Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Du lịch Nhật Bản

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nay đến năm 2020. Theo đó Nhật Bản sẽ trở thành một nước tỏa sáng trong
khu vực châu Á với mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm quốc nội
là 3% vào năm 2020, đặc biệt sẽ góp phần đưa Nhật Bản để có thể giữ vững
vị trí của một nền kinh tế lớn thứ 2 Thế Giới. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản
cũng thực hiện một loạt các chính sách hỗ trợ cho các lĩnh vực đồng thời mở
rộng tự do hóa thương mại đầu tư trong khu vực châu Á. Theo dự đoán của
các chuyên gia kinh tế, trong năm tài khóa 2010 tổng sản phẩm quốc nội của
Nhật Bản sẽ tăng 1%. Đây sẽ là lần đầu tiên trong 3 năm qua, Nhật Bản đạt
được tăng trưởng dương trong cả tăng trưởng thực chất và tăng trưởng danh
nghĩa.
Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama phát biểu tại cuộc họp báo cuối năm
2009 cho biết chiến lược kinh tế này còn phụ thuộc vào kết quả của sự hợp tác
giữa các cơ quan chính phủ và khối doanh nghiệp. Mặc dù vậy hy vọng nền
kinh tế Nhật Bản sẽ thực sự năng động trở lại vào những ngày đầu xuân năm
2010.
III. TÔN GIÁO
Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về
tôn giáo. Ở đây cùng đồng thời tồn tại các phong tục tập quán có nguồn gốc
và theo phong cách tôn giáo khác nhau. Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo
Shinto (Thần đạo) vào năm mới, đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào
mùa xuân nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách
của đạo Thiên chúa. Các đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ của thần
đạo hoặc đạo thiên chúa. Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hàng theo nghi lễ của
đạo phật. Có những người một lúc theo hai hoặc ba đạo, do đó vào năm 1995
theo thống kê của cuốn niên giám về tôn giáo của hiệp hội văn hóa thì tín đồ
của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83 triệu, gần gấp đôi dân số Nhật lúc
bấy giờ là 120triệu.
Tuy vậy ở Nhật ngày nay đạo phật chiếm ưu thế hơn so với các đạo khác, với
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khoảng 92 triệu tín đồ, mặc dù trên thực tế thì các tín đồ này cũng không tuân
theo các qui định của đạo phật một cách nghiêm ngặt. Đạo cơ đốc cũng khá
thịnh hành với khoảng 1,7 triệu giáo dân. Đạo cơ đốc được đưa vào Nhật năm
1549 phát triển nhanh chóng vào nửa sau của thế kỷ đó, khi trong nước có
nhiều xung đột, không ổn định và được chào đón bởi những người đang cần
một biểu tượng tinh thần mới, cũng như những người hi vọng làm giàu trong
buôn bán hay hy vọng tiếp thu kỹ nghệ mới đặc biệt là kỹ nghệ sản xuất vũ
khí của tây phương. Tín đồ cơ đốc giáo hiện nay bao gồm có tín đồ tin lành và
thiên chúa, nhưng tín đồ tin lành đông hơn. Các tín đồ tin lành đã kỷ nịêm 100
năm ngày tôn giáo của họ trên đất Nhật vào năm 1959. Trong số các tôn giáo
khác, đạo Hồi có khoảng 155.000 tín đồ, bao gồm cả những người nước ngoài
cư trú tạm thời trên đất Nhật. Đạo gốc của Nhật bản là Shinto (Thần đạo).
Thần đạo có nguồn gốc từ thuyết vật linh của người Nhật cổ. Thần đạo cho
rằng cây cối, loài vật trong thiên nhiên đều có quỉ thần nên phải được thờ
cúng. Phát triển với tư cách tôn giáo của cộng đồng, thần đạo đã sản sinh ra
những miếu thờ gia thần và các thần hộ mệnh của địa phương. Ngoài ra,
người Nhật cũng thờ các anh hùng và các thủ lĩnh xuất chúng của nhân dân
qua các thế hệ khác nhau và thờ cúng hương hồn tổ tiên theo lễ nghi của đạo
thần.
