dasu, du lịch đến 12
chỗ ngồi, xe tải đến 1 tấn
Đồng/ngày,
đêm
3.000
+ Xe du lịch đến 15 chỗ, xe tải
đến 5 tấn
nt 4.000
+ Xe khách trên 12 chỗ, xe tải
trên 5 tấn
nt 5.000
- Mặt nước neo đậu ghe, tàu
+ Sử dụng mặt nước có diện tích
lớn, thuận lợi, trọng tải trên 10
tấn
nt 5.000
+ Sử dụng mặt nước có diện tích
lớn, không thuận lợi, trọng tải
dưới 10 tấn
nt 3.000
+ Sử dụng mặt nước có diện tích
nhỏ, thuận lợi, trọng tải trên 10
tấn
nt 2.000
+ Sử dụng mặt nước có diện tích
nhỏ, không thuận lợi, trọng tải
dưới 10 tấn
nt 1.000
VII
PHÍ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI LIỆU ĐẤT ĐAI
ĐVT Số tiền
1 Hộ gia đình, cá nhân
Đồng/hồ
sơ, tài liệu
100.000
2 Tổ chức
Đồng/hồ
sơ, tài liệu
150.000
VIII PHÍ THƯ VIỆN ĐVT Số tiền
1
Cấp thẻ bạn đọc người lớn (kể
cả ép nhựa)
Đồng/thẻ/
năm
5.000
2
Cấp thẻ bạn đọc thiếu nhi (kể cả
ép nhựa)
nt 2.500
IX PHÍ THẨM ĐỊNH CẤP PHÉP SỬ
DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG
ĐVT Số tiền
9
NGHIỆP

Thẩm định cấp phép sử dụng vật
liệu nổ công nghiệp (phá dỡ, xây
dựng Công trình thuỷ lợi, giao
thông, xây dựng, thăm dò dầu
khí, khai thác khoáng sản)
Đồng/ giấy
phép
3.000.000
X PHÍ TRÔNG GIỮ XE ĐVT Số tiền
1 Xe đạp Đồng/lần 500
2 Xe mô tô nt 1.000
3 Xe du lịch 4 chỗ ngồi nt 4.000
4
Xe du lịch trên 4 chỗ ngồi đến 12
chỗ ngồi
nt 6.000
5 Xe du lịch trên 12 chỗ ngồi nt 10.000
XI
PHÍ THAM QUAN DANH LAM
THẮNG CẢNH.
ĐVT Số tiền
1 Khu du lịch
Đồng/lần/
người
3.000
2 Vườn du lịch, điểm tham quan nt 2.000
XII PHÍ VỆ SINH ĐVT Số tiền
1 Cơ quan, ban ngành, đoàn thể
- Trụ sở nằm độc lập Đồng/tháng 15.000
- Trụ sở nằm chung 1 khuôn viên
(nhiều trụ sở)
nt 10.000
2 Trường học các cấp
- Trường có đến 10 phòng Đồng/tháng 20.000
- Trường trên 10 phòng đến 20
phòng
nt 30.000
- Trường có trên 20 phòng nt 50.000
3
Trụ sở văn phòng các doanh
nghiệp các thành phần kinh tế
- Văn phòng độc lập Đồng/tháng 50.000
- Văn phòng các Công ty, XN có
sản xuất kinh doanh
nt 70.000
4 Hộ sản xuất kinh doanh
- Hộ kinh doanh ngoài chợ Đồng/tháng 50.000
- Hộ kinh doanh tại chợ (lô cố
định)
nt 10.000
5 Nhà trọ
Đồng/tháng
/phòng
5.000
- Đến 10 phòng nt
- Trên 10 phòng đến 20 phòng nt
- Trên 20 phòng nt
6 Khách sạn Đồng/tháng 200.000
7 Nhà hàng nt 200.000
10
8 + Khách sạn & Nhà hàng nt 200.000

Riêng khách sạn, nhà hàng mini
tính bằng 50% đối với mục 6,7,8.
9
Hộ gia đình không sản xuất kinh
doanh trong hẻm
Đồng/tháng 5.000
10
Hộ gia đình không sản xuất kinh
doanh mặt tiền
nt 10.000
XIIa
PHÍ THẨM ĐỊNH ĐỀ ÁN, BÁO
CÁO KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI
ĐẤT.
ĐVT Số tiền
1
Đề án, báo cáo khai thác có lưu
lượng nước dưới 200m3/ngày,
đêm
Đồng/ hồ

200.000
2
Đề án báo cáo khai thác có lưu
lượng nước 200 đến dưới
500m3/ngày, đêm
nt 550.000
3
Đề án báo cáo khai thác có lưu
lượng nước từ 500 đến dưới
1.000m3/ngày, đêm
nt 1.300.000
4
Đề án báo cáo khai thác có lưu
lượng nước từ 1.000 đến dưới
3.000m3/ngày, đêm
nt 2.500.000
XIIb
PHÍ THẨM ĐỊNH ĐỀ ÁN, BÁO CÁO KHAI
THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC MẶT.
1
Có lưu lượng nước dưới
0,1m3/giây, hoặc để phát điện
với công suất dưới 50 KW; hoặc
cho các mục đích khác với lưu
lượng dưới 500m3/ngày, đêm
Đồng/đề án 300.000
2
Có lưu lượng từ 0,1 đến dưới
0,5m3/giây; hoặc để phát điện
với công suất từ 50 đến dưới
200KW; hoặc cho các mục đích
khác với lưu lượng từ 500 đến
dưới 3.000m3/ngày, đêm
Đồng/đề án 900.000
3
Có lưu lượng từ 0,5 đến dưới
1m3/giây; hoặc để phát điện từ
200 đến dưới 1.000KW; hoặc
cho các mục đích khác từ 3.000
đến dưới 20.000m3/ngày, đêm.
Đồng/đề án 2.200.000
4
Có lưu lượng từ 1 đến dưới
2m3/giây; hoặc để phát điện với
công suất từ 1.000 đến dưới
2.000 KW; hoặc cho các mục
đích khác, lưu lượng từ 20.000
đến dưới 50.000m3/ngày, đêm.
Đồng/đề án 4.200.000
XIIc
PHÍ THẨM ĐỊNH ĐỀ ÁN, BÁO CÁO XẢ NƯỚC
THẢI VÀO NGUỒN NƯỚC CÔNG TRÌNH
THỦY LỢI.
1
Có lưu lượng nước dưới
100m3/ngày, đêm.
Đồng/1lần
đề án
300.000
2
Có lưu lượng nước từ 100 đến
dưới 500m3/ngày, đêm.
nt 900.000
11
3
Có lưu lượng nước 500 đến
dưới 2.000m3/ngày, đêm.
nt 2.200.000
4
Có lưu lượng nước 2.000 đến
dưới 5.000m3/ngày, đêm.
nt 4.200.000
5
Thẩm định gia hạn, bổ sung của
4 trường hợp trên tính 50%.
XIId
PHÍ THẨM ĐỊNH BÁO CÁO KẾT QUẢ THĂM
DÒ, ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI
ĐẤT.
1
Báo cáo kết quả thi công giếng
thăm dò có lưu lượng nước dưới
200m3/ngày,đêm.
Đồng/ 1
báo cáo
200.000
2
Báo cáo kết quả thăm dò có lưu
lượng nước từ 200 đến dưới
500m3/ngày, đêm.
nt 700.000
3
Báo cáo kết quả thăm dò có lưu
lượng nước từ 500 đến dưới
1.000m3/ngày, đêm.
nt 1.700.000
4
Báo cáo kết quả thăm dò có lưu
lượng nước từ 1.000 đến dưới
3.000m3/ngày, đêm
nt 3.000.000
5
Thẩm định gia hạn, bổ sung 4
trường hợp trên tính 50%.
XIII
PHÍ THẨM ĐỊNH HỒ SƠ ĐỀ
NGHỊ CẤP PHÉP HÀNH NGHỀ
KHOAN NƯỚC DƯỚI ĐẤT.
ĐVT Số tiền
1
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép
hành nghề phạm vi một tỉnh.
Đồng/hồ sơ 700.000
2
Trường hợp thẩm định gia hạn,
bổ sung giấy phép.
nt 350.000
XIV
PHÍ THẨM ĐỊNH BÁO CÁO
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG.
ĐVT Số tiền
1
Thẩm định báo cáo tác động môi
trường.
Đồng/báo
cáo
5.000.000
2
Trường hợp thẩm định gia hạn,
bổ sung.
nt 2.500.000
XV PHÍ ĐẤU THẦU ĐVT Số tiền
1
Đấu thầu xây dựng (xây lắp) giá
trị trên 1 tỷ đồng
Đồng/hồ sơ 500.000
2
Đấu thầu mua sắm thiết bị (gói
thầu giá trị từ 100 triệu đồng trở
lên)
nt 500.000
XVI PHÍ DỰ THI, DỰ TUYỂN ĐVT Số tiền
1
Tuyển sinh (xét tuyển) học sinh
đầu cấp II, III.
Đồng/thí
sinh
3.000
2 Thi tốt nghiệp cấp II, III, kể cả
12
Bổ túc văn hoá (BTVH).
- Trung học cơ sở và Bổ túc
trung học cơ sở
nt 10.000
- Trung học phổ thông và Bổ túc
trung học phổ thông
nt 15.000
3
Tuyển sinh các lớp dạy nghề (trừ
lái xe).
- Thời gian dưới 1 tháng. nt 20.000
- Thời gian 1 tháng trở lên. nt 40.000
4
Dự thi vào các trung tâm ngoại
ngữ.
nt 50.000
XVII PHÍ QUA PHÀ ĐVT Số tiền
1 Đối với người
Đồng/
người/
chuyến
500
2
Đối với người và phương tiện
(hành lý)
+ Người và xe đạp nt 1.000
+ Người và mô tô nt 2.000
+ Người và hành lý (chiếm 1m2
hoặc 100 kg)
nt 1.500
+ Xe du lịch 4 chỗ nt 6.000
+ Xe du lịch 6 đến 12 chỗ nt 8.000
+ Xe du lịch trên 12 chỗ đến 24
chỗ
nt 10.000
+ Xe du lịch trên 24 chỗ nt 12.000
+ Xe tải đến 1 tấn nt 6.000
+ Xe tải đến 5 tấn nt 8.000
+ Xe tải đến 10 tấn nt 10.000
+ Xe tải trên 10 tấn nt 12.000
XVIII PHÍ ĐẤU GIÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ TÀI SẢN BÁN ĐẤU GIÁ.
1
Mức thu phí đấu giá đối với
người có tài sản bán đấu giá.
Mức thu
- Tài sản bán được có giá trị từ
01 triệu đồng trở xuống.
50.000 đ
- Từ trên 01 triệu đến 100 triệu
đồng.
Thu 5% giá trị tài sản bán được
- Từ trên 100 triệu đến 01 tỷ
đồng
Thu 5.000.000đ + 1,5% của giá trị tài sản
bán được vượt quá 100 triệu đồng
- Trên 01 tỷ đồng.
Thu 18.500.000đ + 0,2% của giá trị tài sản
bán được vượt quá 05 tỷ đồng.
2
Mức thu phí đấu giá đối với
người tham gia đấu giá tài sản.
ĐVT Số tiền
Từ 20 triệu đồng trở xuống đồng/hồ sơ 20.000
Từ trên 20 triệu đồng đến 50
triệu đồng.
nt 50.000
13
Từ trên 50 triệu đồng đến 100
triệu đồng.
nt 100.000
Từ trên 100 triệu đồng đến 500
triệu đồng.
nt 200.000
Từ trên 500 triệu đồng nt 500.000
3
Mức thu phí đấu giá quyền sử
dụng đất.
3.1
Trường hợp bán đấu giá quyền
sử dụng đất để đầu tư xây dựng
nhà ở của hộ gia đình, cá nhân
quy định tại điểm a, khoản 1,
Điều 3 của Quy chế đấu giá
quyền sử dụng đất ban hành
kèm theo Quyết định số
216/2005/QĐ-TTg.
ĐVT Số tiền
- Từ 200 triệu đồng trở xuống đồng/hồ sơ 100.000
- Từ trên 200 triệu đến 500 triệu
đồng
nt 200.000
- Trên 500 triệu đồng. nt 500.000
3.2
Trường hợp bán đấu giá quyền
sử dụng đất khác quyền sử dụng
đất quy định tại điểm a, khoản 1,
Điều 3 của Quy chế đấu giá
quyền sử dụng đất ban hành
kèm theo Quyết định số
216/2005/QĐ-TTg.
ĐVT Số tiền
Từ 0,5 ha trở xuống đồng/hồ sơ 1.000.000
Từ trên 0,5 ha đến 2 ha nt 3.000.000
Từ trên 2 ha đến 5 ha nt 4.000.000
Từ trên 5 ha nt 5.000.000
DANH MỤC LỆ PHÍ
I
LỆ PHÍ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU,
CHỨNG MINH NHÂN DÂN
ĐVT
Số tiền
Cấp xã Huyện Tỉnh
Ia
LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
NGƯỜI TRONG NƯỚC
1 Nuôi con nuôi
Đồng/
trường
hơp/ hồ sơ
- Đăng ký việc nuôi con nuôi nt 15.000
- Đăng ký lại việc nuôi con nuôi. nt 20.000
2 Nhận cha, mẹ, con
Đăng ký nhận cha, mẹ, con nt 10.000
3
Đăng ký thay đổi, cải chính hộ
tịch, xác định lại dân tộc (miễn
đăng ký việc thay đổi, cải chính
hộ tịch cho người dưới 14 tuổi,
bổ sung, điều chỉnh hộ tịch).
nt 25.000
4 Các việc đăng ký hộ tịch khác
14