Người Nhật cũng coi trọng đạo Khổng, nhưng trên thực tế thì đạo khổng đối
với người Nhật có tư cách như chuẩn mực đạo đức hơn là một tôn giáo.Đạo
khổng du nhập vào Nhật từ đầu thế kỷ thứ 6, có ảnh hưởng lớn tợ nếp suy
nghĩ và cách xử sự của người Nhật, sau này ảnh hưởng của đạo này cũng suy
yếu đi nhiều.


Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN 2:CON NGƯỜI NHẬT BẢN
I. THÓI QUEN ĐỜI SỐNG
Tính cách nổi bật của người Nhật là trung thành, yêu nước, tôn kính, giữ
gìn danh dự gia đình,thực tế. lạc quan và hài hước, tinh tế và nhạy cảm, lễ
phép và lịch sự, ôn hòa và độ lượng.Tình cảm thẩm mĩ là nền tảng của bản
sắc dân tộc Nhật.Nhà dù nghèo mấy cũng phải có một chậu cảnh và một bức
họa khổ lớn.Độ tuổi trên 50 dành nhiều thời gian để thưởng ngoạn thiên
nhiên.Truyền thống sung mộ cái đẹp thể hiện trong cả tình cảm hành động lẫn
ngôn từ, thích ngắm hoa thưởng nguyệt.Rất mê tín, hay đi xem tướng số,
thích các số 3,5,7, sợ số 4 và số 9, đàn ông ít đi chơi cùng vợ.Vợ chồng rất ít
khi đi du lịch cùng nhau.
Người Nhật bao giờ cũng lao động hết mình.Họ coi doanh nghiệp là nhà,
tuyệt đối trung thành với doanh nghiệp, bất kỳ một người lao động bình
thường nào cũng làm việc không dưới 9 tiếng một ngày dù hưởng lương chỉ 8
tiếng.Tính kỉ luật là một đặc trưng của người Nhật, sự phục tùng dưới trên,
sau trước hành động theo thủ lĩnh, xử thế điềm tĩnh ôn hòa.Người Nhật cần sự
ngăn nắp,trật tự và sạch sẽ ở mức độ tuyệt hảo.Người Nhật không có thói
quen cho và nhận tiền boa(pourboire).Người Nhật thích tắm ở nhà tắm công
cộng, nước tắm phải thật nóng.Khi ăn đĩa bát phải cùng nhau.Màu hồng được
nữ giới rất ưa thích, thích cây liễu rủ,cành liễu dung làm đũa quý chỉ đem ăn
trong dịp tết.Người Nhật thích các món ăn chế biến từ hải sản, trong bữa ăn
phải có cá và rau,thích có bình tương Nhật dặt sẵn trên các bàn ăn ở nơi đến
du lịch,thích các món súp tự pha lấy(mỳ tôm).Thích cơm rang với
trứng.Trong buồng ngủ phải có ít nhất hai loại dép, thích có bồn tắm, trong
nhà tắm phải có đầy đủ bàn chải, thuốc dánh răng, dao cạo râu, bàn chải, máy
sấy tóc, kem xoa, dầu gội đầu, dầu xà. Trong tủ lạnh phải có đủ thứ rượu, bia,
nước ngọt, hoa quả, thích uống trà, rót nước ra cốc để uống.
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Người Nhật rất thích hoa anh đào,hoa cúc,thích màu đỏ và đen,chán ghét
màu vàng
II.THÓI QUEN TRONG GIAO TIẾP
Quần áo diện mạo
Biểu hiện bân ngoài trang phục sạch sẽ là phẳng,đeo phù hiệu công ty,tóc
không che mắt, nữ giới bôi son môi vừa phải,momgs tay không sơn màu sang
chói(nhũ trắng), nam giới tất màu đen, màu tối, nữ giới mang đồ nữ trang giản
dị, mang tất dài màu dịu tự nhiên, giày bóng loáng luôn tươi cười.
Giao tiếp và ngôn ngữ
Bộc lộ thẳng tình cảm được coi là ấu trĩ, không phù hợp với cách ứng xử
của người lớn và không được coi là thanh nhã. Đặc biệt người Nhật không thể
hiện tình yêu trước mặt người khác. Có lẽ vì thế mà người ta cho rằng khó dò
biết được tình cảm và suy nghĩ bên trong của người Nhật
Cúi người cũng là một tập quán đặc biệt của người Nhật. Khi chào hỏi, khi
nhờ vả, khi xin lỗi, cũng như khi cảm ơn, người Nhật đều cúi người. Thậm
chí như khi nói chuyện điện thoại, biết rằng mình và người đối thoại không
nhìn thấy nhau, song nhiều người vẫn bất giác cúi người để biểu thị sự tôn
trọng hoặc biết ơn. Có ba kiểu cúi người căn cứ vào mức độ quan hệ giữa bản
thân người chào và người đối diện, căn cứ vào địa điểm, thời gian, hoàn cảnh.
Trước hết là kiểu "chào nhẹ" thường dùng khi gặp khách hay cấp trên ở hành
lang, đầu chỉ hơi cúi chào. Kiểu cúi người thứ hai là kiểu "chào bình thường"
cúi người thấp hơn một chút khi chào tương đối trịnh trọng. Cuối cùng là kiểu
"chào lễ phép", cúi người thấp hẳn xuống, dùng khi chào một cách trịnh trọng
như chào khách. Bất kể thế nào cũng không cúi đầu mà phải để thẳng lưng và
và hơi gập người ở chỗ thắt lưng. Ngoài ra, khi cúi chào, cách để tay của nam
và nữ cũng khác nhau. Thường thì nam giới để tay ở hai bên hông còn nữ giới
để tay phía trước. Bắt tay vốn không có trong tập quán chào hỏi của người
Nhật nhưng khi chào hỏi người nước ngoài, người Nhật cũng thường bắt tay
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đúng như câu tục ngữ "Nhập gia tuỳ tục". Có thể nói đây là ví dụ thể hiện tính
linh hoạt trong lối ứng xử của người Nhật.
Để mình ngồi cao hơn người khác cũng bị coi là thất lễ. Ngoài vị trí ngồi
cao thấp, người Nhật còn rất để ý đến thứ tự ngồi được gọi là Kamiza (ngồi
trên) và Shimoza (ngồi dưới). Lúc ngồi trên xe cũng như khi ngồi trên phòng,
thứ tự ngồi được ngầm quy ước. Trong phòng, chỗ (ngồi trên) là chỗ xa cửa
vào phòng nhất, dành cho người trên hay cho khách. Khi dẫn khách vào phải
mời khách "chỗ ngồi trên" rồi thứ tự lần lượt ra phía cửa. Trong phòng khách
của những ngôi nhà Nhật Bản từ thời Edo (từ thế kỷ XVII) có một khoảng
trống gọi là Tokonoma. Đó là khoảng trống lõm trong tường và cao hơn sàn
nhà một chút, trên vách có treo tranh và bày biện lọ hoa hay đồ trang trí. Chỗ
ngồi phía trước Tokonoma là "chỗ ngồi trên". Trong gia đình người cha là
trưởng gia ngồi ở vị trí cao nhất. Kế đến là con trai cả. Rồi đến là con trai thứ
ngồi phía dưới và con dâu ngồi dưới cùng
Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối
thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách,
đồ nữ trang, lọ hoa , hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói
chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu
lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm
nhiều đến hành động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ
tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá nhiều. Trong buổi thương thảo, người có vị
trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta nói ra là quyết định sau
cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác.
Gián tiếp và nhập nhằng: thường thì họ giải thích ít những gì họ ám chỉ
và những câu trả lời thì cũng rất mơ hồ. Họ không bao giờ nói “không” và
chẳng nói cho biết rằng họ không hiểu. Nếu cảm thấy bất đồng hoặc không
thể làm những yêu cầu của người khác họ thường nói “điều này khó”.