Tài liệu NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC CỔ VIỆT NAM docx

NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC CỔ
VIỆT NAM



Trong cái di sản mỹ thuật quý báu của dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ
xưa còn truyền lại, có một phần quan trọng và khá phong phú, ấy là phần của nghệ
thuật điêu khắc.
Những tài liệu, một phần gồm những hiện vật đã được sưu tầm và trưng bày
tại Viện Bảo tàng lịch sử hoặc ở một số bảo tàng địa phương, một phần khác là
những tài liệu gắn liền với các di tích kiến trúc cổ nằm rải rác ở nhiều nơi trong
nước, đặc biệt là ở một số lăng mộ, chùa và đình. Số lượng nói chung không lớn
lắm, một số hiện vật lại không còn được toàn vẹn, vì đại bộ phận các sáng tác là
làm bằng các chất liệu kém chịu đựng sự thử thách của thời gian, như gạch vôi, đất
nung và nhiều hơn cả là gỗ, những tác phẩm bằng đồng hay bằng đá rắn chỉ gồm
một số ít. Đồng, đá, có kiên cố hơn, nhưng nhiều công trình làm bằng chất liệu này,
nhất là đá, hầu hết là dựng ở ngoài trời cho nên cũng đã không tránh khỏi ít nhiều
bị xói mòn vì lâu đời dầu dãi gió mưa.
Cái khí hậu đặc biệt ẩm thấp và nồng nực của một nước nằm hoàn toàn
giữa miền nhiệt đới, nếu như là thích hợp cho sự sinh sôi nảy nở dồi dào của sinh
vật và thảo mộc, nếu như đã khiến cho ở đây, thật là “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”
bốn mùa xum xuê, xanh tốt, tạo cho khung cảnh của con người sống trên dải đất
có cấu tạo đa dạng này những sắc thái nhiều vẻ kỳ ảo, thì đồng thời nó cũng lại tác
hại không ít đến sức khỏe con người và những công trình mà óc sáng tạo và bàn
tay khéo léo của họ đã làm ra. Hạn hán, mưa, lũ, bão, lụt v.v xảy ra hằng năm.
Lịch sử còn ghi những trận lũ lớn đã cuốn đi cả nhiều làng mạc, những trận bão,
trận sét đánh đã thiêu hủy cả nhiều cung điện v.v mà con người phải đương đầu
khắc phục để mà sinh tồn. Chưa đủ. Hoàn cảnh lại còn muốn họ phải chống chọi
với tình trạng địch họa đã diễn ra nhiều lần trên đất nước trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài. Những cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc, của đế quốc
phương Tây v.v đã gây ra không biết bao nhiêu tổn thất. Kinh thành Thăng Long
(Hà Nội ngày nay) đã bao phen bị tàn phá hết bởi quân Nguyên (thế kỷ XIII) quân
Chiêm Thành (thế kỷ XIV) đến quân Minh (thế kỷ XV), quân Mãn Thanh (thế kỷ
XVIII) và cuối cùng là quân Pháp (thế kỷ XIX). Đâu phải hết! Những cuộc tranh
giành ngai vàng giữa những tập đoàn phong kiến thống trị trong nước, những cuộc
đổi thay triều đại trong đó một số vua chúa triều đại mới lên thường đốt phá cung
miếu hòng tiêu diệt ảnh hưởng của triều đại trước.
Đi đôi với thiên tai, những nạn ngoại xâm những cuộc nội chiến đã nối tiếp
nhau hủy hoại thêm bao nhiêu công trình nghệ thuật mà ngày nay ta phải ngẩn ngơ
tiếc, giận, khi nghe kể lại hoặc khi nhìn lại một ít mảnh vụn, dấu vết của bao nhiêu
sáng tạo huy hoàng đa tan lẫn trong cát bụi.
Phật Quỳnh Lâm, một trong bốn kỳ quan1 còn truyền tụng từ thế kỷ XI,
XIII, cao 6 trượng (24 mét) theo như văn ghi ở trong tấm bia duy nhất còn sót lại
nơ mà ngày nay cả ngôi chùa lẫn pho tượng chỉ còn là gạch đá vụn.
(Bốn kỳ quan còn truyền tụng từ thế kỷ XIII Phật Quỳnh Lâm (chùa cùng
tên, Quảng Yên), tháp Bảo Thiên (Thăng Long), vạc Phổ Minh (Nam Định) và
chuông Quỳ Điền (chùa Một cột).
Chùa Giạm (Bắc Ninh), cũng một công trình nổi danh của nghệ thuật Phật
giáo buổi thịnh thời (thế kỷ XI) mà những cuộc phát hiện gần đây đã tìm ra những
cập nền xẻ vào sườn núi với bục thềm giữa dài 16 mét. Thành nhà Hồ (thế kỷ
XIV) (Thanh Hóa) mà những tường lũy còn lại, toàn đá xanh, có phiến dài đến 7
mét, cao 1,50 mét với bốn cổng cuốn tò vò bằng đá hộp lắp dựng với một kỹ thuật
rất chính xác, với đôi rồng đá tạc với một nghệ thuật sinh động, lực lưỡng v.v
Những chứng tích ấy đã nói lên hùng hồn quy mô khá đồ sộ của những công trình
đẹp đẽ mà ngày nay chỉ còn “vang bóng một thời”. Gần chúng ta hơn, cách đây
mới mười lăm năm, trong cuộc kháng chiến thần kỳ của nhân dân ta chống thực
dân Pháp, quân đội đế quốc dã man đã một lần nữa lại phá hủy thêm một số di tích
nghệ thuật danh tiếng.
Chùa Đọi (Long Đọi Sơn, Hà Nam) với những di vật từ thời Lý, chùa Yên
Phụ, chùa Bách Mông (Bắc Ninh), cảnh trí u nhã, chùa Đậu (Hà Đông) với nhiều
điêu khắc gỗ sơn (thế kỷ XVII, XVIII) bị đốt gần hết. Đền Đô cổ kính (Bắc Ninh)
nơi thờ tám vua nhà Lý với những chạm khắc lộng lẫy, những cỗ kiệu quý giá, có
cỗ làm từ thế kỷ XIII, tới nay chỉ còn là một nền đất hoang với vài gốc cổ thụ còn
vết đen thui của khói lửa, bom đạn.
Tải qua bao nhiêu thiên tai địch họa, cái vốn vô cùng quý báu ấy của nghệ
thuật xưa, do bao nhiêu xương máu, mồ hôi, nước mắt của cha ông ta mới tạo nên,
cho đến ngày nay còn lại một phần không lớn lắm.
Một hình ảnh phổ biến và đặc biệt quen thuộc đã từ mấy thế kỷ nay đối với
đời sống và tình cảm của mỗi người Việt Nam, nhất là nông dân, một hình ảnh mà
ngày nay người du khách đến thăm đồng nội Việt Nam còn thường gặp ở hầu khắp
các làng mạc nhất là từ Thanh Nghệ Tĩnh trở ra, đó là hình ảnh ngôi đình. Lối kiến
trúc này xuất hiện đầu tiên ở thời nào? Đây còn là vấn đề phải nghiên cưu. Có ý
kiến cho rằng, có thể là từ đời Trần (thế kỷ XIII), một đôi truyền thuyết về sự tích
đình lại ghi một thời đại xưa hơn nữa. Nhưng, căn cứ vào những mô-típ trang trí ở
một số đình đẹp và xưa hơn cả thì chưa thấy có một mô-típ nào xa hơn thế kỷ
XVII. Dẫu sao thì với phong cách kiến trúc độc đáo mà lại phổ cập đến cả các làng,
hơn nữa, với những hiện vật súc tích về điêu khắc của nó thì ngôi đình vẫn là một
kho tư liệu rất hay cho việc nghiên cứu về nền nghệ thuật tạo hình xưa. Cái kiểu
kiến trúc vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi họp bàn việc làng, vừa là nơi tập
họp dân chúng những ngày tết, đám hội hè này, có thể nói là một mẫu điển hình về
nghệ thuậtkiến trúc gỗ, mà cách kết cấu đã phổ cập trong cả nước. Đồng thời cũng
là biểu hiện điển hình của quan niệm xây dựng của người nghệ sĩ vô danh thời xưa,
những người mà một kiến trúc sư Việt Nam, ông Ngô Huy Quỳnhm đã gọi là “Bậc
thầy của khoa kiến trúc đô thị dân tộc” (maitres de l’urbanisme national). Về một
vài đặc sắc của kiến trúc Việt Nam, nhà kiến trúc trẻ tuổi ấy đã viết: “ Những
khối kiến trúc dựng lên, dù nhỏ đến đâu, cũng đều được bố trí nhịp nhàng với
thiên nhiên xung quanh. Người ta có thể nghĩ rằng, sức sáng tạo thiên tài của
người nghệ nhân dân tộc xưa là ở chỗ chỉ cần đặt một công trình kiến trúc khiêm
tốn về hình khối vào một khung cảnh thiên nhiên có uốn nắn đôi chút là đã tạo ra
cả một tác phẩm kiến trúc to lớn vượt ra ngoài khuôn khổ bản thân của công
trình ”.
Quả đúng như vậy. Nếu bạn ngắm một công trình kiến trúc xưa mà điển
hình là ngôi đình xưa, hoặc xây dựng lưng vào một sườn đồi bày trên một bãi
phẳng bên chân một núi đá, hoặc soi bóng bên một mảng nước hồ rung rinh hoa
súng, hoặc dựa vào một khúc đê với những bờ tre, thân cây dẻo, dáng uốn như cần
câu đu đưa theo gió, hoặc giữa những hàng cau thân khoanh những đốt ngắn,
mảnh dẻ, thẳng tắp, vút lên và tỏa trong không gian những tầu là rất trang trí, hoặc
nữa, bên một gốc gạo xù xì thân như rắc bạc, cành khúc khuỷu như những nét bút
già dặn hất lên cao với những đài hoa đỏ như son quyện mây xám hồng đầu hạ
(một mô-típ phong cảnh bố cục sẵn cho tranh sơn mài) hoặc nữa, nhất là bên một
gốc đa với những cành to lớn quằn quại vườn sà giữa tầng tầng lớp lớp là xum xuê,
với những rễ buông, rễ leo quấn quýt, to cứ tầy ôm ấy, chắc chắn bạn sẽ có cái
cảm giác kỳ ảo, dễ chịu trước sự hài hòa thỏa sướng, đầy thi vị đậm đà giữa các
cấu tạo thiên nhiên và cái cấu tạo của bàn tay con người ấy, cái hài hòa tạo bằng
sự phối hợp rất đắt những tương phản giữa mảng ngang và nét thẳng đứng. Mảng
ngang của tòa mái ngói rộng rãi, khỏe, với bốn góc đao uốn lên như bay giữa
những mảng cũng ngang và lốm đốm ánh sáng của vầng lá đậm. Đối lập là những
nét thẳng của hàng cột mập mạp nhịp với những rễ phụ rễ buông như rủ như neo
những thân cây xuống mặt đất có nở những đóa sen đá tảng đỡ lấy những chân
cột
Nếu như giữa kiến trúc và thiên nhiên xung quanh, người nghệ sĩ xưa đã
tạo nên một sự nhịp nhàng ăn khớp đôi khi đột ngột kỳ thú, thì giữa hai ngành
nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc, sự hài hòa ăn khớp xem ra lại càng khăng khít
hơn nữa. ở nước Việt Nam xưa, những kiến trúc như cung điện vua chúa, lăng tẩm,
đền thờ danh tướng, danh nhân, chùa và đình đều là những nơi tập trung nhiều
nhất các công trình mỹ thuật nói chung, các công trình điêu khắc nói riêng. Mà
điển hình và phổ cập hơn cả về sự gắn bó giữa điêu khắc và kiến trúc thì lại phải
nói đến ngôi đình. ở đây cũng như ở mọi tổng thể kiến trúc khác, hầu như không
có một mô-típ điêu khắc nào mà lịa không có một vị trí, không gắn chặt vào một
toàn thể của công trình. Nhiều khi sự gắn bó thành hữu cơ đến nỗi khó mà nói
được rằng khi nào thì kiến trúc chấm dứt để điêu khắc, trang trí bắt đầu.
Tòa mái cong lợp ngói với độ dốc mạnh rất hớp với khí hậu nóng và nhiều
mưa bão; cái mái to choán đến gần hai phần ba chiều cao của tòa nhà, nhưng
không gây cảm giác nặng nề do những đường uốn lượn uyển chuyển của bờ nóc,
của đao đình, nhịp với nó là những tầu mái, những tấm gỗ đặt chếch, đó và viền
theo bờ ria mái, hai đầu tầu mái to bản dần ra và cuốn lên như hai nét mác, làm
cho mái có độ dày mềm mại, xứng với toàn khối, chỗ giao nhau của hai đầu tầu
mái ở góc mái được khóa vào nhau tài tình, hợp lý, biến chỗ vào mộng thành chiếc
lá lật cách điệu ưỡn mình ra cõng lấy đao mái và tạo một chỗ dựa vững chắc cho
đường réo của mái uốn vút lên như bay. Cách giải quyết đồng thời lại tạo cho góc
đình một bố cục độc đáo, dẫn mắt người xem từ cột góc đình mà đưa lên không
gian theo cái vút nhọn của đao đình Đây là một ví dụ nhỏ về cái kết cấu “kiến
trúc điêu khắc” vừa trình bày ở trên.
Đi vào lòng đình, dưới bóng râm của toàa mái, đối lập với cái trơn tru của
hình cột mập, cả một hệ thống xà, kèo, kẻ bẩy, câu đầu v.v cài thì xoi gờ chỉ, cái
thì chạm nổi, chạm lọng, chồng lên nhau, đỡ lấy nhau Những bản, những khối
gỗ vuông tròn, trụ ấy dù to, nhỏ, không cái nào lại không có công dụng nhất định
trong kết cấu; tất cả những “vì, kèo” đó, qua tay những người nghệ sĩ dân gian độc
đáo đã trở thành cả một thế giới kỳ ảo trong đó, giữa những “tứ quy”, “thông, mai,
cúc, trúc”, giữa những mây tụ, mây tán với mọi biến thể của chúng, những thảo
mộc, hoa quả, quen thuộc v.v những con vật thần linh, những “rồng, phượng, lân,
quy” lẫn những muông thú quen thuộc của nhiệt đới, những voi, bò, ngựa, trâu
quấn quýt với những con người, từ những tiên ông, tiên nữ đến con người trần thế.
Cũng lại như ở kiến trúc với thiên nhiên, ta lại gặp ở đây cách phân bố mảng khối
theo hai chiều hướng đối lập: ngang bằng và thẳng đứng. Cái cách phối hợp những
đối lập ấy dường như thành nguyên tắc chỉ đạo cho mọi bố cục tạo hình, được
người nghệ sĩ xưa xử lý rất linh động và sáng tạo khiến cho nó không bị cứng đờ,
trái lại, đã luôn luôn biến chuyển, quan hệ khăng khít với môi trường xung quanh
mà hình thành những dạng vẻ mới Nếu như, ở gian giữa, nơi dành cho việc lễ tế,
người ta đã gặp từ những câu đầu hình đâu rồng , những xà, bay, cả trần nhà đến
những cửa võng đơn, kép tất cả đều chạm nổi đến chạm lọng, chạm thủng v.v
trong những bố cục thường là đăng đối, mô-típ thường khi sơn son thiếp vàng
nhưng thường chỉ xoay quanh một số đề tài ít khi thay đổi, nhất là những kiểu
rồng phượng, và đôi khi cũng bị hơi rậm rạp nặng nề; thì, ngược lại, qua những
gian bên, phần lộng lẫy có giảm đi nhưng phần sinh động, kỳ thú và hiện thực lại
tăng lên nhiều hơn. Càng ở những gian phụ thì sắc thái này lại càng rõ, không còn
bị rằng buộc bởi những cách thức, quy phạm mà tính chất tôn nghiêm của đối
tượng thờ cúng chi phối. Người nghệ sĩ dân gian đã như được trở về miếng đất
quen thuộc của mình để cho cảm hứng, tưởng tượng cất cánh tự do phóng khoáng
hơn, cách biểu hiện cũng được thoải mái, linh hoạt hơn, nhạy cảm hơn.
Xem những họa tiết trang trí thường gặp, chẳng hạn như những hoa văn,
đường triện (grecques), cành lá uốn cong (rineaux), mây, lửa, sóng gợn thường
hay được thể hiện xum xuê quấn quýt làm ta cảm thấy như người nghệ sĩ thời này
đã chịu ảnh hưởng khá nhiều của thiên nhiên, cảnh vật xung quanh, cái của thiên
nhiên tuy là có hà khắc, nhưng cũng vô cùng giàu đẹp mà các tác giả vô danh xưa
đã chắt lọc, đã rút ra những tạo hình độc đáo. Trên những thân cột như mọc ra
những đường kèo, những kẽ xà chạm trổ, những con cung, chiếc đầu trụ hình hoa
sen nở như gợi ta liên tưởng đến những cây nhiệt đới mang lúc lỉu những chùm
quả lạ, những tua rồng, tua lửa uốn lượn khi mấp mô khi tuôn mạnh, nô rỡn với
sóng gợn, với những lùm mây vân vũ lại như còn vang hòa điệu nhịp dào dạt của
những cơn mưa tốt lành, nước cuồn cuộn hay róc rách chảy tưới cho đồng ruộng
xanh tươi. Những đề tài khác cũng dồi dào. Ngoài những hình tượng rút ở truyền
thuyết thần thoại như vua Nghiêu cưỡi voi đi tìm vua Thuấn, những tiên ông phó
hội, tiên nữ cưỡi rồng cưỡi phượng, ca múa, những tích rút ở truyền thuyết lịch sử
như sự tích Đinh Tiên Hoàng, những tích rút ở ngụ ngôn, ở ca dao thì điều đáng
chú ý là có khá nhiều những cảnh sinh hoạt quen thuộc của đời sống người dân
cày, người thợ thủ công như cảnh săn bắn, câu cá, cảnh chèo thuyền, cảnh cày
ruộng, đánh vật, có cả những chim chóc bay lượn giữa những hoa náng, hoa súng
quen thuộc của ao chuôm, đồng nội. Trong những bố cục chặt chẽ mà thanh thoát,
người và vật hầu hết được diễn tả với trạng thái động, mỗi tư thế, mỗi động tác
đều đúng với đặc tính của đối tượng miêu tả. Khi có bối cảnh thì bối cảnh cũng
được tạo cho ăn nhịp với người, vật để tăng thêm sinh động cho bố cục. Hình
tượng thờ phần lớn là no, tròn, vuông vức, mộc mạc. Cách điệu hoá sự vật thì chân
thật, đôi khi thần tình, chứng tỏ một sự thâm nhập, sự hiểu biết khá tinh tế, ở đó
các tác giả đã như lướt bỏ qua những chi tiết có tính tả cảnh để tập trung vào đặc
trưng và nhất là cái “thần” của sự vật. Xem một vài hình ảnh như hươu non nhảy
nhót tung tăng, hay người múa (đình Thổ Hà, Bắc Ninh) hoặc như người cày
ruộng, võ tướng cưỡi hổ, quản tượng v.v (đình Chu Quyến, Sơn Tây), hoặc như
những chim chóc nhảy nhót chen với hoa lá (chùa Keo, Nam Định), người ta
không khỏi ngạc nhiên trước sự thể hiện thật là giản dị mà mang nhiều vẻ sinh
động, thanh thoát, đôi khi lại đượm chút hài hước dí dỏm cố hữu của người nông
dân trong các mô-típ đó Ngay cả những vật thần thoại như con lân, con rồng, mà
người ta cũng không cảm thấy là bịa. Người nghệ sĩ dân gian giàu trí tưởng tượng,
nhưng đồng thời cũng rất thực tế, đã hóa dần những con vật thần kia cho hợp với
miếng đất trần gian của minh !
Một sáng tạo khác khá lý thú, độc đáo rất đáng chú ý ở thời này, đó là mô-
típ rồng (long sào): một họa tiết chưa từng có xưa kia về đề tài con rồng. Trước kia,
rồng thường thể hiện đơn độc, rồng là biểu hiện của uy quyền vua chúa phong
kiến; khu dùng vào trang trí thì cũng chỉ là một con rồng thu gọn trong một hình lá
đề hay hình cánh sen v.v (Thời Lý, Trần thế kỷ XI, XIII); hoặc giả là hai con vật
hai bên đối diện nhau cùng chầu một mặt trời mà ta thường gặp ở những cửa điện,
cửa cung v.v Con vật tượng trưng cho uy quyền phong kiến đó sang đến thế kỷ
này đã ít thấy nhe nanh giơ vuốt rồi, nó đã trở thành một con vật thông thường hơn,
tuy vẫn còn mang hình thức rồng. Đặc biệt nữa là nó lại được thể hiện thành một
mái rồng với đàn con rúc dưới cánh gà mẹ: biểu hiện của sự sinh nở tốt lành dồi
dào, thể hiện ước mơ mộc mạc của người nông dân mong có một đời sống giản dị,
bình yên, no ấm. Có khi rồng lại thể hiện cùng với thằn lằn, với chó con v.v
trong một bố cục hài hòa thoải mái (vì kèo đình Thổ Hà, Bắc Ninh). Tất cả gợi lên
một sự gần gũi ruột thịt với một ngành nghệ thuật độc đáo khác là “nghệ thuật
tranh dân gian” rất quen biết, đồng thời nó cũng lại như mang đậm hồi quang của
phong cách nghệ thuật đã đạt tới trình độ khá cao ngay từ buổi còn sơ khai của
lịch sử mà tiêu biểu là những chạm khắc của những trống đồng, thạp đồng đã nổi
tiếng.
Tính hiện thực, giản dị, không trau chuốt, tính lạc quan hồn hậu, sự gắn bó
cuộc sống, tính trang trí nhịp nhàng trong một bao quát lực vững chãi, sự hài hòa
tìm trong những đối lập v.v tất cả những đức tính đó dường như những tơ ruột xe
sợi chỉ hồng truyền thống xuyên qua tất cả các ngành nghệ thuật tạo hình trong
suốt quá trình lịch sử. Tuy sợi chỉ đó có bị chùng đi, phai đi phần nào trong những
giai đoạn có khi khá dài như cả thời kỳ gần ngàn năm bị phong kiến Nam Hán đô
hộ, nhưng nó không hè bị đứt bao giờ. Trái lại sợi chỉ hồng ấy vẫn giữ được bền,
được săn, mặc dầu phải trải qua sóng gió, để đến khi giành lại được độc lập dân
tộc, nhân dân lại được sống một cuộc đời tương đối ổn định, tự do, tạo điều kiện
thuận lợi cho nghệ thuật phát triển thì sợi chỉ hồng truyền thống ấy lại càng săn
chặt hơn, đậm đà hơn để lại ánh qua các sáng tác nghệ thuật một màu sắc rực rỡ
hơn.
Ngoài ngôi đình cổ điển ra, thì trong các di tích kiến trúc khác, chùa là nơi
còn lưu được nhiều hơn cả những sáng tác nghệ thuật giá trị, đặc biệt là điêu khắc.
Người ta đã biết rằng, đạo Phật từ ấn Độ truyền sang Việt Nam do hai
đường: một đường phía nam qua Khơ-me, Chiêm Thành; một đường phía bắc qua
Trung Quốc. Du nhập vào Việt Nam, phát triển mạnh dần và trở thành quốc giáo
dưới triều Lý và đầu Trần (thế kỷ XIII), đạo Phật đã ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng,
ý thức người đương thời và đến cả một thời kỳ dài đến trên 600 năm về sau. Cùng
với đạo Lão, đạo Khổng và những tín ngưỡng vật tổ, những phong tục tập quán
lưu truyền xưa, đạo Phật đã có tác động lớn trong việc hình thành một nền nghệ
thuật Phật giáo dân tộc. Nói đến nền nghệ thuật Phật giáo ấy, trước hết phải kể đến
những điêu khắc đá chùa Phật Tích (Bắc Ninh), những con giống: voi, ngựa, trâu
v.v những họa tiết trang trí gồm những hoa sen, lá đề, con phượng quen thuộc và
nhất là con rồng giun (dragon filiforme) rất phổ biến trong nhiều loại trang trí,
gạch, gốm, đá và gỗ. ở thời kỳ này, những bệ thờ với những “gâruda” ở góc, mang
khá rõ nét ảnh hưởng của nghệ thuật Chàm và đặc biệt là tượng A Di Đà toàn đá.
Chạm khắc những trang trí rất tinh vi nhưng đều chứa đựng một khối đại thể đơn
giản với những phân độ rất cân xứng. Những di tích còn lại khác như chùa Cói
(Vĩnh Phúc), chùa Đọi (Long Đọi Sơn, Hà Nam), chùa Keo cổ (Hà Nội ngày nay)
cũng rất đáng chú ý. Thế kỷ XIII, XIV còn để lại một số tác phẩm đặc biệt như hổ
đá ở lăng Trần Thủ Độ hay tháp nhà Trần (chùa Phổ Minh, Nam Định) cao 14
tầng, tầng dưới cùng toàn đá chạm và quanh đó là những con rồng, sóc; một bộ
cửa gỗ chạm rồng, những bức cốn chạm tiên nữ dâng hoa, tiên nữ đánh đàn v.v
ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên) mà những nét chạm lực lưỡng, đậm đà, thể hiện rất
rõ những phong cách đời Trần cũng như chiếc bệ thờ đá chùa Thầy (Sài Sơn, Hà
Tây) hoặc như những di tích thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đã nói ở trên v.v Sang
thế kỷ XV, XVI, địa vị độc tôn của Phật giáo cũng đã giảm đi, đồng thời cũng là
thời kỳ mà trong nước, sự suy sụp của những vua cuối đời Trần, Hồ, đã đưa tới sự
xâm lăng của phong kiến Trung Hoa nhà Minh. Những sự kiện đó đã làm cho nền
nghệ thuật đang đà phát triển nói chung và nền nghệ thuật Phật giáo nói riêng tạm
thời ngừng trệ. Phải đến khi kết thúc cuộc kháng chiến mười năm của nhân dân
dưới sự lãnh đạo của anh hùng dân tộc Lê Lợi, giải phóng được đất nước khỏi ách
đô hộ quân Minh, lập nên triều đình Hậu Lê thì những thắng lợi lơn lao cổ võ nhân
dân về nhiều mặt mới đồng thời lại thúc đẩy cho nghệ thuật bắt lại được đà để phát
triển mạnh mẽ hơn. Cũng như sau cuộc chiến thắng quân Nguyên của Trần Quốc
Tuấn (thế kỷ XIII), nghệ thuật được thổi một luồng gió trong lành, hào hùng, tạo
nên những sáng tác có nhiều vẻ hiện thực cổ truyền mà lại lực lưỡng, đậm đà,
phóng khoáng hơn so với phong cách thanh tú, nhịp nhàng nhưng hơi gò bó của
thế kỷ XI (triều Lý) thì đến sau cuộc chiến thắng quân Minh của Lê Lợi, nền nghệ
thuật Việt Nam lại biết thêm một thời kỳ cực thịnh và phong phú hơn trước trong
đó những ngôi đình độc đáo và phổ biến đã nói ở phần trên là những chứng tích
hùng hồn. Về nghệ thuật Phật giáo, tuy đến thời nay ảnh hưởng của tôn giáo ấy đã
không còn mạnh, rộng nữa, những chùa chiền mới xuất hiện thưa đi nhiều, hầu
như chỉ có những trùng tu đối với những công trình kiến trúc đã có là đáng kể.
Tuy nhiên về nhiều mặt khác, và đặc biệt là về nghệ thuật tạc tượng, nhất là tạc
tượng gỗ, thì có thể nói thế kỷ XVII, XVIII này là thời kỳ mà nền điêu khắc ấy đã
đạt đến những đỉnh cao, nhất là về phương diện hiện thực thì tiến triển nhiều hơn
các thời trước. Những tượng Phật, những chạm trổ trang trí, nhất là loại chạm gỗ
xuất hiện trong suốt hai thế kỷ liền ấy rất dồi dào và có nhiều sắc thái. Ngoài
những di tích như lăng nhà Lê (Lam Sơn Thanh Hóa) đến lăng Đinh Tiên Hoàng
và Lê Đại Hành (Hoa Lư, Ninh Bình) nhà tiền đường đền Cổ Loa (Hà Nội) v.v
mà trong đó những họa tiết đã từng phổ biến như con rồng thì đã khác xa, so với
họa tiết cùng loại ở các thế kỷ XI, XIV. Những con rồng mình rắn, chân chim mập
này với những vây, vẩy những “tua” nét mác hay những “tua” ngọn lửa uốn khúc
mạnh mẽ hơn, phóng khoáng hơn, là những thể hiện rất rõ nét làm cho dễ phân
biệt phong cách của nghệ thuật Lê sơ với Trần hay Lý. Ngoài ra, ta còn gặp nhiều
họa tiết mới như những hoa văn, đường triện, những cành lá uốn cong, những sóng