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bất kỳ lời nói, cử chỉ nào của người Nhật kể cả sự thúc giục hay từ chối
cũng đều mang dấu ấn của sự lịch thiệp, nhã nhặn. Vì người Nhật có ý thức tự
trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm
nhã khi giao tiếp.
Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu.
Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng của
mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi giao tiếp với
người khác họ vẫn mỉm cười.
Khi bước vào tiếp xúc, sau những lời chào hỏi xã giao, với cương vị chủ
nhà, họ thường chủ động đi vào vấn đề cần bàn bạc trước. Lúc câu hỏi được
đưa ra có nghĩa là công việc đã chính thức bắt đầu. Trong không khí căng
thẳng, nếu bạn tạo được tình huống vui vẻ gây cười thì sẽ tạo được ấn tượng
tốt, nhưng nên dừng lại đúng lúc. Người Nhật khi đang thực thi nhiệm vụ
hoặc đang suy nghĩ thì không nên đưa ý kiến chệch vấn đề đang bàn, nói
những câu thiếu thông tin, hỏi về đời tư. Bạn sẽ bị đánh giá là thiếu nghiêm
túc, thậm chí sẽ gây ác cảm với họ.
Dù người Nhật rất khoan dung với người nước ngoài về khoản này, nhưng
sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu không dùng ngôn ngữ lễ phép và kính ngữ
khi dùng tiếng Nhật để nói chuyện với người có địa vị cao hơn. Kính ngữ
“san” có thể dùng khi bạn nói tiếng Anh nhưng đừng dùng nó để gọi chính
mình. Tên người Nhật có họ để phía trước nhưng họ cũng thường để ngược
lại vì lợi ích của người Tây phương trong giao tiếp.
Nụ cười hay tiếng cười của người Nhật có thể là do họ cảm thấy bối rối
hoặc khó chịu, và có thể không mang nghĩa là họ đang vui.
Sẽ là thô lỗ nếu khi không gửi thiệp trong ngày Tết của Nhật khi nhận được
thiệp gửi cho bạn. Nhưng nếu gửi thiệp ấy tới một tang gia chưa giáp năm là
lỗi trong giao tiếp.
Với người Nhật, việc tặng tiền thường bị xem là thô lỗ, tiền mặt là loại
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quà cáp quy chuẩn trong đám cưới hay cho trẻ em trong năm mới.
Khi gọi ai đó bằng cách vẫy tay, nên để tay thẳng, lòng bàn tay hướng xuống,
sau đó quạt các ngón tay xuống, việc cong một vài ngón tay trong không khí
là cử chỉ tục tĩu. Sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu chỉ tay trực tiếp vào người
khác, thay vào đó ta mở rộng bàn tay ngửa lên trên như thể đang bưng một cái
mâm và chỉ về phía người đó.
Người Nhật thích tặng quà cho từng người khách và khi được tặng quà
thường không mở món quà đó trước mặt người tặng quà, như luật bất thành
văn, họ tặng quà nhau trong các ngày lễ tết hoặc khi có tin vui, thăng quan
tiến chức. Việc gói quà tặng là cả một nghệ thuật, bạn nên nhờ nhân viên bán
hàng làm giúp để tránh sai sót. Không nên tặng quà có số lượng 4 hoặc 9,
những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may mắn
tại Nhật.
Khi đến nhà người khác chơi, được chủ nhà mời vào nhà thì người khách
phải đáp “cảm ơn, rất hân hạnh” và cởi bỏ áo khoác trước cửa nhà. Nếu là
người đến thăm lần đầu thì chỉ ở chơi không quá nửa giờ, sau đó vào lúc thích
hợp phải xin phép ra về với câu “Tôi đã làm phiền ngài quá lâu, xin lượng
thứ”. Sau khi cởi đôi dép đi trong nhà, người khách phải quay mũi dép vào
trong phòng, ở cửa người khách phải cúi chào một lần nữa và cảm ơn chủ nhà
vì sự tiếp đón rồi mới đi ra.
Phụ nữ Nhật khi nói chuyện với người ít quen biết thì họ phải im lặng và
nhìn đi chỗ khác, đó được coi là những hành vi đức hạnh, được đánh giá là
người phụ nữ đức hạnh, còn nếu nhìn chăm chú sẽ bị đánh giá là người không
đứng đắn, thiếu đức hạnh vì hành vi đó được đánh giá như lời mời gọi dẫn tới
sự thân mật.
III XU HƯỚNG TIÊU DÙNG DU LỊCH CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN
Chính phủ Nhật khuyến khích dân chúng nước mình đi du lịch ở nước
ngoài.
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Người Nhật thường chọn nơi du lịch có nắng, cảnh sắc hấp dẫn, nước biển
trong xanh, cát trắng cso thể tắm được quanh năm quen với phương tiện sinh
hoạt hiện đại và thuận lợi
Chương trình du lịch của họ thường chọn 7 ngày để một năm cớ thể đi du
lịch được ba lần
Nội dung đầu tiên của chuyến đi mà người Nật quan tâm đó là cước vận
chuyển.Nếu học thấy rẻ thì đi còn không tính đến việc tiêu tiền như thế nào
trong chuyến đi.
Tầng một và hai tầng ở trên cùng của loại khách sạn cao tầng thường
không thích hợp với người Nhật vì lý do an toàn.Trước khi ra nước ngoài du
lịch người Nhật được đén các phòng tư vấn về vấn đề an ninh đảm bảo sự an
toàn tính mạng và tài sản của họ
Người Nhật chi tiêu nhiều cho dịch vu lưu trú và ăn uống,chẳng hạn so với
khách du lịch Nhật chi tiêu tại Hồng Koong là 312USD/ngày thì khách du lịch
Mỹ là 198USD/ngày.
Ở Nhật có phong trào đi du nghỉ tuần trăng mật ở nước ngoài,trung bình
chi tiêu cho chuyến đi là 10000USD.
Khách du lịch ở độ tuổi thanh niên thích phiêu lưu, mạo hiểm.
Khách du lịch là thương gia đòi hỏi tính chính xác rất cao:-Thời gian làm
việc(bắt đầu từ 7h30,kết thúc 17h30).Thời gian, địa điểm đưa đón,chủng loại
phương tiện,người điều khiển,chương trình làm việc,nộ dung và con người cụ
thể khi làm việc,chương trình tham quan giải trí.
Loại khách này sử dụng các dịch vụ có thứ hạng cao.Nếu sử dụng các dịch
vụ thấp kém nghĩa là hạ thấp uy tín,là sự xỉ nhục đối với công ty mà họ đại
diện.Thời gian rỗi loại khách này thích đi dạo phố phường chợ thường trực
nghệ thuật dân gian…Nhìn chung khách Nhật ít kêu ca phàn nàn.ít nổi nóng,
rất khéo léo trong đối nhân xử thế nhưng lại có yêu cầu quá khắt khe về chất
lượng sản phẩm và dịch vụ.
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hầu như tất cả các khách du lịch Nhật đều bắt buộc phải mua nhiều quà
lưu niệm vì phong tục tập quán của người Nhật
Thích các di tích cổ
Thích ăn món Pháp và rượu Pháp.
Giữ gìn bản sắc dân tộc khi ra nước ngoài,luôn thể hiện là người lịch sự có
kỷ luật
PHẦN 3:TÌNH HÌNH DU LỊCH
I.HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI NHẬT BẢN
Nhật Bản là một trong những thị trường gửi khách lớn nhất thế giới. Hàng
năm, có hàng chục triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Năm 1985, có
4,49 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Đến năm 2004 có tới trên
16,8 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Khách Nhật có khả năng
thanh toán cao, hiệu quả mang lại lớn. Vì vậy, Nhật luôn là thị trường được
nhiều nước chú trọng khai thác.
Trong mấy năm gần đây, Nhật Bản bắt đầu coi trọng phát triển du lịch
nhằm thu hút khách quốc tế, biến Nhật Bản không chỉ là một thị trường gửi
khách lớn mà còn là một điểm đến du lịch thông dụng của du khách quốc tế.