Quyết định 36/2007/QĐ-BNN Quy định sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số 36/2007/QĐ-BNN Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN
BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Căn cứ Nghị định số 86/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về quản lý sản xuất,
kinh doanh phân bón;
Căn cứ Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ Quy định quản lý nhà
nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Trồng trọt,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quyết định
số 72/2004/QĐ-BNN ngày 08/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định sản xuất, kinh
doanh và sử dụng phân bón.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Giám đốc
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị,
tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

KT. BỘ TRƯỞNG
Thứ trưởng
Bùi Bá Bổng


QUY ĐỊNH
SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 36/2007/QĐ-BNN ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Chương 1:
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy định này áp dụng trong lĩnh vực sản xuất (trừ sản xuất phân bón vô cơ), kinh doanh, sử dụng phân
bón, công bố “Danh mục phân bón được phép sản xuất kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam” và phân công
trách nhiệm quản lý nhà nước về phân bón.
2. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động trong lĩnh vực tại khoản 1 Điều này trên lãnh
thổ Việt Nam phải thực hiện Quy định này. Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập có quy
định khác thì thực hiện theo Điều ước quốc tế đó.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Quy định này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Các loại phân bón rễ, phân bón lá, phân vô cơ (phân khoáng, phân hoá học), phân đơn (phân khoáng
đơn), phân phức hợp, phân trộn (phân khoáng trộn), phân vi sinh vật, phân hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng,
phân bón có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng và hàm lượng độc tố cho phép được hiểu như Điều 4
Chương I của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ (sau đây gọi là
Nghị định 113/2003/NĐ-CP) về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón.
2. Yếu tố dinh dưỡng đa lượng gồm đạm ký hiệu là N (tính bằng N tổng số), lân ký hiệu là P (tính bằng
P
2
O
5
hữu hiệu) và kali ký hiệu là K (tính bằng K
2
O hoà tan).
3. Yếu tố dinh dưỡng trung lượng gồm canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S) và Silic (SiO
2
).
4. Yếu tố dinh dưỡng vi lượng gồm sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), bo (B), môlipđen (Mo), mangan (Mn) và
clo (Cl).
5. Phân đa yếu tố: là loại phân vô cơ có chứa từ 2 yếu tố dinh dưỡng đa lượng trở lên, không kể các yếu tố
trung lượng, vi lượng.
6. Phân hữu cơ: là loại phân bón được sản xuất từ các nguồn hữu cơ có hàm lượng chất hữu cơ đạt tiêu
chuẩn theo quy định
7. Phân hữu cơ vi sinh: là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có chứa một hay nhiều chủng vi
sinh vật sống có ích, với mật độ phù hợp với tiêu chuẩn đã ban hành.
8. Phân hữu cơ khoáng: là loại phân sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, được trộn thêm một hay nhiều yếu tố
dinh dưỡng, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng đa lượng.
9. Hàm lượng các chất dinh dưỡng: là lượng các chất dinh dưỡng có trong phân bón được biểu thị bằng đơn
vị khối lượng/đơn vị khối lượng (g/kg ), tỷ lệ phần trăm (%) hoặc phần triệu (ppm); nếu là phân dạng lỏng
có thể dùng đơn vị khối lượng/đơn vị thể tích (mg/lít, g/lít ).
10. Phân hữu cơ truyền thống: là loại phân có nguồn gốc từ động, thực vật như: phân trâu, phân bò, phân
lợn, phân gà, phân bắc, nước giải và các loại phân xanh;
11. Các kim loại nặng có trong phân bón được quy định gồm những loại sau: Thuỷ ngân (Hg), Chì (Pb),
Cadimi (Cd), Asen (As), Crôm (Cr), Niken (Ni) có hàm lượng vượt mức so với quy định.
12. Vi sinh vật gây hại có trong phân bón được quy định gồm các chủng vi khuẩn E. Coli, Salmonella,
Coliform và trứng giun đũa (Ascaris) có mật độ vượt quá mức so với quy định.
13. Hàm lượng các chất hữu hiệu hoặc các chất hoà tan (đối với phân bón lá) là hàm lượng các chất hoà tan
trong nước hoặc trong axít yếu mà cây trồng có thể dễ dàng sử dụng được.
14. Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam (sau đây gọi là Danh mục
phân bón): là bản liệt kê các loại phân bón được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và cho
phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam.
Chương 2:
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG PHÂN BÓN
Điều 3. Công bố tiêu chuẩn chất lượng phân bón và công bố chứng nhận chất lượng phù hợp tiêu
chuẩn
1. Phân bón có tên trong Danh mục phân bón, trước khi sản xuất, kinh doanh và sử dụng phải thực hiện
công bố tiêu chuẩn chất lượng và phải công bố chứng nhận chất lượng phù hợp tiêu chuẩn theo quy định.
2. Trình tự, thủ tục công bố tiêu chuẩn chất lượng và công bố chứng nhận chất lượng phù hợp tiêu chuẩn
thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo từng thời kỳ.
Điều 4. Phương pháp lấy mẫu, phương pháp phân tích phân bón
1. Các loại phân bón đã có Tiêu chuẩn Việt Nam, việc lấy mẫu và phân tích mẫu thực hiện theo các tiêu
chuẩn hiện hành.
2. Các loại phân bón chưa có Tiêu chuẩn Việt Nam thì việc lấy mẫu và phân tích mẫu kiểm tra chất lượng
thực hiện theo Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS), Tiêu chuẩn quốc tế (AOAC) hoặc tiêu chuẩn khác trên cơ sở Bản
công bố tiêu chuẩn chất lượng của tổ chức, cá nhân có phân bón đăng ký.
Điều 5. Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra và mức sai số định lượng cho phép
1. Phân vô cơ (phân khoáng) đa lượng bao gồm cả phân khoáng đơn và phân phức hợp
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Hàm lượng N tổng số đối với phân bón có chứa đạm (N);
- Hàm lượng P
2
O
5
hữu hiệu đối với phân bón có chứa lân (P);
- Hàm lượng K
2
O hoà tan đối với các loại phân bón có chứa kali (K);
- Hàm lượng các chất độc hại có trong phân bón:
+ Đối với phân urê: hàm lượng bioret;
+ Đối với phân lân nung chảy: hàm lượng kim loại nặng gồm Thuỷ ngân (Hg), Cadimi (Cd), Chì (Pb), Asen
(As), Niken (Ni), Crôm (Cr);
+ Đối với phân supe lân: hàm lượng a xít tự do.
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Đối với các loại phân bón vô cơ đa lượng: gồm urê, supe lân, phân lân nung chảy, DAP, KNO
3
mức sai
số định lượng của từng yếu tố dinh dưỡng chính không được phép thấp hơn 01 đơn vị so với mức đăng ký.
2. Phân bón trung lượng và vi lượng:
a) Các chỉ tiêu kiểm tra bắt buộc gồm:
- Đối với phân trung lượng: hàm lượng các yếu tố Canxi (Ca), Magiê (Mg), Lưu huỳnh (S) và Silic (SiO
2
)
theo đăng ký tại Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng;
- Đối với phân vi lượng: hàm lượng các yếu tố Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Bo (B), Môlípđen (Mo),
Mangan (Mn) và Clo (Cl) theo đăng ký tại Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng;
- Hàm lượng các kim loại nặng gồm: Hg, Cd, Pb, As, Cr, Ni.
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Đối với phân trung lượng: mức sai số định lượng cho phép đối với từng yếu tố không được thấp hơn 12%
so với mức đăng ký tại Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng;
- Đối với phân vi lượng: mức sai số định lượng cho phép đối với từng yếu tố không được thấp hơn 20% so
với mức đăng ký tại Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng.
3. Phân khoáng trộn (NPK, NP, NK hoặc PK) có bổ sung trung lượng, vi lượng
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng (N tổng số, P
2
O
5
hữu hiệu, K
2
O hoà tan);
- Hàm lượng các yếu tố trung lượng, vi lượng đối với các loại có bổ sung các yếu tố trung lượng, vi lượng
đăng ký trong phân bón;
- Hàm lượng các kim loại nặng gồm Hg, Cd, Pb, As, Cr, Ni đối với những loại phân bón sử dụng phân lân
nung chảy hoặc các phụ gia có nguồn gốc có chứa các kim loại nặng làm nguyên liệu phối trộn.
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Đối với các yếu tố đa lượng (N tổng số, P
2
O
5
hữu hiệu, K
2
O hoà tan): không được thấp hơn 5% cho một
yếu tố, nhưng không được thấp hơn 7% cho 2 yếu tố và không được thấp hơn 9% cho cả ba yếu tố theo
mức đăng ký.
- Đối với phân bón có bổ sung các yếu tố trung lượng, vi lượng: mức sai số định lượng cho phép của từng
yếu tố không được thấp hơn 12% so với mức đăng ký trong phân bón đối với các yếu tố trung lượng, không
được thấp hơn 20% đối với các yếu tố vi lượng.
4. Phân hữu cơ
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Độ ẩm đối với phân bón dạng bột;
- Hàm lượng hữu cơ hoặc Cacbon;
- Hàm lượng axít Humíc;
- Hàm lượng N tổng số;
- pH
KCl
;
- Hàm lượng các chất độc hại, mật độ vi sinh vật gây hại có trong phân bón
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Độ ẩm: không được vượt quá 25%;
- Hàm lượng hữu cơ: không được thấp hơn 10% theo mức đăng ký;
- Hàm lượng N tổng số: không thấp hơn 3%;
- pH
KCl
: trong phạm vi từ 5 đến 7.
5. Phân hữu cơ khoáng
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Độ ẩm đối với phân bón dạng bột;
- Hàm lượng hữu cơ hoặc Cacbon;
- Hàm lượng N tổng số, P
2
O
5
hữu hiệu, K
2
O hoà tan;
- pH
KCl
;
- Hàm lượng các chất độc hại, mật độ vi sinh vật gây hại có trong phân bón
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Độ ẩm: không được vượt quá 25%;
- Hàm lượng hữu cơ: không được thấp hơn 10% theo mức đăng ký;
- Hàm lượng N tổng số + P
2
O
5
hữu hiệu + K
2
O hoà tan: không được thấp hơn 8%;
- pH
KCl
: trong phạm vi từ 5 đến 7.
6. Phân hữu cơ sinh học
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Độ ẩm đối với phân bón dạng bột;
- Hàm lượng hữu cơ hoặc Cacbon;
- pH
KCl
;
- Hàm lượng axít Humíc, các chất sinh học đăng ký trong phân bón;
- Hàm lượng các chất độc hại, mật độ vi sinh vật gây hại có trong phân bón.
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Độ ẩm: không vượt quá 25%;
- Hàm lượng hữu cơ: không được thấp hơn 10% theo mức đăng ký;
- pH
KCl
: trong phạm vi từ 5-7;
7. Phân hữu cơ vi sinh, phân vi sinh vật
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Độ ẩm đối với phân bón dạng bột;
- Hàm lượng hữu cơ hoặc cacbon đối với phân hữu cơ vi sinh;
- Mật độ các chủng vi sinh vật có ích;
- Hàm lượng các chất độc hại, mật độ vi sinh vật gây hại có trong phân bón.
b) Mức sai số định lượng cho phép:
- Độ ẩm: không vượt quá 30%;
- Hàm lượng hữu cơ: không được thấp hơn 10% theo mức đăng ký;
- Mật độ mỗi chủng vi sinh vật có ích không thấp hơn 1x10
6
CFU/gam (ml) đối với phân hữu cơ vi sinh và
không thấp hơn 1x10
8
CFU/gam (ml) đối với phân vi sinh vật;
8. Phân bón lá
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
- Hàm lượng các chất dinh dưỡng (hữu cơ hoặc cacbon, axit humic, các yếu tố đa lượng, trung lượng, vi
lượng, vi sinh vật có ích, hoạt chất sinh học, chất điều hoà sinh trưởng…) đã đăng ký trong thành phần
phân bón;
- Hàm lượng các chất độc hại, mật độ vi sinh vật gây hại có trong phân bón.
b) Mức sai số định lượng cho phép
- Đối với phân bón có đăng ký các yếu tố đa lượng (N tổng số, P
2
O
5
hữu hiệu, K
2
O hoà tan): mức sai số
định lượng cho phép áp dụng theo điểm b khoản 3 Điều 5 của Quy định này.
- Đối với phân bón có đăng ký các yếu tố trung lượng, vi lượng: mức sai lệch cho phép của từng yếu tố áp
dụng theo điểm b khoản 3 Điều 5 của Quy định này.
- Đối với phân bón đăng ký chất hữu cơ: mức sai số định lượng cho phép áp dụng theo điểm b khoản 4
Điều 5 của Quy định này.
- Đối với phân bón có đăng ký các chủng vi sinh vật có ích: mật độ mỗi chủng vi sinh vật có ích không
được thấp hơn 1x10
6
CFU/gam (ml);
9. Phân có bổ sung chất điều hoà sinh trưởng
a) Các chỉ tiêu bắt buộc kiểm tra:
Áp dụng như điểm a khoản 8 Điều 5 của Quy định này.
b) Mức sai số định lượng cho phép
- Áp dụng như điểm b khoản 3 Điều 5 của Quy định này;
- Tổng hàm lượng các chất điều hoà sinh trưởng không được vượt quá 0,5%.
Điều 6. Mức tồn tại cho phép đối với các chất độc hại có trong phân bón
1. Các yếu tố kim loại nặng:
a) Thuỷ ngân (Hg): không vượt quá 2 mg/kg (lít);
b) Chì (Pb): không vượt quá 250 mg/kg (lít);
c) Cadimi (Cd): không vượt quá 2,5 mg/kg (lít);
d) Asen (As): không vượt quá 2 mg/kg (lít);
đ) Niken (Ni): không vượt quá 100 mg/kg (lít);
e) Crôm (Cr): không vượt quá 200 mg/kg (lít).
2. Mật độ vi sinh vật gây hại, trứng giun đũa đối với các loại phân bón hữu cơ vi sinh, hữu cơ sinh học,
phân vi vinh vật:
a) Vi khuẩn Salmonella trong 25 gam (ml) mẫu bằng không [CFU/25g (ml)];
b) Vi khuẩn E.Coli trong 25 gam (ml) mẫu bằng không [CFU/25g (ml);
c) Vi khuẩn Coliform trong 25 gam (ml) mẫu bằng không [CFU/25g (ml)];
d) Trứng giun đũa trong 25 gam (ml) mẫu bằng không [trứng/25g (ml)].
3. Các chất độc hại khác:
- Hàm lượng Biuret trong phân urê không vượt quá 1% (≤ 1%);
- Hàm lượng axit tự do có trong phân supe lân không vượt quá 4,0 %.
Chương 3:
DANH MỤC PHÂN BÓN
Điều 7. Điều kiện phân bón được đưa vào Danh mục phân bón
1. Phân bón qua khảo nghiệm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là biện pháp kỹ
thuật mới (phân bón mới).
2. Phân bón không qua khảo nghiệm nhưng đạt tiêu chuẩn sau đây:
a) Phân phức hợp, phân khoáng trộn dùng bón rễ có tổng hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N
tổng số + P
2
O
5
hữu hiệu + K
2
O hoà tan ³ 18% có bổ sung một trong các yếu tố trung lượng, vi lượng, chất
hữu cơ dưới 10% (< 10%) hoặc có bổ sung cả ba yếu tố nêu trên;
b) Các loại phân trung lượng dùng bón rễ có chứa đầy đủ hoặc một trong các nguyên tố dinh dưỡng sau:
Can xi (Ca), Magiê (Mg), Lưu huỳnh (S), Silic (SiO
2
);
c) Các loại phân vi lượng dùng bón rễ có chứa hàm lượng tối thiểu một trong các nguyên tố dinh dưỡng
như sau:
B: 0,02% Cl: 0,1 Co: 0,005% Cu: 0,05%
Fe: 0,01% Mn: 0,05% Mo: 0,0005% Zn: 0,05%
3. Phân bón là kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học được nghiệm thu tại Hội đồng chuyên ngành
phân bón cấp Bộ hoặc cấp Nhà nước công nhận là phân bón mới, nhưng phải đăng ký với Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn để đưa vào Danh mục phân bón. Hồ sơ đăng ký vào Danh mục phân bón gồm:
a) Đơn đăng ký vào Danh mục phân bón (Biểu mẫu số 01);
b) Biên bản nghiệm thu đánh giá của Hội đồng khoa học chuyên ngành phân bón;
c) Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu;
d) Quyết định hoặc xác nhận của Bộ chủ quản về kết quả nghiệm thu đánh giá của Hội đồng khoa học
chuyên ngành.
đ) Các tài liệu có liên quan về tính chất hoá học, lý học, sinh học; kết quả phân tích thành phần, hàm lượng
các chất dinh dưỡng có trong phân bón; công dụng và hướng dẫn sử dụng.
Điều 8. Bổ sung, điều chỉnh Danh mục phân bón
1. Định kỳ từ 4 đến 6 tháng, Cục Trồng trọt trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ
sung, sửa đổi Danh mục phân bón
2. Nội dung chỉnh sửa, bổ sung vào Danh mục phân bón gồm:
a) Bổ sung các loại phân bón thuộc khoản 1 và khoản 3 Điều 7 của Quy định này vào Danh mục phân bón.
b) Thay đổi hoặc bổ sung tên phân bón, tên đơn vị đăng ký các loại phân bón đã có trong Danh mục phân
bón.
3. Thời hạn có hiệu lực đăng ký trong Danh mục phân bón là năm năm. Ba tháng trước khi hết hiệu lực, tổ
chức, cá nhân có phân bón làm thủ tục đăng ký lại nếu có nhu cầu.
4. Đưa ra khỏi Danh mục phân bón những loại sau:
a) Phân bón không còn tồn tại trên thị trường;
b) Trong quá trình sử dụng phát hiện gây tác hại đến sản xuất và môi trường;
c) Phân bón đã có tên trong Danh mục phân bón quá năm năm nhưng không đăng ký lại với Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn;
d) Phân bón sau ba lần kiểm tra liên tục trong một năm có thành phần, hàm lượng các chất dinh dưỡng
không đạt so với Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng.
Chương 4:
SẢN XUẤT, KINH DOANH, SỬ DỤNG PHÂN BÓN
Điều 9. Sản xuất phân bón
1. Tổ chức, cá nhân sản xuất các loại phân bón lá, phân vi sinh vật, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi
sinh, phân hữu cơ khoáng, phân có bổ sung chất điều hoà sinh trưởng, phải đảm bảo các điều kiện sau:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặt hàng phân bón do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
và có đủ các điều kiện quy định tại Điều 5 Chương II của Nghị định 113/2003/NĐ-CP;
b) Có hoặc thuê cán bộ chuyên môn về phân bón có trình độ đại học trở lên;
c) Có hoặc thuê phòng kiểm nghiệm phân bón được công nhận để tự kiểm tra chất lượng phân bón cho từng
lô sản phẩm;
2. Các loại phân bón được phép sản xuất;
a) Các loại phân bón có tên trong Danh mục phân bón;
b) Các loại phân bón trong thời gian khảo nghiệm theo quy định của Giấy chứng nhận đăng ký khảo
nghiệm và có đơn đăng ký sản xuất phân bón để khảo nghiệm (Biểu mẫu số 02);
c) Các loại phân bón sản xuất để xuất khẩu theo hợp đồng.
Điều 10. Kinh doanh phân bón
1. Tổ chức, cá nhân có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 13 của Nghị định 113/2003/NĐ-CP được
quyền kinh doanh các loại phân bón có tên trong Danh mục phân bón.
2. Phân bón lưu hành trên thị trường phải có nhãn hàng hoá phù hợp theo quy định hiện hành.
3. Tổ chức, cá nhân muốn quảng cáo phân bón phải tuân thủ quy định pháp luật về quảng cáo và thông báo
cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, thành phố nơi tổ chức hội thảo, xây dựng mô hình trình
diễn.
4. Tổ chức, cá nhân có hệ thống đại lý phân phối phân bón phải cung cấp bản sao công bố tiêu chuẩn chất
lượng, công bố chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn (đối với những loại phân bón phải chứng nhận phù hợp tiêu
chuẩn) cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nơi đặt đại lý.
5. Các cửa hàng đại lý phân bón phải thực hiện đủ các thủ tục về Đại lý quy định trong Luật Thương mại.
Điều 11. Sử dụng phân bón
1. Các loại phân bón được phép sử dụng bao gồm:
a) Phân bón có tên trong Danh mục phân bón.
b) Các loại phân bón đang trong thời gian khảo nghiệm không được phép kinh doanh, chỉ được sử dụng
theo quy định của Giấy chứng nhận đăng ký khảo nghiệm.
c) Phân bón hữu cơ truyền thống qua xử lý đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường.
2. Sử dụng phân bón thực hiện theo khuyến cáo của các tổ chức, cá nhân sản xuất phân bón.
3. Sử dụng phân bón phải đảm bảo đạt hiệu suất sử dụng cao, không gây ô nhiễm môi trường và đảm bảo
an toàn thực phẩm.
Điều 12. Nhập khẩu, xuất khẩu phân bón
1. Tổ chức, cá nhân được phép nhập khẩu các loại phân bón có tên trong Danh mục phân bón và chịu trách
nhiệm về chất lượng phân bón nhập khẩu.
2. Nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các loại phân bón đã có tên trong Danh mục phân bón, nguyên liệu
sản xuất phân bón để xuất khẩu, các loại phân bón chuyên dùng cho sân golf, các loại phân bón phục vụ
cho sản xuất của các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, các loại phân bón làm
hàng mẫu tại công ty, viện nghiên cứu, trường đại học, hàng mẫu cho hội chợ triển lãm hoặc nhập khẩu
phân bón trong các trường hợp đặc biệt khác phải đăng ký và được sự đồng ý bằng văn bản của Cục Trồng
trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
3. Nhập khẩu phân bón mới hoặc nguyên liệu để tạo ra phân bón mới chưa có tên trong Danh mục phân bón
để khảo nghiệm, nghiên cứu phải đăng ký và được sự đồng ý bằng văn bản của Cục Trồng trọt thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chỉ cho nhập khẩu để khảo nghiệm những loại phân bón đã được
phép sử dụng rộng rãi ở nước ngoài. Không cho nhập những loại phân bón chưa qua khảo nghiệm hoặc
đang còn trong thời kỳ khảo nghiệm ở nước ngoài. Hồ sơ xin nhập khẩu phân bón để khảo nghiệm gồm:
a) Đơn đăng ký nhập khẩu phân bón (Biểu mẫu số 03);
b) Tài liệu giới thiệu về loại phân bón nhập khẩu: thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 5 của Quy định khảo
nghiệm, công nhận và đặt tên phân bón mới.
4. Tổ chức, cá nhân được phép xuất khẩu phân bón có tên trong Danh mục phân bón; các loại phân bón
theo yêu cầu của khách hàng và tự chịu trách nhiệm về chất lượng phân bón xuất khẩu.
Điều 13. Đăng ký đổi tên đơn vị chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón
1. Chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón chỉ áp dụng đối với những loại phân bón có tên trong Danh
mục phân bón và được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02 tháng 2 năm 2005
của Chính phủ Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi) và Thông tư số 30/2005/TT-BKHCN
ngày 30/12/2005 của Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/2/2005
của Chính Phủ Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi).
2. Tổ chức, cá nhân đăng ký thay đổi tên đơn vị chuyển giao tại Cục Trồng trọt, Hồ sơ đăng ký gồm:
a) Đơn đăng ký (Biểu mẫu số 04);
b) Hợp đồng có dấu và chữ ký của đại diện các bên trong từng trang của Hợp đồng (bản gốc, gồm cả phụ
lục kèm theo nếu có);
3. Nếu hồ sơ hợp lệ, Cục Trồng trọt trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung hoặc
đăng ký vào Danh mục phân bón.
Chương 5:
PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 14. Trách nhiệm của Cục Trồng trọt
1. Soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và cơ
chế chính sách về sản xuất phân bón (trừ sản xuất phân bón vô cơ), kinh doanh và sử dụng phân bón.
2. Thống nhất quản lý sản xuất (trừ sản xuất phân vô cơ), chất lượng và sử dụng phân bón.
3. Cấp phép và thu hồi giấy phép nhập khẩu phân bón không có trong Danh mục phân bón để khảo nghiệm;
nhập khẩu nguyên liệu để sản phân bón hoặc phân bón trong các trường hợp khác như: phân bón chuyên
dùng cho sân golf, phân bón chuyên dùng cho sản xuất của các tổ chức, cá nhân có 100% vốn nước ngoài
hoặc các liên doanh, phân bón để làm mẫu, phân bón phục vụ hội chợ triển lãm, phân bón thử nghiệm sơ bộ
tại công ty…
4. Cấp và thu hồi giấy đăng ký sản xuất phân bón ở trong nước để thử nghiệm.
5. Lập Danh mục phân bón và trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
6. Quản lý các loại phân bón không phải qua khảo nghiệm nhưng đạt tiêu chuẩn theo quy định trong thời
gian chờ đưa vào Danh mục phân bón.
7. Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về phân bón, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về
sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón.
8. Tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm về chất lượng và sản xuất phân bón (trừ sản xuất phân bón
vô cơ), kinh doanh và sử dụng phân bón.
9. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sản xuất (trừ sản xuất phân bón vô cơ), kinh doanh và sử dụng phân bón.
Điều 15. Trách nhiệm của Vụ Khoa học công nghệ
1. Phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào
các hoạt động có liên quan đến phân bón (trừ sản xuất phân bón vô cơ) và sử dụng phân bón.
2. Tổ chức soạn thảo quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về phân bón (trừ lĩnh vực sản xuất phân bón vô cơ)
trình cấp có thẩm quyền ban hành.
3. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động
về phân bón (trừ sản xuất phân bón vô cơ) và sử dụng phân bón.
Điều 16. Trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1. Xây dựng kế hoạch nhu cầu sử dụng phân bón trên phạm vi địa phương.
2. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phân bón (trừ sản xuất phân bón vô cơ), chỉ đạo hướng dẫn sử
dụng các loại phân bón có hiệu quả, không gây ô nhiễm môi trường.
3. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm về sản xuất (trừ sản xuất phân bón vô cơ), kinh doanh và sử
dụng phân bón thuộc địa phương quản lý. Báo cáo kết quả các đợt kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về
Cục Trồng trọt.
4. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, công bố phù hợp chuẩn và đăng ký lại vào
Danh mục phân bón đối với phân bón do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn.
5. Báo cáo về Cục Trồng trọt tình hình sản xuất, kinh doanh, sử dụng và công bố tiêu chuẩn chất lượng,
công bố phù hợp chuẩn phân bón của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn vào tháng 12 hàng năm.
Điều 17. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón
1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón phải thực hiện các nội dung trong Nghị định
113/2003/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón; các nội dung của Quy định này
và quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Định kỳ tháng 12 hàng năm các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phân bón trên địa bàn tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương báo cáo tình hình sản xuất (bao gồm cả sản xuất phân vô cơ), kinh doanh phân
bón về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nơi đặt trụ sở chính.
Điều 18. Xử lý vi phạm
1. Tổ chức, cá nhân vi phạm Quy định này về sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón thì tuỳ theo tính
chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tạm dừng hoặc đình chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy
định tại Điều 9 và Điều 10 của Quy định này.
3. Đối với các loại phân bón nhập khẩu không đạt chất lượng theo đăng ký, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị
phạt hành chính, buộc tái xuất, tái chế hoặc huỷ bỏ theo quy định của pháp luật hiện hành.
4. Đối với các loại phân bón sản xuất, kinh doanh và sử dụng, sau ba lần kiểm tra liên tiếp trong một năm
nếu không đạt mức tiêu chuẩn chất lượng công bố thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạm dừng hoặc đình chỉ sản xuất, kinh doanh và
thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
5. Tổ chức, cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm các quy định của Quy định này và các
hành vi khác trái với các quy định của pháp luật về việc quản lý nhà nước về phân bón, thì tuỳ theo tính
chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải
bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 19. Giải quyết phát sinh, vướng mắc
Trong quá trình thực hiện, khi có phát sinh, vướng mắc đề nghị tổ chức, cá nhân báo cáo bằng văn bản gửi
về Cục Trồng trọt để trình Bộ trưởng xem xét, giải quyết./.

BIỂU MẪU SỐ 01:
ĐƠN ĐĂNG KÝ VÀO DANH MỤC PHÂN BÓN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐĂNG KÝ VÀO DANH MỤC PHÂN BÓN
Kính gửi: Cục Trồng trọt
- Tên tổ chức, cá nhân đăng ký:
- Địa chỉ:
- Điện thoại: Fax: E-mail:
- Tên phân bón đăng ký:
- Loại phân bón:
- Thành phần, hàm lượng dinh dưỡng, phương pháp phân tích:
- Nguồn gốc và thành phần nguyên liệu chủ yếu làm phân bón:
- Xuất xứ:
- Các tài liệu nộp kèm theo:
Ngày tháng năm
Tổ chức, cá nhân xin đăng ký
(ký tên, đóng dấu)
Biểu mẫu số 02: Đơn đăng ký sản xuất phân bón để khảo nghiệm

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐĂNG KÝ SẢN XUẤT PHÂN BÓN
Kính gửi: Cục Trồng trọt
- Tên tổ chức, cá nhân sản xuất phân bón:
- Địa chỉ:
- Điện thoại: Fax: E-mail:
- Tên và loại phân bón sản xuất:
- Thành phần, hàm lượng chất dinh dưỡng:
- Định mức bón (cho 1ha):
- Số lượng sản xuất:
- Mục đích sử dụng:
- Thời hạn sản xuất và sử dụng:
- Địa điểm sản xuất:
- Các tài liệu nộp kèm theo:
Ngày tháng năm
Tổ chức, cá nhân xin đăng ký
(ký tên, đóng dấu)
Biểu mẫu số 03: Đơn đăng ký nhập khẩu phân bón

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Quyết định 1334/QĐ-UBND năm 2007 phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” của Sở Tư pháp Ninh Bình do Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình ban hành

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1334/QĐ-UBND Ninh Bình, ngày 07 tháng 06 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”
CỦA SỞ TƯ PHÁP NINH BÌNH
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;
Căn cứ Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy
chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp và Giám đốc Sở Nội vụ Ninh Bình,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” của Sở Tư pháp, bao gồm:
- Quy chế Tổ chức và hoạt động của Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tư pháp (có bản chi tiết
kèm theo).
- Quy định việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” tại Sở Tư pháp (có bản chi tiết kèm
theo).
Điều 2. Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm triển khai, thực hiện nội dung đã được phê duyệt tại Điều 1,
Quyết định này. Trong quá trình thực hiện có vấn đề cần sửa đổi, bổ sung thì báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
xem xét, quyết định.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Như Điều 3,
- Lưu VT, VP7
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Tiến Thành

QUY ĐỊNH
VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT HỒ SƠ THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TẠI SỞ TƯ PHÁP NINH
BÌNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1334/QĐ-UBND ngày 07/6/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình)
Chương 1.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc
Sở Tư pháp như sau:
1. Tổ chức, công dân nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
2. Tổ chức, công dân nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tư pháp
nhận giải quyết hồ sơ thuộc các lĩnh vực: Hộ tịch có yếu tố nước ngoài, cấp phiếu lý lịch tư pháp.
3. Những hồ sơ không thuộc lĩnh vực, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, công chức thuộc Bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể để tổ chức, công dân biết liên hệ với cơ quan có
thẩm quyền giải quyết.
Điều 2. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho tổ chức, công dân thực
hiện đúng các quy định về hồ sơ liên quan đến thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp.
Chương 2.
CÁC LĨNH VỰC THỰC HIỆN THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”
Điều 3. Trình tự thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
Căn cứ vào Điều 13, Điều 15, Điều 16, Điều 18 Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể như sau:
1. Hồ sơ đăng ký kết hôn của mỗi bên phải có các giấy tờ sau đây:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;
- Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, (đối với người nước ngoài thì do cơ quan có thẩm
quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, đối với công dân trong nước thì
do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hộ khẩu thường trú cấp) xác định người đó độc thân, có đủ
điều kiện đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận
về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ
của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;
- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính
đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;
- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước),
hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân
Việt Nam định cư ở nước ngoài);
- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy
xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công nhân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ
tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
- Ngoài các giấy tờ quy định trên, đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang
hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ
chức quản lý ngành Trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không
ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó.
2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm:
- Thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về sự tự
nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của
nhau.
Việc phỏng vấn được lập thành văn bản, cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên
vào văn bản phỏng vấn.
- Niêm yết việc kết hôn trong 07 ngày liên tục tại Sở Tư pháp, đồng thời có công văn đề nghị Ủy ban nhân
dân cấp xã, nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân Việt Nam, nơi thường trú
của người nước ngoài tại Việt Nam, thực hiện việc niêm yết. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm
yết việc kết hôn trong 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban, kể từ ngày nhận được công văn của Sở Tư pháp.
Trong thời hạn này, nếu có khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về việc kết hôn thì
Ủy ban nhân dân cấp xã phải có văn bản báo cáo gửi cho Sở Tư pháp.
- Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn. Trong trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo đương
sự kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp, kết hôn giả tạo, lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, kết
hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của đương sự hoặc giấy tờ
trong hồ sơ đăng ký kết hôn, Sở Tư pháp tiến hành xác minh làm rõ.
- Báo cáo kết quả phỏng vấn các bên đương sự, thẩm tra hồ sơ kết hôn và đề xuất ý kiến giải quyết việc
đăng ký kết hôn, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, kèm theo 01 bộ hồ sơ đăng ký kết hôn.
Việc đăng ký kết hôn bị từ chối, nếu kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua
môi giới bất hợp pháp; kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ
hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; lợi dụng việc kết hôn để
mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác.
- Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn là 30 ngày, trong trường hợp có yêu cầu cơ quan Công an xác
minh thêm thì thời hạn được kéo dài thêm nhưng không quá 20 ngày.
3. Lệ phí đăng ký kết hôn: 500.000 VN đồng (Theo Quyết định số 75/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính);
Lệ phí đăng ký lại việc kết hôn: 1.000.000 VN đồng (Theo Quyết định số 75/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài
chính).
Điều 4. Trình tự thủ tục giao nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài
1. Trình tự giới thiệu và giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong trường hợp xin không đích danh
(Điều 51, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ):
- Trong trường hợp người xin nhận con nuôi chưa xác định được đích danh trẻ em cần xin làm con nuôi thì
Cơ quan con nuôi quốc tế gửi công văn kèm theo bản chụp đơn của người xin nhận con nuôi cho Sở Tư
pháp nơi người xin nhận con nuôi có nguyện vọng để xem xét giới thiệu trẻ em.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Cơ quan con nuôi quốc tế, Sở Tư pháp có
công văn đề nghị cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện, phù hợp với nguyện vọng của người
xin nhận con nuôi để giới thiệu làm con nuôi và trả lời bằng văn bản cho Cơ quan con nuôi quốc tế.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Sở Tư pháp, cơ sở nuôi dưỡng có trách
nhiệm xác định trẻ em để giới thiệu làm con nuôi và có công văn trả lời kết quả cho Sở Tư pháp kèm theo
các giấy tờ sau:
a) Bản chụp Giấy khai sinh (kèm 02 ảnh 9x12 hoặc 10x15) của trẻ em;
b) Bản chụp Biên bản bàn giao trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở nuôi
dưỡng thì chỉ cần bản tường trình của người phát hiện;
c) Bản chụp quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;
d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có:
- Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông
tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi (như báo tỉnh hoặc giấy xác nhận về việc đã đưa tin
trên đài phát thanh, truyền hình tỉnh).
- Văn bản của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng khẳng định về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời
cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.
e) Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Cơ quan con nuôi quốc tế
có trách nhiệm thông báo cho người xin nhận con nuôi về kết quả việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cơ quan con nuôi quốc tế, người xin nhận
con nuôi phải trả lời bằng văn bản cho Cơ quan con nuôi quốc tế về việc đồng ý hay không đồng ý nhận trẻ
em được giới thiệu làm con nuôi. Nếu người xin nhận con nuôi đồng ý thì Cơ quan con nuôi quốc tế có
công văn đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng làm hồ sơ của trẻ em.
Trong trường hợp người xin nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu thì Cơ quan con nuôi
quốc tế có công văn thông báo cho Sở Tư pháp để Sở Tư pháp thông báo lại cho cơ sở nuôi dưỡng.
- Trình tự chuẩn bị hồ sơ của trẻ em, giấy tờ trong hồ sơ; thủ tục thẩm tra hồ sơ của trẻ em tại địa phương,
tại Cơ quan con nuôi quốc tế; việc hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, quyết định cho nhận con nuôi và giao
nhận con nuôi được thực hiện như trường hợp trẻ em được xin đích danh quy định sau đây.
2. Trình tự chuẩn bị hồ sơ cho trẻ em được xin đích danh (Điều 43, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của
Chính phủ):
- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Cơ quan con nuôi quốc tế, Sở Tư pháp có
trách nhiệm hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng trẻ em (nếu trẻ em được xin đích danh từ cơ sở nuôi dưỡng) hoặc
cha mẹ, người giám hộ của trẻ em (nếu trẻ em được xin đích danh từ gia đình) làm hồ sơ của trẻ em.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Sở Tư pháp, nếu đồng ý cho trẻ em làm con
nuôi thì người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em có trách nhiệm hoàn
tất 04 bộ hồ sơ của trẻ em và nộp cho Sở Tư pháp.
2.1. Thời hạn giải quyết việc xin nhận con nuôi (Điều 40, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ):
Thời hạn giải quyết việc xin nhận con nuôi trong trường hợp xin đích danh trẻ em là 120 ngày, kể từ ngày
Cơ quan con nuôi quốc tế của Việt Nam thuộc Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người xin nhận con
nuôi. Trong trường hợp phải yêu cầu cơ quan Công an xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm 30 ngày.
2.2. Hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi (Điều 44, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ):
a) Giấy khai sinh của trẻ em, nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao công chứng, chứng thực từ bản chính
b) Giấy xác nhận sức khỏe do tổ chức y tế cấp huyện trở lên của Việt Nam cấp; khuyến khích nộp giấy xác
nhận sức khỏe của trẻ em do tổ chức y tế chất lượng cao hoặc tổ chức y tế cấp tỉnh trở lên cấp.
c) Đối với trẻ em có cha, mẹ thuộc diện không còn khả năng lao động hoặc không có đủ điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng con, thì phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha, mẹ trẻ
em.
d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, để bảo đảm nguồn gốc rõ ràng của trẻ em, cần phải có:
- Bản tường trình của người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi, trong đó thể hiện rõ ràng, đầy đủ các thông tin về
người phát hiện (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ liên lạc, nghề nghiệp, số chứng minh nhân
dân) và chữ ký của người đó; nếu người đó không biết chữ thì phải điểm chỉ nhưng phải ghi rõ họ tên, ngày
tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ;
- Biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi, giới
tính, đặc điểm nhận dạng, tài sản và các đồ vật khác của trẻ em (nếu có), có đủ chữ ký của người phát hiện
trẻ bị bỏ rơi, người lập biên bản và những người khác có liên quan, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã hoặc cơ quan Công an nơi trẻ em bị bỏ rơi;
- Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông
tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi;
- Văn bản cam đoan của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời
cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.
đ) Đối với giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, phải bảo đảm rằng:
- Việc đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ cho trẻ em làm con
nuôi người nước ngoài phải hoàn toàn tự nguyện, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; tuyệt đối nghiêm cấm việc
người xin nhận con nuôi gặp gỡ, tiếp xúc với người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người
giám hộ của trẻ em để đưa ra những thỏa thuận về tài chính, lợi ích vật chất khác hoặc bất kỳ mục đích vụ
lợi nào để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;
- Trước khi tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, người đứng đầu cơ sở nuôi
dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em phải nhận thức một cách rõ ràng và đầy đủ về những hệ
quả pháp lý của việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi theo hình thức trọn vẹn/vĩnh viễn và có thể dẫn đến
việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha, mẹ đẻ theo pháp luật nước ngoài; sự
đồng ý này không thể bị rút lại;
- Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà không xác định được cha, mẹ đẻ do cha, mẹ cố tình giấu địa chỉ, cung cấp
địa chỉ giả hoặc tuy có địa chỉ của cha, mẹ nhưng vào thời điểm xác minh, cha, mẹ có lý do chính đáng yêu
cầu giữ kín thông tin hoặc cha, mẹ đã chuyển đi nơi khác không rõ địa chỉ, thì chỉ cần sự tự nguyện đồng ý
của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó;
- Trong trường hợp trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng mà cha, mẹ đẻ chưa thể hiện rõ nguyện vọng
cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, nhưng xác định được địa chỉ của cha, mẹ đẻ, thì còn phải có
văn bản tự nguyện đồng ý của cha, mẹ đẻ cho con làm con nuôi người nước ngoài; nếu cha, mẹ đẻ chưa đủ
18 tuổi, thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ của cha, mẹ trẻ em đó; nếu những người
này không biết chữ, thì phải điểm chỉ vào văn bản tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và ghi rõ họ
tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ.
2.3. Thủ tục thẩm tra hồ sơ của trẻ em tại địa phương (Điều 45, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính
phủ):
a) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của trẻ em, Sở Tư pháp có trách nhiệm:
- Kiểm tra toàn bộ giấy tờ trong hồ sơ của trẻ em; nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ thì yêu cầu cơ sở
nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em bổ sung, hoàn thiện hồ sơ;
- Thẩm tra về tính hợp pháp của toàn bộ giấy tờ trong hồ sơ của trẻ em;
- Xác minh, làm rõ về nguồn gốc của trẻ em;
- Gửi văn bản báo cáo, kèm theo 01 bộ hồ sơ của trẻ em cho Cơ quan con nuôi quốc tế.
- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tư pháp và hồ sơ kèm theo, nếu xét
thấy việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi không thuộc trường hợp từ chối đăng
ký và là biện pháp bảo đảm lợi ích của trẻ em đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Quyết định cho
nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và trả lại hồ sơ cho Sở Tư pháp để tổ chức giao nhận con nuôi, ghi vào
sổ đăng ký việc nuôi con nuôi và lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp từ chối cho nhận con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản thông báo cho người
xin nhận con nuôi và Cơ quan con nuôi quốc tế, trong đó nêu rõ lý do từ chối.
2.7. Giao nhận con nuôi (Điều 49, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ):
a) Sở Tư pháp tiến hành việc giao nhận con nuôi trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh ký Quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, trừ trường hợp có lý do chính đáng mà
người xin nhận con nuôi có yêu cầu khác về thời gian.
b) Việc giao nhận con nuôi được tổ chức tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp; trẻ
em được nhận làm con nuôi; bên nhận là cha, mẹ nuôi; bên giao là đại diện cơ sở nuôi dưỡng, nếu trẻ em
được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha, mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em, nếu trẻ em
được xin nhận làm con nuôi từ gia đình.
Việc giao nhận con nuôi phải được ghi đầy đủ trong Biên bản giao nhận con nuôi theo mẫu quy định, có
chữ ký của bên nhận, bên giao và đại diện Sở Tư pháp.
c) Đại diện Sở Tư pháp ghi vào sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Quyết định cho các bên.
Quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và Biên bản giao nhận con nuôi được làm thành 04 bản
chính: 01 bản trao cho bên nhận, 01 bản trao cho bên giao, 01 bản lưu lại tại Sở Tư pháp và 01 bản gửi cho
Cơ quan con nuôi quốc tế.
d) Quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi có hiệu lực kể từ ngày tổ chức giao nhận con nuôi
và ghi vào sổ đăng ký nuôi con nuôi. Việc cấp bản sao Quyết định từ sổ gốc do Sở Tư pháp thực hiện theo
yêu cầu của đương sự.
đ) Sở Tư pháp trao cho cha, mẹ nuôi 01 bộ hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi.
e) Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi cho Cơ quan con
nuôi quốc tế các giấy tờ sau đây để theo dõi chung:
- Một bản chính Quyết định cho nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;
- Một bản chính Biên bản giao nhận con nuôi;
- Một bản chính giấy cam kết thông báo về tình hình phát triển của con nuôi;
- Các giấy tờ liên quan khác, nếu có, trừ các giấy tờ đã có trong hồ sơ của trẻ em và của người xin nhận con
nuôi.
2.8. Từ chối đăng ký việc xin nhận con nuôi (Điều 50, Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ):
Việc xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi bị từ chối trong các trường hợp sau đây:
a) Người xin nhận con nuôi không đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi;
b) Trẻ em không đáp ứng đủ điều kiện được nhận làm con nuôi;
c) Có căn cứ để khẳng định việc xin nhận con nuôi là nhằm mục đích mua bán trẻ em, bóc lột sức lao động
của trẻ em, xâm phạm tình dục đối với trẻ em hoặc nhằm mục đích trục lợi khác.
3. Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi: 1.000.000 VN đồng (Theo Quyết định số 75/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài
chính)
Lệ phí đăng ký lại nuôi con nuôi: 2.000.000 VN đồng (Theo Quyết định số 75/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài
chính)
Điều 5. Thủ tục, trình tự cấp phiếu lý lịch tư pháp
Căn cứ Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT/BTP-BCA ngày 08/02/1999 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, cụ
thể như sau:
1. Thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
a) Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải làm đơn theo mẫu số 02/TP-LLTP ban hành kèm theo Thông
tư liên tịch số 07/1999/TTLT/BTP-BCA nêu trên; đơn yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải được khai đầy
đủ, rõ ràng và chính xác.
Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chụp Giấy chứng minh nhân dân và bản chụp Sổ hộ khẩu hoặc giấy tờ
hợp lệ chứng minh nơi thường trú của đương sự; đối với người nước ngoài thì nộp bản chụp Hộ chiếu và
bản chụp Giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam.
Trong trường hợp ủy quyền làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì còn phải có văn bản ủy quyền
được Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người ủy quyền hoặc người được ủy quyền
chứng nhận; người ủy quyền là công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, văn bản ủy quyền phải có chứng
nhận của Cơ quan đại diện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài; nếu người ủy quyền là người nước ngoài đã rời Việt Nam thì văn bản ủy quyền phải có chứng
nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân hoặc thường trú và phải được hợp
pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp được lập thành 02 bộ.
b) Nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ tại Sở Tư
pháp nơi thường trú; nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú cuối cùng trước khi
xuất cảnh.
Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thì nộp hồ sơ tại Sở Tư
pháp nơi cư trú; nếu đã rời Việt Nam, thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh.
c) Tiếp nhận hồ sơ:
Khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp kiểm tra các nội dung khai trong đơn và sự hợp lệ của các giấy tờ kèm
theo, nếu có điểm nào còn thiếu hoặc chưa rõ thì đề nghị người nộp đơn bổ sung hoặc làm rõ.
Nếu xét thấy hồ sơ đã hợp lệ, Sở Tư pháp tiếp nhận, thu lệ phí và cấp cho người nộp đơn phiếu hẹn ngày
trả kết quả.
Trong trường hợp xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Sở Tư pháp hướng dẫn
ngay cho đương sự nộp hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Việc tiếp nhận hồ sơ phải được ghi vào Sổ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
2. Thủ tục tra cứu, xác minh lý lịch tư pháp
a) Tra cứu hồ sơ của cơ quan Công an
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi Phiếu xác minh lý lịch tư pháp
theo mẫu số 03/TP-LLTP (Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT/BTP-BCA) và 01 bộ hồ
sơ cho Công an tỉnh để tra cứu.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Phiếu xác minh lý lịch tư pháp, Công an tỉnh có trách nhiệm
thực hiện việc tra cứu, xác minh lý lịch tư pháp của đương sự và gửi cho Sở Tư pháp Thông báo kết quả
xác minh lý lịch tư pháp. Đối với trường hợp phức tạp cần phải tra cứu hồ sơ của Cục Hồ sơ nghiệp vụ
Cảnh sát thuộc Bộ Công an thì thời hạn này được kéo dài thêm không quá 10 ngày; việc liên hệ với Cục Hồ
sơ nghiệp vụ Cảnh sát do Công an cấp tỉnh chịu trách nhiệm.
b) Tra cứu hồ sơ của Tòa án
Trong trường hợp kết quả tra cứu hồ sơ của cơ quan Công an thấy có tình tiết nghi ngờ đương sự có án,
nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận hoặc phần ghi về tình trạng tiền án của đương sự có điểm chưa rõ ràng,
đầy đủ thì Sở Tư pháp liên hệ với Tòa án đã xét xử vụ án liên quan đến đương sự để tra cứu hồ sơ án lưu
nhằm làm rõ đương sự có án hay không có án.
Việc tra cứu hồ sơ của Tòa án (nếu có) phải được tiến hành ngay sau ngày nhận được Thông báo kết quả
xác minh lý lịch tư pháp của Công an cấp tỉnh; thời hạn tra cứu hồ sơ án lưu tại Tòa án không quá 7 ngày.
3. Lập và cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày có kết quả tra cứu hồ sơ của cơ quan Công an và Tòa án (nếu có), Sở Tư
pháp lập và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho đương sự.
4. Lệ phí cấp phiếu lý lịch tư pháp: 100.000 VN đồng/1 trường hợp (Theo Quyết định 94/2004/QĐ-BTC
ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính).
Chương 3.
TIẾP NHẬN GIẢI QUYẾT HỒ SƠ TRONG CÁC LĨNH VỰC KHÁC
Điều 6. Tổ chức công dân có yêu cầu giải quyết các công việc ngoài các lĩnh vực trên thuộc thẩm quyền Sở
Tư pháp thì công chức thuộc Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, công dân
đến các bộ phận chuyên môn thuộc Sở để được hướng dẫn giải quyết./.

QUY CHẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ THUỘC SỞ TƯ PHÁP
NINH BÌNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1334/QĐ-UBND ngày 07/6/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình)
Chương 1.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Quy chế này được xây dựng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tư pháp và những
yêu cầu để thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc
ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Điều 2. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tư pháp có nhiệm vụ tiếp, hướng dẫn tổ chức, công dân
đến liên hệ về những công việc thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp, nhận hồ sơ đã
đủ thủ tục theo quy định, viết giấy nhận hồ sơ và trả kết quả cho tổ chức, công dân.
Điều 3. Tổ chức, công dân có yêu cầu giải quyết những công việc chỉ liên hệ với công chức phụ trách lĩnh
vực công việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho công dân hoàn chỉnh hồ sơ thuộc
lĩnh vực phụ trách và chỉ tiếp nhận những hồ sơ đầy đủ thủ tục theo đúng quy định của pháp luật.
Công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chỉ tiếp nhận hồ sơ và tiếp tổ chức, công dân có yêu cầu
giải quyết công việc tại phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
Chương 2.
TỔ CHỨC VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ
Điều 4. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đặt tại Phòng Hành chính và bổ trợ tư pháp thuộc Sở Tư pháp.
Bộ phận tiếp nhận có Trưởng bộ phận và một số công chức của Sở do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định
thành lập.
Trưởng bộ phận và công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chịu sự quản lý toàn diện và
trực tiếp của Giám đốc Sở.
Điều 5. Nhiệm vụ của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:
1. Tiếp tổ chức, công dân tại phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả khi tổ chức, công dân có
yêu cầu giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của Bộ phận;
2. Hướng dẫn tổ chức, công dân hoàn tất các thủ tục hành chính, giấy tờ, biểu mẫu theo đúng quy định.
Việc hướng dẫn này được thực hiện theo nguyên tắc một lần, đầy đủ, theo đúng quy định đã niêm yết công
khai;
3. Trường hợp hồ sơ đầy đủ theo quy định thì tiếp nhận, viết phiếu hẹn trả kết quả vào sổ theo dõi; thu phí,
lệ phí theo quy định;
Trường hợp hồ sơ chưa hoàn chỉnh thì hướng dẫn để tổ chức, công dân bổ sung, hoàn chỉnh;
Trường hợp hồ sơ của tổ chức, công dân không thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở thì hướng dẫn để tổ
chức, công dân đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
4. Xử lý hồ sơ của tổ chức, công dân theo phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình.
Trường hợp hồ sơ của tổ chức, công dân có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của các công chức khác
trong Sở, công chức phụ trách hồ sơ chủ động phối hợp với các công chức khác cùng xử lý hồ sơ, sau đó
trình lãnh đạo Sở giải quyết;
5. Nhận lại kết quả đã giải quyết, trả lại cho tổ chức, công dân.
Điều 6. Trách nhiệm của công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
1. Trưởng Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm:
- Giúp Giám đốc Sở điều hành, điều phối hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
- Theo dõi, tổng hợp tình hình tiếp nhận, giải quyết, trả hồ sơ của công chức thuộc Bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả, báo cáo kết quả hoạt động với Giám đốc Sở theo tuần, tháng, quý.
2. Công chức chuyên môn có trách nhiệm:
- Thực hiện các nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực chuyên môn; hướng dẫn, tiếp công dân, tổ chức đến liên hệ về
những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết.
- Xử lý, trình lãnh đạo giải quyết các hồ sơ thuộc lĩnh vực chuyên môn, phối hợp với các bộ phận chuyên
môn của Sở để giải quyết các công việc có liên quan.
Chương 3.
NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 7. Công việc thuộc các lĩnh vực sau đây được giải quyết theo cơ chế “một cửa” tại Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả:
1. Lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài
2. Lĩnh vực cấp phiếu lý lịch tư pháp
Điều 8. Lịch làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhận hồ sơ và giải quyết công việc của tổ chức, công dân vào tất cả các
ngày làm việc trong tuần.
Chương 4.
QUY TRÌNH, THỦ TỤC, HỒ SƠ HÀNH CHÍNH GIẢI QUYẾT THEO CƠ CHẾ “MỘT CỬA”
Điều 9. Các quy định về thủ tục hành chính, phí, lệ phí thuộc các lĩnh vực thực hiện theo cơ chế “một cửa”
được niêm yết công khai tại phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
Điều 10. Quy định về việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết và giao trả kết quả như sau:
1. Tiếp nhận hồ sơ
Khi tiếp nhận hồ sơ của tổ chức, công dân, công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm
kiểm tra kỹ các loại giấy tờ cần thiết của từng loại hồ sơ, hướng dẫn cho tổ chức, công dân kê khai, bổ sung
(nếu thiếu);
Sau khi kiểm tra, nếu hồ sơ đã đúng nội dung và đủ số lượng các loại giấy tờ theo quy định thì công chức
nhận hồ sơ và viết phiếu hẹn.
2. Xử lý, giải quyết hồ sơ
Công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả căn cứ vào lĩnh vực chuyên môn đã được phân công trực
tiếp xử lý hồ sơ hoặc chuyển hồ sơ cho bộ phận, cơ quan chuyên môn có thẩm quyền giải quyết ở bước tiếp
theo và báo cáo trưởng phòng Hành chính và bổ trợ tư pháp.
3. Thẩm quyền ký giải quyết hồ sơ
- Đối với những loại hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở thì công chức có trách nhiệm phụ trách hồ
sơ tổng hợp báo cáo và trình lãnh đạo Sở ký.
- Đối với những loại hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan cấp trên, công chức phụ trách hồ sơ
tổng hợp báo cáo Trưởng Bộ phận, trình lãnh đạo Sở ký công văn để chuyển hồ sơ lên cơ quan cấp trên
xem xét giải quyết và nhận kết quả giải quyết đó.
4. Trả hồ sơ
Khi nhận hồ sơ đã được Lãnh đạo Sở hoặc cơ quan cấp trên giải quyết, công chức chuyên môn phụ trách hồ
sơ chuyển hồ sơ cho công chức văn thư để đóng dấu (loại việc do lãnh đạo Sở có thẩm quyền giải quyết),
vào sổ theo dõi, sau đó trả kết quả hoặc thông báo kết quả đã giải quyết cho tổ chức, cá nhân theo phiếu
hẹn.
Điều 11. Trường hợp không thể giải quyết hồ sơ theo đúng thời gian quy định như đã hẹn, thì công chức
của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm giải thích cho tổ chức, cá nhân biết lý do và phải viết
phiếu hẹn lần 2 trong phiếu ghi rõ lý do viết phiếu và thời gian trả kết quả.
Chương 4.
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 12. Trong khi thi hành nhiệm vụ, nếu công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả làm trái quy
định của pháp luật và Quy chế này, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, công dân trong quá trình yêu cầu giải quyết công việc phải chấp hành các quy định của pháp luật
và quy chế này. Nếu phát hiện thấy những dấu hiệu tiêu cực, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, công
dân thì có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật hoặc thông báo ngay với Giám đốc Sở hoặc
cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.