Để thu hút khách du lịch quốc tế, năm 1999, Nhật Bản đã đề ra chính sách
xúc tiến du lịch quốc tế. Chính sách này bao gồm những nội dung sau:
1. Kế hoạch chào đón thế kỷ 21 ( Welcome Plan 21).
Kế hoạch này nhằm mục tiêu tăng gấp đôi lượng khách đến, tăng tổng
lượng khách quốc tế đến Nhật Bản đến năm 2005 đạt 7 triệu lượt và đến 2007
đạt 8 triệu lượt; Tạo ra hình ảnh của Nhật Bản như một điểm đến du lịch được
chọn; giảm chi phí đi lại và tạo điều kiện thuận lợi cho khách đi du lịch ở
Nhật bản; Đa dạng hoá các điểm đến du lịch của nước ngoài từ các thành phố
lớn như Tokyo và Osaka tới một loạt các địa phương khác của Nhật Bản.
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhiều khu vực ở Nhật Bản có nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên, lịch sử
và văn hoá phong phú, rất thích hợp cho việc thu hút khách du lịch quốc tế. “
Các khu chuyên đề du lịch quốc tế “ đã được thiết lập để nhấn mạnh tiềm
năng này của một số khu vực bằng việc xây dựng các tuyến tham quan dưới
chủ đề chung. Hiện nay, ở Nhật Bản có 10 “Khu chuyên đề du lịch quốc tế”.
Để giảm chi phí du lịch ở Nhật Bản, thẻ giảm giá “Welcome Cards” đã
được giới thiệu ở 8 thành phố lớn. Bằng việc xuất trình thẻ này, du khách
nước ngoài có thể nhận được giảm giá phí vào cửa tại các cơ sở du lịch như
bảo tàng, nhà hàng, cơ sở lưu trú và cửa hàng lưu niệm. Các hãng hàng không
và hãng tàu hoả giành vé giảm giá cho du khách nước ngoài.
2. Xúc tiến đăng cai các Hội nghị quốc tế:
Các thành phố lớn ở Nhật Bản nhận thấy hiệu quả đáng kể, cả về kinh tế
và văn hoá, của việc đăng cai các hội nghị quốc tế và đã phát triển các trung
tâm hội nghị hiện đại. Với nhận thức rằng hội nghị là một trong những nhân
tố chủ yếu làm tăng dòng chảy du khách, ngành du lịch Nhật bản chú trọng
thu hút đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế. Một “ Thành phố du lịch và
hội nghị quốc tế” được Chính phủ chỉ định có thể được hưởng những đặc ân
với điều kiện Chính phủ ủng hộ các hoạt động marketing và quảng cáo ở nước
ngoài cũng như tài trợ cho các hội nghị quốc tế được tổ chức ở địa phương.
Cơ quan Du lịch quốc gia Nhật Bản (JNTO) là cơ quan đảm nhiệm công
tác marketing và xúc tiến du lịch của Nhật Bản. Thực thi chính sách xúc tiến
với chủ đề “Chào đón thế kỷ 21”, các hoạt động marketing của JNTO được
tập trung vào việc tạo ra một hình ảnh mới cho điểm đến Nhật Bản; marketing
ở nước ngoài về “các khu chuyên đề du lịch quốc tế”; cải thiện mạng lưới
thông tin du lịch.
Nhằm biến Nhật Bản thành một trong những trung tâm du lịch trong khu
vực, năm 2003, Nhật Bản quyết định tổ chức Năm Du lịch Nhật Bản và thực
hiện thông qua Chiến dịch Visit Japan. Khẩu hiệu quảng bá cho Chiến dịch
Visit Japan là “Yokoso! JAPAN” nghĩa là “Hãy đến với Nhật Bản
Gvhd
:
ThS
.
V¬ng Quúnh Thoa
14

Xem chi tiết: Du lịch Nhật Bản


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét