- Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, vật liệu khi tham gia
vào quá trình sản xuất nó cấu thành thực thể vật chất của sản phẩm xây lắp nh: gạch,
cát, đá, sỏi, xi măng trong nguyên vật liệu chính bao gồm cả bán thành phẩm mua
ngoài. Đó là các chi tiết, bộ phận của sản phẩm mà doanh nghiệp mua của các đơn vị
khác để tiếp tục sản xuất chế biến thành sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp.
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không
cấu thành thực thể chính của sản phẩm, mà nó có thể kết hợp với nguyên liệu, vật liệu
chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều
kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm đợc thực hiện bình thờng.
- Nhiên liệu: Cũng là vật liệu phụ nhng do có tính chất lí hoá đặc biệt và có vai
trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh nên đợc xếp thành một loại riêng để có chế
độ bảo quản, sử dụng thích hợp. Nhiên liệu là loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt
năng cho quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu bao gồm các loại ở thể lỏng, khí,
rắn nh xăng, dầu, than, củi, hơi đốt để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho
các phơng tiện, máy móc thiết bị hoạt động.
- Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, bộ phận dùng để thay thế, sửa chữa máy
móc, thiết bị sản xuất, phơng tiện vận tải
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị đợc sử
dụng cho công việc xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, công cụ, khí cụ và
vật kết cấu dùng để lắp đặt các công trình xây dựng cơ bản
- Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất sản phẩm nh gỗ,
thép, sắt vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lí tài sản cố định .
Việc phân chia nguyên vật liệu thành các loại nh trên giúp cho kế toán tổ chức
các tài khoản tổng hợp, chi tiết để phản ánh thình hình thực hiện có và sự biến động
của các loại nguyên liệu đó trong qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp nhận biết rõ nội dung kinh tế và vai trò, chức năng
của từng loại vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp thích
hợp trong việc tổ chức quản lí và sử dụng có hiệu quả các loại vật liệu.
5
* Căn cứ vào mục đích, công dụng của vật liệu cũng nh nội dung quy định phản
ánh chi phí vật liệu trên các tài khoản kế toán, vật liệu của doanh nghiệp đợc chia
thành:
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ quản lý ở các phân
xởng sản xuất, đội sản xuất, phục vụ bán hàng, quản lý doanh nghiệp
* Căn cứ vào nguồn nhập vật liệu, vật liệu của doanh nghiệp đợc chia thành:
- Nguyên vật liệu mua ngoài.
- Nguyên vật liệu tự gia công chế biến .
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến.
- Nguyên vật lệu nhận góp vốn kinh doanh
Tuy nhiên, để đảm bảo nhu cầu nguyên vật liệu cho quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành đợc thờng xuyên, liên tục không bị gián
đoạn và quản lí nguyên vật liệu một cách chặt chẽ cần phải nhận biết một cách cụ thể
về số hiện có và tình hình biến động của từng thứ vật liệu đợc sử dụng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, các loại vật liệu cần phải đợc
phân chia một cách chi tiết, tỉ mỉ hơn theo tính năng lí hoá, theo quy cách phẩm chất
của vật liệu. Việc phân chia vật liệu một cách chi tiết tỉ mỉ trong các doanh nghiệp
sản xuất đợc thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm vật liệu, trong đó vật
liệu đợc chia thành nhóm, loại, thứ và mỗi loại nhóm thứ đợc sử dụng một kí hiệu
riêng gọi là sổ danh điểm vật liệu và đợc sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh
nghiệp nhằm đảm bảo cho các bộ phận, đơn vị trong phạm vi doanh nghiệp phối hợp
chặt chẽ trong công tác quản lý vật liệu. Mỗi loại vật liệu sử dụng một số trang trong
sổ danh điểm vật liệu để ghi đủ các nhóm thứ vật liêụ thuộc loại vật liệu đó.
2.2. Đánh giá nguyên vật liệu: Đánh giá nguyên vật liệu là xác định giá trị của
nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định. Về nguyên tắc kế toán nhập, xuất,
tồn kho nguyên vật liệu phải phản ánh theo giá trị thực tế.
2.2.1. Giá thực tế nhập kho:
6
Tuỳ theo từng nguồn nhập mà cấu thành giá thực tế của nguyên vật liệu có sự
khác nhau, cụ thể:
-Đối với nguyên vật liệu mua ngoài: Có hai trờng hợp
+Nếu nguyên vật liệu mua để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc
đối tợng nộp thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp khấu trừ:
Trị giá thực tế
của nguyên vật
liệu nhập kho
trong kì
=
Trị giá mua trên
hoá đơn (không
bao gồm thuế
GTGT )
+
Thuế
nhập
khẩu
( nếu có)
+
Chi phí trực
tiếp phát sinh
trong khâu mua
-
Các khoản
giảm giá và
trị giá hàng
mua trả lại
+ Nếu nguyên vật liệu mua để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh không
thuộc đối tợng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp:
Trị giá thực
tế của NVL
nhập kho
trong kỳ
=
Trị giá mua
trên hóa
đơn (bao
gồm thuế
GTGT)
+
Thuế nhập
khẩu và
thuế GTGT
của hàng
nhập khẩu
+
Chi phí trực
tiếp phát sinh
trong khâu
mua
-
Các khoản
giảm giá
và trị giá
hàng mua
trả lại
-Đối với NVL mua ngoài gia công chế biến:
Trị giá thực tế của NVL gia
công nhập kho trong kỳ
=
Trị giá thực tế của NVL xuất
gia công chế biến
+
Chi phí chế
biến
- Đối với NVL thuê ngoài gia công chế biến:
Trị giá thực tế của NVL gia
công nhập kho trong kỳ
=
Trị giá thực tế của NVL
xuất gia công chế biến
+
Chi phí
chế biến
+
Tiền công
gia công
7
- Đối với NVL góp vốn liên doanh, cổ phần thì giá thực tế là giá do các bên
tham gia liên doanh đánh giá.
2.2.2 Giá thực tế xuất kho
Khi xuất kho NVL để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp kế toán phải tính toán, xác định chính xác trị giá thực tế của NVL xuất kho
cho các nhu cầu khác nhau nhằm xác định chính xác chi phí hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Để tính trị giá thực tế của NVL xuất kho có thể áp dụng
một trong các phơng pháp sau:
2.2.2.1Trờng hợp doanh nghiệp sử dụng giá thực tế để hạch toán NVL:
a)Phơng pháp bình quân gia quyền: Theo phơng pháp này giá thực tế của NVL
xuất kho đợc tính trên cơ sở số lợng NVL xuất kho và đơn giá bình quân của NVL
tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ.
Đơn giá bình quân
=
Trị giá thực tế của
NVL tồn đầu kỳ
+
Trị giá thực tế của
NVL nhập trong kỳ
Số lợng NVL tồn
đầu kỳ
+
Số lợng NVL nhập
trong kỳ
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lợng NVL xuất
kho
x Đơn giá bình quân
b) Phơng pháp giá thực tế đích danh: Theo phơng pháp này giá thực tế NVL xuất
kho đợc tính trên cơ sở số lợng NVL xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của chính
lô NVL xuất kho đó. Phơng pháp này thờng đợc áp dụng đối với những loại vật liệu
đặc chủng, có giá trị cao, công thức tính:
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lợng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô hàng
8
c)Phơng pháp giá thực tế nhập trớc xuất trớc: Theo phơng pháp này kế toán phải
theo dõi đợc đơn giá thực tế và số lợng của từng lô hàng nhập kho. Sau đó, khi xuất
kho căn cứ vào số lợng xuất tính ra giá thực tế theo công thức:
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lợng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
từng lô hàng
Khi nào xuất hết số lợng của lô hàng nhập trớc thì nhân với đơn giá thực tế của
lô hàng nhập tiếp theo. Nh vậy, theo phơng pháp này giá thực tế của NVL tồn kho
cuối kỳ là giá thực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua sau cùng.
d) Phơng pháp giá thực tế nhập sau xuất trớc: Theo phơng pháp này kế toán cũng
phải theo dõi đợc đơn giá thực tế và số lợng của từng lô hàng nhập kho. Sau đó khi
xuất kho căn cứ vào số lợng xuất kho để tính trị giá thực tế của NLV xuất kho theo
công thức:
Trị giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lợng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế của
lô hàng nhập sau
Khi nào hết số lợng của lô hàng nhập sau cùng thì nhân với đơn giá thực tế của
lô hàng nhập trớc lô hàng đó và cứ tính lần lợt nh thế. Nh vậy, theo phơng pháp này
giá thực tế của NVL tồn kho cuối kỳ chính là giá thực tế của NVL nhập kho thuộc
các lần mua đầu kỳ.
2.2.2.2Trờng hợp doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán
Giá hạch toán là loại giá do doanh nghiệp quy định và đợc sử dụng trong một
thời gian dài, ít nhất là một kỳ hạch toán ( giá kế hoạch hoặc giá ổn định trong kỳ).
Theo phơng pháp này, hàng ngày kế toán ghi sổ chi tiết NVL theo giá hạch toán.
Để theo dõi chi tiết tình hình nhập xuất NVL hàng ngày, thì cuối kỳ kế toán
phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế đối với số NVL xuất dùng trong kỳ trên
9
cơ sở hệ số giữa trị giá thực tế và trị giá hạch toán của NLV luân chuyển trong kỳ,
công thức tính nh sau:
Hệ số giữa giá thực tế và giá
hạch toán của NVL luân
chuyển
=
Trị giá thực tế của
NVL tồn đầu kỳ
+
Trị giá thực tế của NVL
nhập kho trong kỳ
Trị giá hạch toán của
NVL tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán của
NVL nhập kho
Trị giá thực tế của NVL
xuất kho trong kỳ
=
Trị gía hạch toán của
NVLxuất kho trong kỳ
x
Hệ số giữa giá thực tế và
giá hạch toán
Tuỳ thuộc vào đặc điểm yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp mà hệ
số giá vật liệu có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc toàn bộ vật liệu.
Mỗi phơng pháp tính giá NVL có nội dung, u nhợc điểm và điều kiện áp dụng
phù hợp nhất định. Doanh nghiệp phải căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vào
yêu cầu quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán để lựa chọn và đăng ký một
phơng pháp phù hợp. Phơng pháp tính giá đã đăng ký phải đợc sử dụng nhất quán
trong niên độ kế toán.
III/.Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu
1/. Các phơng pháp hạch toán nguyên vật liệu
Hạch toán chi tiết giúp cho các doanh nghiệp quản lý một cách chi tiết về mặt
số lợng, chủng loại NVL. Nhng để đáp ứng đợc yêu cầu quản lý, đánh giá đợc tình
hình sản xuất kinh doanh cần phải có những thông tin chuẩn xác hơn, do vậy cần phải
hạch toán tổng hợp NVL.
Nh chúng ta đã biết, NVL là tài sản cố định, thuộc nhóm hàng tồn kho của
doanh nghiệp. Nó đợc nhập - xuất kho thờng xuyên nên phải có phơng thức kiểm kê
thích hợp tuỳ theo đặc điểm của từng doanh nghiệp để từ đó phản ánh đúng và đầy đủ
sự biến động đó. Theo chuẩn mực kế toán hiện nay có hai phơng pháp hạch toán hàng
10
tồn kho là phơng pháp kê khai hàng thờng xuyên (KKTX) và phơng pháp kiểm kê
định kỳ (KKĐK). Việc sử dụng phơng pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh
doanh của doanh nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý và tuỳ thuộc vào trình độ
kế toán của nhân viên.
1.1/ Hạch toán tổng hợp NVL theo phơng pháp kê khai thờng xuyên (KKTX)
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp theo dõi và phản ánh tình
hình hiện có, những biến động tăng giảm hàng tồn kho một cách thờng xuyên, liên
tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho và sổ kế toán tổng hợp trên cơ
sở các chứng từ nhập - xuất.
Nh vậy, việc xác định giá trị NVL xuất kho theo phơng pháp này đợc căn cứ
trực tiếp vào các chứng từ xuất kho sau khi đã đợc tập hợp, phân loại theo các đối t-
ợng sử dụng để ghi vào các tài khoản và sổ kế toán.
Ngoài ra theo cách này, giá trị NVL tồn kho trên tài khoản, trên sổ kế toán có
thể đợc xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ hạch toán.
1.1.1/ Tài khoản kế toán sử dụng
Để hạch toán tổng hợp NVL, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 152 - nguyên vật liệu
Tài khoản này đợc dùng để theo dõi giá trị hiện có, tình hình tăng giảm của các
NVL theo giá thực tế. Tài khoản này có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ tuỳ
theo yêu cầu quản lý và phơng tiện tính toán.
Tài khoản 152 có kết cấu và nội dung nh sau:
Nợ 152 Có
11
-Trị giá thực tập của -Trị giá thực tế của nguyên
nguyên liệu, vật liệu nhập vật liệu xuất kho trong kì
kho trong kì -Khoản giảm giá nguyên vật
-Trị giá nguyên liệu, vật liệu mua trả lại ngời bán
liệu thừa phát hiện khi -Trị giá nguyên vật liệu thiếu
kiểm kê phát hiện khi kiểm kê
Dự nợ:
Trị giá thực tế của
nguyên liệu, vật liệu tồn
kho
TK 152 có 6 TK cấp hai:
TK 1521- Nguyên liệu, vật liệu chính: Phản ánh trị giá thực tế của nguyên vật
liệu chính mua ở ngoài, nhận của bên giao thầu(bên A) ứng trớc để thực hiện khối l-
ợng xây đắp nhận thầu, gia công, chế biến.
TK 1522-Vật liệu phụ
TK 1523- Nhiên liệu
TK 1524- Phụ tùng thay thế
TK 1526- Thiết bị xây dựng cơ bản: Phản ánh cả trị giá thiết bị xây dựng cơ bản
của bên giao thầu(bên A) giao hoặc bên A uỷ nhiệm cho đơn vị nhận thầu(bên B)
mua thiết bị thuộc vốn thiết bị của công trình xây dựng cơ bản để sau đó lắp đặt vào
công trình.
TK 1528- Vật liệu khác
Tài khoản 151- Hàng mua đang đi trên đờng :
Tài khoản này đợc dùng để theo dõi các nguyên vật liệu, công cụ, hàng hoá mà
doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của các doanh
nghiệp nhng cuối tháng hàng cha về nhập kho(kể cả số đang gửi kho ngời bán )
Tài khoản 151 có kết cấu và nội dung phản ánh nh sau:
12
Nợ 151 Có
- Giá trị hàng đang đi đờng - Giá trị hàng đang đi đờng đã
tăng trong kì nhập kho hay chuyển giao cho
các bộ phận sử dụng hoặc giao
cho khách hàng
-Dự nợ: Giá trị hàng đang đi
đờng tồn cuối kì
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản liên
quan khác nh : TK 111, TK 112, TK 133, TK 331
1. 2. Phơng pháp hạch toán tổng hợp các trờng hợp tăng giảm nguyên vật liệu
theo phơng pháp thờng xuyên .
1.2.1.Đối với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ:
Tức là doanh nghiệp đã có đủ điều kiện để tính thuế VAT theo phơng pháp VAT
(doanh nghiệp thực hiện việc mua, bán hàng hoá có hoá đơn, chứng từ, ghi chép kế
toán đầy đủ ). Đối với các doanh nghiệp này, thuế VAT đầu vào đợc tách riêng,
không ghi vào giá thực tế của nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp tăng chủ yếu là do mua hàng. Trong tổng giá
trị thanh toán phải trả cho ngời bán của mọi trờng hợp mua hàng thì phần giá
13
mua cha thuế đợc ghi tăng giá nguyên vật liệu ( ghi Nợ TK 152 ) phần thuế VAT đầu
vào đợc ghi vào số khấu trừ ( ghi Nợ TK 133) đồng thời kế toán ghi Có các TK liên
quan ( TK 111, TK 112, TK 141, TK 331 )
Còn mọi trờng hợp giảm nguyên vật liệu trong doanh nghiệp (chủ yếu giảm do
xuất sử dụng cho sản xuất kinh doanh, phần còn lại có thể xuất bán, xuất góp vốn liên
doanh ) thì đều đợc ghi theo giá thực tế ở bên Có của TK 152 và ghi Nợ các TK liên
quan ( TK 621, TK627, TK 641, TK 642, TK 241 )
Sơ đồ hạch toán tổng hợp các tr ờng hợp tăng giảm nguyên vật liệu theo ph ơng
pháp kê khai th ờng xuyên( tính thuế VAT theo ph ơng pháp khấu trừ )
TK331,111,112,141,311 TK 152 TK 621
D đầu kỳ
Tăng do mua ngoài Xuất để chế tạo
sản phẩm
TK1331
VAT đầu vào
đợc khấu trừ
TK151 TK 621,641,642
Hàng đang đi đờng kỳ trớc Xuất cho CP SXC,
CPBH,CPQLDN
TK411 TK128,222
14
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Vốn và vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả cua các doanh nghiệp khi chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta .doc
phát minh, sáng chế, kinh nghiệm tay nghề, bí quyết. Xét trên diện rộng, ngời ta
có thể coi tài nguyên lao động cũng là vốn.
Chính vì thế vốn là một nhân tố quan trọng không thể thiếu đợc đối với
một doanh nghiệp. Bởi vì phải có vốn thì doanh nghiệp mới đảm bảo đợc sự vận
hành thờng xuyên và có khả năng tăng trởng trong tơng lai. Nói một cách khác
vốn chính là một tất yếu khách quan của doanh nghiệp . Nh vậy chúng ta có thể
hiểu môt cách khái quát nh sau:
Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
với mục đích đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn đợc biểu hiện ở nhiều
hình thái và tài sản vô hình, cũng nh mọi kiến thức tích luỹ của doanh nghiệp,
trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ công nhân viên chức. Sự bao tồn và
tăng trởng của vốn là nguyên lý và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của
doanh nghiệp.
2. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng tởng và phát triển đều phải có
vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lợc phát triển doanh nghiệp.
Trong cuộc tranh đua phát triển kinh tế nh hiện nay, vấn đề vốn trong các doanh
nghiệp càng đợc đặt ra nh một vấn đề bức xúc cần đợc giải quyết. Vốn là cơ sở là
tiền đề để cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu đã đề ra.
Nếu thiếu vốn đầu t, dẫn tới năng suất lao động thấp thu nhập thấp. Điều
này có ý nghĩa vòng quanh của vốn lại càng ngắn lại và quy mô tồn tại của
doanh nghiệp lại càng hẹp.
Bởi vậy, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì cần có số lợng
vốn lớn đáp ứng nhu cầu thị trờng và có khả năng chiếm lĩnh đợc thị phần trên
thị trờng.
Vốn là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm cho số lao động thừa tạo thêm
công ăn, việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho ngời lao động.
5
Trong một doanh nghiệp, vốn đợc sử dụng để xây dựng nhà xởng, mua
sắm trang thiết bị, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm nguyên vật liệu trả lơng
cho công nhân. Đồng thời, vốn có thể giúp cho những doanh nghiệp này có thể
thay thế cho tài sản cũ đã bị h hỏng.
Ngoài ra, vốn còn đợc sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm
duy trì tiềm lực có và tạo ra tiềm lực lớn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ.
3. Các nguồn hình thành vốn trong nớc.
Nói đến nguồn vốn của doanh nghiệp có nghĩa là nói đến các nguồn tài trợ
dài hạn trong doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có các
hình thức tài trợ khác nhau. Các công cụ tạo vốn của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng phong phú, đa dạng hơn so với các doanh nghiệp trong nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung bởi vì trong nền kinh tế thị trờng có một loại thị trờng
đặc biệt là thị trờng vốn. Thị trờng vốn bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham
gia cung cấp là sử dụng vốn.
+ Nguồn vốn ngân sách Nhà nớc.
Đây là nguồn vốn Nhà nớc duyệt chi cho phát triển kinh tế. Nó là chênh
lệch giữa tổng thu so với tổng chi của ngân sách Nhà nớc. Ngân sách Nhà nớc đ-
ợc hình thành chủ yếu qua các khoản sau:
- Khoản thu về thuế
- Khoản lệ phéi có tính chất thuế
- Các khoản thu từ khai thác là sử dụng tài nguyên
- Thu từ hợp tác lao động
- Thu từ bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc
- Các khoản viện trợ không hoàn lại
+ Vốn tự bổ sung của doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn quan trọng cho phát triển doanh nghiệp. Nguồn vốn này
đợc hình thành từ 2 nguồn vốn.
6
- Trích khấu hao cơ bản
- Phần lợi nhuận còn lại bổ sung vào vốn kinh doanh.
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Gồm 2 loại:
- Vốn dài hạn và trung hạn: Là các khoản vay mà doanh nghiệp sử dụng
đầu t dài hạn cho tài sản cố định u điểm chủ yếu của hình thức vay này là thời
gian sử dụng dài với lao động u đãi.
- Vốn ngắn hạn: Chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lu động của doanh
nghiệp. Sử dụng vốn này, doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn về thời gian cũng
nh lãi suất.
Vốn vay Ngân hàng là một nguồn vốn quan trong mà các doanh nghiệp sử
dụng để huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh để
huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh. Nếu doanh
nghiệp đạt đợc một tỷ suất lợi nhuận cao thứ đây là hình thức tín dụng có lợi
nhất so với hình thức gọi vốn cổ phần
+ Vốn trong dân:
Đó là sự tiết kiệm từ thu nhập trong nớc của đại bộ phận dân c, tiết kiệm
của ngời đi lao động.
ở nớc ta trình độ phát triển kinh tế còn thấp thể hiện ở tổng sản phẩm
trong nớc, bình quân đầu ngời và cả tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm thấp so
với tốc độ phát triển dân số cao. Điều này làm cho tiết kiệm từ thu nhập của dân
cũng bị hạn chế.
7
III. Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn là biện pháp
cơ bản để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn.
Để đánh giá tình hình huy động cũng nh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn trong nớc:
Hệ số huy động vốn trong nớc =
Vốn huy động trong nớc
Tổng số vốn
b. Các chsỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:
Sức sản xuất của vốn =
Giá trị sản lợng
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn bỏ vào sản xuất - kinh doanh đem
lại bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm, doanh thu. Hiệu suất sử dụng vốn kỳ lần thì
hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
- Suất hao phí vốn.
Suất hao phí vốn =
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Giá trị sản lợng
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng giá trị sản lợng hoặc doanh thu cần các
sản xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn.
Kỳ luân chuyển bình quân của
vốn lu động định mức kỳ =
360 ngời
Số vòng luân chuyển vốn lu
động định mức kỳ kế hoạch
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trên đây đều có ý nghĩa chung là một
đồng vốn sản xuất của doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng sản phẩm trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng
8
cao. Đồng thời, để đạt hiệu quả sử dụng vốn càng cao thi doanh nghiệp phải
quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm vốn nhằm tối thiểu hoá số vốn sử dụng
hoặc tối đa hoá kết quả sản xuất trong giới hạn về các nguồn vốn hiện có.
2. Tỷ suất lợi nhuận.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên căn cứ vào chỉ tiêu
lợi nhuận tính bằng số tuyệt đối cha thể đánh giá đúng chất lợng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn,
bên cạnh việc xem xét mức biến động của tổng số lợi nhuận, còn phải đánh giá
bằng số tơng đối (tỷ suất lợi nhuận) thông qua việc so sánh giữa tổng số lợi
nhuận trong kỳ với số vốn sản xuất sử dụng để sinh ra số lợi nhuận đó.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả huy động và phát triển vốn của
doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tối tập thể
hàng loạt các biện pháp tổ chức. Kinh tế kỹ thuật và tài chính. Việc tổ chức đảm
bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh có tác động mạnh mẽ
tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn sản xuất.
Tỷ lệ doanh lợi so với vốn sản xuất =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn sản xuất
x 100
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đợc tạo ra trên một đồng vốn sản xuất
trong kỳ.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Giá trị sản lợng
Tổng vốn cố định sử dụng trong kỳ
9
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh
đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản lợng.
Suất hao phí vốn cố định =
Tổng vốn cố định trong kỳ
Giá trị sản lợng
+ Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng giá trị sản lợng cần bỏ vào sản
xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn cố định.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn cố định sử dụng trong kỳ
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động:
Sức sản xuất của vốn lu động =
Giá trị sản lợng
Vốn lu động bình quân
Tỷ lệ danh lợi trên đồng vốn lu động =
Tổng số lợi nhuận
Vốn lu động bình quân
- Tối đa luân chuyển của vốn lu động:
Số vòng luân chuyển vốn lu động định mức kỳ =
Doanh thu bán hàng kế hoạch
Tổng số vốn lu động định mức kỳ kế hoạch
10
Phần II. Thực trạng về vốn và sử dụng vốn
trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
I. Những thuận lợi và khó khăn về vốn để phát triển doanh
nghiệp.
1. Thuận lợi.
Những doanh nghiệp nhỏ thờng khởi sự bằng nguồn vốn hạn hẹp của cá
nhân, sự tài trợ bên ngoài là hết sức hạn chế. Do tính chất nhỏ lẻ, dể phân tán đi
sâu vào các ngõ ngạch bản làng và yêu cầu số lợng vốn ban đầu không nhiều cho
nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút
các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cứ đầu t vào sản xuất kinh
doanh. Chỉ cần một số vốn hạn hẹp, một mặt bằng nhỏ hẹp đã có thể khở sự
doanh nghiệp vòng quay sản phẩm nhanh do đó có thể sử dụng vốn tự có, hoặc
vay bạn bè, ngời thân dễ dàng mà nhu cầu thị trờng thay đổi hoặc doanh nghiệp
gặp khó khăn thì dễ dàng thay đổi tình thế để thích ứng hơn nữa vốn đầu t ít,
hiệu quả cao, thu hút nhanh do đó doanh nghiệp mà nhỏ tạo nên sự hấp dẫn
trong đầu t của nhiều cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Mặt khác đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Với nền kinh tế thị tr-
ờng nh hiện nay thì nguồn vốn không phải ít có rất nhiều nguồn: Ví dụ Ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, vốn trong dân, nguồn vốn ngân sách Nhà nớc chính
vì thế mà các doanh nghiệp muốn phát triển mở rộng thì phải biết điều chỉnh và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó.
2. Khó khăn.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ riêng ở Việt Nam vốn vấn
là mối quan tâm hàng đầu của họ. Do thành lập doanh nghiệp tơng đối dễ dàng
11
nên số doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhiều, lại tập trung vào những ngành
những sản phẩm không đòi ỏi vốn quá lớn cho nên cuộc cạnh tranh ngày càng
gay gắt, lợi nhuận ngày càng mỏng đi và khó tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có đủ tài sản, bất
động sản để là vật thế chấp vay vốn ở các Ngân hàng. Đặc biệt là nhu cầu vốn
trung và dài hạn để đầu t đối mới máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xởng lại
càng nan giải hơn. doanh nghiện Nhà nớc thờng phải trả giá cao hơn về nguyên
liệu hoặc nhận giá thấp hơn về sản phẩm, cuối cùng vì họ bị phụ thuộc tính chất
vào các nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc thiết bị mà lẻ ra nhờ nó học có thể
giảm chi phí cho sản phẩm của họ hoặc cải tiến đợc chất lợng sản phẩm chỉ bởi
vì không đủ tiền mua thiết bị đó.
Mặt khác, lãi suất cho vay hiện nay ở các Ngân hàng vẫn coi đang ở mức
cao so với tỷ suất lợi nhuận của mọi doanh nghiệp. Thời gian vay quá ngắn (th-
ờng chỉ vài ba tháng một năm) so với chu kỳ sản xuất kinh doanh (nếu tính
đầu t mới mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải 3-5 năm)/
Vì thế, điều nghịch lý đã diễn ra: các doanh nghiệp cần vốn nhng không
dám vay tiền Ngân hàng, ngợc lại các Ngân hàng thừa vốn dù phần lớn là vốn
ngắn hạn nhng khó tìm đợc khách hàng vay chân chính. Sự hỗ trợ từ Ngân hàng
đối với các doanh nghiệp còn yếu.
II. Vấn đề vốn trong quá trình hình thành và phát triển
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc sự
quan tâm khuyến khích hỗ trợ.
1. Tạo vốn tích luỹ.
Thực tiễn chứng minh Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng nh đối với sản
12
xuất kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vốn cho sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành kinh tế quốc dân nhiều hay ít tuỳ thuộc vào
năng lực của cơ chế huy động, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hay không.
Muốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc tiến hành với tốc độ
nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động đợc nguồn vốn
nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Trớc hết là huy động nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nớc. Đây là
nguồn vốn có tính quyết định, là nhân tố nội lực. Nhờ tăng năng suất lao động
vốn tự có. Nguồn vốn nội bộ còn đợc tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các
ngành, các lĩnh vực, các miền, các vùng của nền kinh tế đất nớc.
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với các
doanh nghiệp trong nớc. Tuy nhiên vẫn còn hạn hẹp chính vì thế mà các doanh
nghiệp phải tạo vốn tích luỹ từ nhiều nguồn vốn. Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng
bảo quản và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Có nghĩa là phải
lựa chọn những phơng án tối u trong tạo nguồn tài chính, trớc hết phải hạch toán
kinh tế kinh doanh, phải đảm bảo tính hiệu quả cao. Vì vậy, để doanh nghiệp
từng bớc tăng trởng và phát triển, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
2. Vốn trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc quan
tâm khuyến khích hỗ trợ, do vậy các doanh nghiệp này phải tổ chức lao động
núp bóng dới các hình thức khác nhau nh tổ hợp hộ gia đình, hợp tác xã, Xí
nghiệp công t hợp doanh. Chỉ nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
sản xuất kinh doanh thì khu vực kinh tế t nhân mới thực sự yên tâm bỏ vốn đầu t
vào sản xuất kinh doanh, cũng từ đó hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh t nhân,
13
cá thể hộ gia đình ra đời và phát triển góp phần đáng kể vào giải quyết công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động.
Nhìn vào quá trình phát triển của các doanh nghiệp có thể thây rằng các
doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) mới đợc phát
triển mạnh từ năm 1989 đến nay, nghĩa là từ khi bắt đầu quá trình đối mới chính
sách quản lý kinh tế ở Việt Nam. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây,
sự tích luỹ vốn trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong dân c nói riêng là
nhỏ bé vì vậy mà các doanh nghiệp đều khởi sự với số vốn đầu t ít ỏi. Vào năm
1992 quy mô vốn trung bình của một doanh nghiệp t nhân Việt Nam chỉ vào
khoảng 713 triệu đồng, (ở 4 thành phố lớn, quy mô vốn của các doanh nghiệp
nhìn chung khá lớn, đối với doanh nghiệp t nhân con số này ở Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Nam - Đà Nẳng, TPHCM vào khoảng 1.100 triệu đồng. Điều này
có thể giải thích đợc bởi sự tích lũy vốn và tài sản ở những thành phố lớn so với
địa phơng khác).
Hàng năm các loại hình doanh nghiệp đã thu hút một lợng vốn đáng kể
của dân c, đa nguồn vốn đó vào chu chuyển khắc phục một nghịch lý đã tồn tại
trong những năm là doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi lợng vốn trong
dan còn và khả năng tiềm ẩn cha đợc khai thác. Tuy lợng vốn thu hút vào doanh
nghiệp không nhiều, nhng nhờ số lợng doanh nghiệp khá lớn nên tổng lợng vốn
thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ sức hút của
các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng lớn mạnh dần tạo đợc niềm tin trong
dân. Nhng tới năm 1997 do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, sức hút này đã
giảm xuống mạnh dẫn đến tổng vốn kinh doanh giảm. cho đến nay các doanh
nghiệp Việt Nam đang từng bớc khôi phục đẩy mạnh sản xuất xây dựng, khắc
phục hậu quả để thu hút hơn nữa lợng vốn dòi dào trong dân.
14
có thể coi tài nguyên lao động cũng là vốn.
Chính vì thế vốn là một nhân tố quan trọng không thể thiếu đợc đối với
một doanh nghiệp. Bởi vì phải có vốn thì doanh nghiệp mới đảm bảo đợc sự vận
hành thờng xuyên và có khả năng tăng trởng trong tơng lai. Nói một cách khác
vốn chính là một tất yếu khách quan của doanh nghiệp . Nh vậy chúng ta có thể
hiểu môt cách khái quát nh sau:
Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
với mục đích đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn đợc biểu hiện ở nhiều
hình thái và tài sản vô hình, cũng nh mọi kiến thức tích luỹ của doanh nghiệp,
trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ công nhân viên chức. Sự bao tồn và
tăng trởng của vốn là nguyên lý và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của
doanh nghiệp.
2. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng tởng và phát triển đều phải có
vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lợc phát triển doanh nghiệp.
Trong cuộc tranh đua phát triển kinh tế nh hiện nay, vấn đề vốn trong các doanh
nghiệp càng đợc đặt ra nh một vấn đề bức xúc cần đợc giải quyết. Vốn là cơ sở là
tiền đề để cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu đã đề ra.
Nếu thiếu vốn đầu t, dẫn tới năng suất lao động thấp thu nhập thấp. Điều
này có ý nghĩa vòng quanh của vốn lại càng ngắn lại và quy mô tồn tại của
doanh nghiệp lại càng hẹp.
Bởi vậy, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì cần có số lợng
vốn lớn đáp ứng nhu cầu thị trờng và có khả năng chiếm lĩnh đợc thị phần trên
thị trờng.
Vốn là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm cho số lao động thừa tạo thêm
công ăn, việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho ngời lao động.
5
Trong một doanh nghiệp, vốn đợc sử dụng để xây dựng nhà xởng, mua
sắm trang thiết bị, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm nguyên vật liệu trả lơng
cho công nhân. Đồng thời, vốn có thể giúp cho những doanh nghiệp này có thể
thay thế cho tài sản cũ đã bị h hỏng.
Ngoài ra, vốn còn đợc sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm
duy trì tiềm lực có và tạo ra tiềm lực lớn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ.
3. Các nguồn hình thành vốn trong nớc.
Nói đến nguồn vốn của doanh nghiệp có nghĩa là nói đến các nguồn tài trợ
dài hạn trong doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có các
hình thức tài trợ khác nhau. Các công cụ tạo vốn của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng phong phú, đa dạng hơn so với các doanh nghiệp trong nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung bởi vì trong nền kinh tế thị trờng có một loại thị trờng
đặc biệt là thị trờng vốn. Thị trờng vốn bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham
gia cung cấp là sử dụng vốn.
+ Nguồn vốn ngân sách Nhà nớc.
Đây là nguồn vốn Nhà nớc duyệt chi cho phát triển kinh tế. Nó là chênh
lệch giữa tổng thu so với tổng chi của ngân sách Nhà nớc. Ngân sách Nhà nớc đ-
ợc hình thành chủ yếu qua các khoản sau:
- Khoản thu về thuế
- Khoản lệ phéi có tính chất thuế
- Các khoản thu từ khai thác là sử dụng tài nguyên
- Thu từ hợp tác lao động
- Thu từ bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc
- Các khoản viện trợ không hoàn lại
+ Vốn tự bổ sung của doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn quan trọng cho phát triển doanh nghiệp. Nguồn vốn này
đợc hình thành từ 2 nguồn vốn.
6
- Trích khấu hao cơ bản
- Phần lợi nhuận còn lại bổ sung vào vốn kinh doanh.
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Gồm 2 loại:
- Vốn dài hạn và trung hạn: Là các khoản vay mà doanh nghiệp sử dụng
đầu t dài hạn cho tài sản cố định u điểm chủ yếu của hình thức vay này là thời
gian sử dụng dài với lao động u đãi.
- Vốn ngắn hạn: Chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lu động của doanh
nghiệp. Sử dụng vốn này, doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn về thời gian cũng
nh lãi suất.
Vốn vay Ngân hàng là một nguồn vốn quan trong mà các doanh nghiệp sử
dụng để huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh để
huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh. Nếu doanh
nghiệp đạt đợc một tỷ suất lợi nhuận cao thứ đây là hình thức tín dụng có lợi
nhất so với hình thức gọi vốn cổ phần
+ Vốn trong dân:
Đó là sự tiết kiệm từ thu nhập trong nớc của đại bộ phận dân c, tiết kiệm
của ngời đi lao động.
ở nớc ta trình độ phát triển kinh tế còn thấp thể hiện ở tổng sản phẩm
trong nớc, bình quân đầu ngời và cả tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm thấp so
với tốc độ phát triển dân số cao. Điều này làm cho tiết kiệm từ thu nhập của dân
cũng bị hạn chế.
7
III. Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn là biện pháp
cơ bản để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn.
Để đánh giá tình hình huy động cũng nh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn trong nớc:
Hệ số huy động vốn trong nớc =
Vốn huy động trong nớc
Tổng số vốn
b. Các chsỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:
Sức sản xuất của vốn =
Giá trị sản lợng
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn bỏ vào sản xuất - kinh doanh đem
lại bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm, doanh thu. Hiệu suất sử dụng vốn kỳ lần thì
hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
- Suất hao phí vốn.
Suất hao phí vốn =
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Giá trị sản lợng
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng giá trị sản lợng hoặc doanh thu cần các
sản xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn.
Kỳ luân chuyển bình quân của
vốn lu động định mức kỳ =
360 ngời
Số vòng luân chuyển vốn lu
động định mức kỳ kế hoạch
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trên đây đều có ý nghĩa chung là một
đồng vốn sản xuất của doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng sản phẩm trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng
8
cao. Đồng thời, để đạt hiệu quả sử dụng vốn càng cao thi doanh nghiệp phải
quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm vốn nhằm tối thiểu hoá số vốn sử dụng
hoặc tối đa hoá kết quả sản xuất trong giới hạn về các nguồn vốn hiện có.
2. Tỷ suất lợi nhuận.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên căn cứ vào chỉ tiêu
lợi nhuận tính bằng số tuyệt đối cha thể đánh giá đúng chất lợng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn,
bên cạnh việc xem xét mức biến động của tổng số lợi nhuận, còn phải đánh giá
bằng số tơng đối (tỷ suất lợi nhuận) thông qua việc so sánh giữa tổng số lợi
nhuận trong kỳ với số vốn sản xuất sử dụng để sinh ra số lợi nhuận đó.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả huy động và phát triển vốn của
doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tối tập thể
hàng loạt các biện pháp tổ chức. Kinh tế kỹ thuật và tài chính. Việc tổ chức đảm
bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh có tác động mạnh mẽ
tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn sản xuất.
Tỷ lệ doanh lợi so với vốn sản xuất =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn sản xuất
x 100
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đợc tạo ra trên một đồng vốn sản xuất
trong kỳ.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Giá trị sản lợng
Tổng vốn cố định sử dụng trong kỳ
9
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh
đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản lợng.
Suất hao phí vốn cố định =
Tổng vốn cố định trong kỳ
Giá trị sản lợng
+ Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng giá trị sản lợng cần bỏ vào sản
xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn cố định.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn cố định sử dụng trong kỳ
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động:
Sức sản xuất của vốn lu động =
Giá trị sản lợng
Vốn lu động bình quân
Tỷ lệ danh lợi trên đồng vốn lu động =
Tổng số lợi nhuận
Vốn lu động bình quân
- Tối đa luân chuyển của vốn lu động:
Số vòng luân chuyển vốn lu động định mức kỳ =
Doanh thu bán hàng kế hoạch
Tổng số vốn lu động định mức kỳ kế hoạch
10
Phần II. Thực trạng về vốn và sử dụng vốn
trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
I. Những thuận lợi và khó khăn về vốn để phát triển doanh
nghiệp.
1. Thuận lợi.
Những doanh nghiệp nhỏ thờng khởi sự bằng nguồn vốn hạn hẹp của cá
nhân, sự tài trợ bên ngoài là hết sức hạn chế. Do tính chất nhỏ lẻ, dể phân tán đi
sâu vào các ngõ ngạch bản làng và yêu cầu số lợng vốn ban đầu không nhiều cho
nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút
các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cứ đầu t vào sản xuất kinh
doanh. Chỉ cần một số vốn hạn hẹp, một mặt bằng nhỏ hẹp đã có thể khở sự
doanh nghiệp vòng quay sản phẩm nhanh do đó có thể sử dụng vốn tự có, hoặc
vay bạn bè, ngời thân dễ dàng mà nhu cầu thị trờng thay đổi hoặc doanh nghiệp
gặp khó khăn thì dễ dàng thay đổi tình thế để thích ứng hơn nữa vốn đầu t ít,
hiệu quả cao, thu hút nhanh do đó doanh nghiệp mà nhỏ tạo nên sự hấp dẫn
trong đầu t của nhiều cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Mặt khác đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Với nền kinh tế thị tr-
ờng nh hiện nay thì nguồn vốn không phải ít có rất nhiều nguồn: Ví dụ Ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, vốn trong dân, nguồn vốn ngân sách Nhà nớc chính
vì thế mà các doanh nghiệp muốn phát triển mở rộng thì phải biết điều chỉnh và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó.
2. Khó khăn.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ riêng ở Việt Nam vốn vấn
là mối quan tâm hàng đầu của họ. Do thành lập doanh nghiệp tơng đối dễ dàng
11
nên số doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhiều, lại tập trung vào những ngành
những sản phẩm không đòi ỏi vốn quá lớn cho nên cuộc cạnh tranh ngày càng
gay gắt, lợi nhuận ngày càng mỏng đi và khó tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có đủ tài sản, bất
động sản để là vật thế chấp vay vốn ở các Ngân hàng. Đặc biệt là nhu cầu vốn
trung và dài hạn để đầu t đối mới máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xởng lại
càng nan giải hơn. doanh nghiện Nhà nớc thờng phải trả giá cao hơn về nguyên
liệu hoặc nhận giá thấp hơn về sản phẩm, cuối cùng vì họ bị phụ thuộc tính chất
vào các nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc thiết bị mà lẻ ra nhờ nó học có thể
giảm chi phí cho sản phẩm của họ hoặc cải tiến đợc chất lợng sản phẩm chỉ bởi
vì không đủ tiền mua thiết bị đó.
Mặt khác, lãi suất cho vay hiện nay ở các Ngân hàng vẫn coi đang ở mức
cao so với tỷ suất lợi nhuận của mọi doanh nghiệp. Thời gian vay quá ngắn (th-
ờng chỉ vài ba tháng một năm) so với chu kỳ sản xuất kinh doanh (nếu tính
đầu t mới mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải 3-5 năm)/
Vì thế, điều nghịch lý đã diễn ra: các doanh nghiệp cần vốn nhng không
dám vay tiền Ngân hàng, ngợc lại các Ngân hàng thừa vốn dù phần lớn là vốn
ngắn hạn nhng khó tìm đợc khách hàng vay chân chính. Sự hỗ trợ từ Ngân hàng
đối với các doanh nghiệp còn yếu.
II. Vấn đề vốn trong quá trình hình thành và phát triển
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc sự
quan tâm khuyến khích hỗ trợ.
1. Tạo vốn tích luỹ.
Thực tiễn chứng minh Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng nh đối với sản
12
xuất kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vốn cho sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành kinh tế quốc dân nhiều hay ít tuỳ thuộc vào
năng lực của cơ chế huy động, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hay không.
Muốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc tiến hành với tốc độ
nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động đợc nguồn vốn
nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Trớc hết là huy động nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nớc. Đây là
nguồn vốn có tính quyết định, là nhân tố nội lực. Nhờ tăng năng suất lao động
vốn tự có. Nguồn vốn nội bộ còn đợc tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các
ngành, các lĩnh vực, các miền, các vùng của nền kinh tế đất nớc.
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với các
doanh nghiệp trong nớc. Tuy nhiên vẫn còn hạn hẹp chính vì thế mà các doanh
nghiệp phải tạo vốn tích luỹ từ nhiều nguồn vốn. Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng
bảo quản và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Có nghĩa là phải
lựa chọn những phơng án tối u trong tạo nguồn tài chính, trớc hết phải hạch toán
kinh tế kinh doanh, phải đảm bảo tính hiệu quả cao. Vì vậy, để doanh nghiệp
từng bớc tăng trởng và phát triển, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
2. Vốn trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc quan
tâm khuyến khích hỗ trợ, do vậy các doanh nghiệp này phải tổ chức lao động
núp bóng dới các hình thức khác nhau nh tổ hợp hộ gia đình, hợp tác xã, Xí
nghiệp công t hợp doanh. Chỉ nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
sản xuất kinh doanh thì khu vực kinh tế t nhân mới thực sự yên tâm bỏ vốn đầu t
vào sản xuất kinh doanh, cũng từ đó hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh t nhân,
13
cá thể hộ gia đình ra đời và phát triển góp phần đáng kể vào giải quyết công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động.
Nhìn vào quá trình phát triển của các doanh nghiệp có thể thây rằng các
doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) mới đợc phát
triển mạnh từ năm 1989 đến nay, nghĩa là từ khi bắt đầu quá trình đối mới chính
sách quản lý kinh tế ở Việt Nam. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây,
sự tích luỹ vốn trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong dân c nói riêng là
nhỏ bé vì vậy mà các doanh nghiệp đều khởi sự với số vốn đầu t ít ỏi. Vào năm
1992 quy mô vốn trung bình của một doanh nghiệp t nhân Việt Nam chỉ vào
khoảng 713 triệu đồng, (ở 4 thành phố lớn, quy mô vốn của các doanh nghiệp
nhìn chung khá lớn, đối với doanh nghiệp t nhân con số này ở Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Nam - Đà Nẳng, TPHCM vào khoảng 1.100 triệu đồng. Điều này
có thể giải thích đợc bởi sự tích lũy vốn và tài sản ở những thành phố lớn so với
địa phơng khác).
Hàng năm các loại hình doanh nghiệp đã thu hút một lợng vốn đáng kể
của dân c, đa nguồn vốn đó vào chu chuyển khắc phục một nghịch lý đã tồn tại
trong những năm là doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi lợng vốn trong
dan còn và khả năng tiềm ẩn cha đợc khai thác. Tuy lợng vốn thu hút vào doanh
nghiệp không nhiều, nhng nhờ số lợng doanh nghiệp khá lớn nên tổng lợng vốn
thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ sức hút của
các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng lớn mạnh dần tạo đợc niềm tin trong
dân. Nhng tới năm 1997 do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, sức hút này đã
giảm xuống mạnh dẫn đến tổng vốn kinh doanh giảm. cho đến nay các doanh
nghiệp Việt Nam đang từng bớc khôi phục đẩy mạnh sản xuất xây dựng, khắc
phục hậu quả để thu hút hơn nữa lợng vốn dòi dào trong dân.
14
Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, Chi nhánh Thăng Long
với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất
kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng: Trong thời kỳ đầu, các Ngân hàng không tích cực cho
vay đối với các cá nhân, các hộ gia đình vì họ nghĩ rằng những khoản cho vay với
mục đích tiêu dùng này có khả năng vỡ nợ cao. Nhưng hiện nay, với sự gia tăng
của thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã khiến cho
Ngân hàng ngày càng mở rộng hoạt động này và hướng đến người tiêu dùng như
một khách hàng tiềm năng.
- Tài trợ dự án: Đây là hoạt động tài trợ trung, dài hạn: tài trợ xây dựng,
phát triển ngành, đầu tư bất động sản,
* Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố hay
những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật,
thuận tiện. Dịch vụ này phát triển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các
giấy tờ có giá, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ,
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Việc giao dịch, thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút
ngắn thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin đã phát triển một số hình thức thanh toán mới bằng
thẻ, điện,
* Quản lý ngân quỹ.
Quản lý ngân quỹ là việc Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho
một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời vào các chứng
khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh
toán.
* Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận đến các khoản cho vay của Ngân
hàng.Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam
5
kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho
Chính phủ.
* Bảo lãnh.
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân
hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,
* Cho thuê thiết bị trung dài hạn ( Leasing).
Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy
móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua trong đó Ngân hàng mua thiết bị và
cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100%
giá trị của tài sản cho thuê. Cho thuê thiết bị trung dài hạn cũng được xếp vào tín
dụng trung dài hạn.
* Cung cấp dịch vụ ủy thác, tư vấn.
Nhiều khách hàng coi Ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính vì
trong lĩnh vực tài chính, các Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong quản lý.
Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp các dịch vụ môi giới, đầu tư chứng khoán.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp những rủi ro, mất khả
năng trong thanh toán. Ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm hoặc mở công
ty bảo hiểm con để cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
* Cung cấp các dịch vụ đại lý.aq
Nhiều ngân hàng, thường là những Ngân hàng lớn có chi nhánh rộng khắp,
cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hàng hộ,
làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
6
1.1.3. Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại.
* Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế. Trong thực tế luôn xảy ra trường hợp có những cá nhân và tổ
chức tạm thời thâm hụt trong chi tiêu và có những cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu. Điều tất yếu xảy ra là tiền sẽ chuyển từ nhóm thặng dư sang nhóm
thâm hụt này nếu cả hai bên cùng có lợi. Thu nhập gia tăng là động lực để tạo ra
mối quan hệ giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở
lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ
tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Trung gian tài chính
làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời
làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người đầu tư) từ
đó mà khuyến khích đầu tư. Song, hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó
gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ hạn chế, phân tán rủi ro và
giảm chi phí giao dịch.
Một đóng góp khác nữa của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các
khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho
người gửi tiền. Thực tế là các ngân hàng tham gia việc kinh doanh rủi ro. Ngân
hàng cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị
trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và
kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn các công cụ
và có yếu tố rủi ro- lợi nhuận hấp dẫn nhất.
* Tạo phương tiện thanh toán.
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Trước
đây, các ngân hàng thợ vàng đã tạo được phương tiện thanh toán bằng cách phát
hành các giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều ưu thế, giấy nhận nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữ,
nó trở thành tiền giấy. Việc in tiền mang lại lợi nhuận lớn và với nhu cầu có đồng
7
tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành
vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính, hoặc là Ngân hàng Trung ương.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi
trả để có được hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hành tăng lên, khách hàng có thể dùng để
mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán. Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện
thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng
khác trên cơ sở cho vay. Trong khi không có một ngân hàng riêng lẻ nào có thể
cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối
lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
* Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất tại các quốc gia hiện
nay. Thay mặt khách hàng của mình, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa và dịch vụ. Một số hình thức thanh toán như: séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các
loại thẻ, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng thanh toán bù trừ với nhau thông qua
ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung gian thanh toán. Nhiều hình thức thanh
toán cũng được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán, không
chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn
thế giới.
Trên cơ sở các chức năng trên, ngân hàng có một số dịch vụ sau: nhận
tiền gửi, cho vay, mua bán ngoại tệ, bảo quản tài sản hộ, cung cấp các tài khoản
giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của
Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ ủy thác
và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, cung cấp các
dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý,
Dựa trên những chức năng của mình, Ngân hàng thương mại có những vai
trò như:
- Ngân hàng thương mại tập trung tiền nhàn rỗi trong dân cư và cung ứng
nó cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
8
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán, giúp hoatj
động sản xuất, lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng
- Ngân hàng góp phần quan trọng trong điều tiết thị trường tiền tệ, thị
trường vốn.
- Ngân hàng giúp thu hút và mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, cung cấp
các dịch vụ ngày càng tiện ích đến khách hàng.
1.1.4. Các loại hình tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVI, là một tất yếu khách quan, phù hợp với sự
phát triển của xã hội và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
toàn cầu. Theo định nghĩa: “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau
theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định với một bên là
ngân hàng- một tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các
đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng
vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Có rất nhiều cách để phân chia
tín dụng ngân hàng như phân chia theo thời gian, theo hình thức tài trợ, theo hình
thức đảm bảo, theo rủi ro,
1.1.4.1. Tín dụng chia theo thời gian.
Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng thanh toán của khách hàng. Theo thời gian: tín dụng được chia thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu tài trợ cho
tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm( có ngân hàng quy định là
7 năm), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, cây trồng vật nuôi,
trang thiết bị chống hao mòn.
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm( có ngân hàng là 7 năm) tài trợ
cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc, thiết bị có giá trị
lớn, thường có thời hạn sử dụng lâu.
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại thường cao hơn
tỷ trọng trung dài hạn vì tín dụng trung dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt
hơn và khan hiếm hơn.
9
1.1.4.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ.
- Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay
là tài sản lớn nhất trong các khoản mục tín dụng.
- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng
trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu
nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ.
- Cho thuê: Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng
phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài
chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra nhưng ngân hàng
đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
1.1.4.3. Tín dụng chia theo hình thức đảm bảo.
Có 2 loại: tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo bằng tài
sản thế chấp, cầm cố. Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có
đảm bảo nhưng ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại đảm bảo mà ngân
hàng có thể bán đi thu nợ được nếu khách hàng không trả được nợ. Tín dụng
không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường
là khách hàng làm ăn có lãi thường xuyên, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra
tình trạng nợ nần, dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người
vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không
cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các công ty lớn, các tổ chức tài
chính lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả
năng giám sát việc bán hàng, cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
1.1.4.4. Tín dụng phân loại theo rủi ro.
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục
tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng có rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín
dụng.
10
- Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn,
- Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất
kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì,
1.1.4.5. Phân loại khác.
- Theo ngành kinh tế: Công nghiệp, nông nghiệp,
- Theo đối tượng tín dụng: Tài sản lưu động, tài sản cố định.
- Theo mục đích: sản xuất, tiêu dùng,
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa trong
cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng
phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.1.5. Tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại.
1.1.5.1. Khái niệm.
Theo định nghĩa, tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho
khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất
kinh doanh, phục vụ đời sống.
Tùy theo ở từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định khác nhau
về tín dụng trung và dài hạn. Ở Việt Nam, thời hạn cho vay được xác định phù
hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và
tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay, thời hạn của tín dụng
trung và dài hạn được xác định là những khoản cho vay trên 1 năm. Chúng được
trả bằng những khoản trả vay theo thời gain trong kỳ hạn của khoản vay, được
đảm bảo bằng những tài sản thế chấp, cầm cố. Mục đích của hoạt động tín dụng
trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ
11
thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và
pháp luật quy định.
1.1.5.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.5.2.1. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp.
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng
thị trường là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ngày
càng lớn mạnh, cạnh tranh hơn trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nào
cũng muốn mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường nhưng hoạt động này
cần phải có nguồn vốn lớn và trong thời gian dài, không thể một sớm một chiều
được. Đây là điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được với nguồn vốn
tự có của mình. Do vậy, nhu cầu vốn trung dài hạn để sản xuất kinh doanh là rất
lớn. Có nhiều cách để một doanh nghiệp huy động nguồn vốn trung dài hạn như:
vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu, Song, với những lợi thế đặc thù, tín dụng
trung dài hạn ngân hàng là hình thức được các doanh nghiệp ưu tiên chọn lựa hơn
cả.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Xã hội, nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi
từng ngày cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ. Ứng dụng khoa học
công nghệ kỹ thuật trong sản xuất giúp sản xuất ngày càng mở rộng, giảm giá
thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tín dụng trung dài hạn sẽ
giúp các doanh nghiệp làm được việc đó, giúp doanh nghiệp thích nghi với tình
hình thị trường, với đặc thù của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng trung và dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong
việc thỏa mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị
trường nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ nguồn vốn để chớp lấy
được những cơ hội ấy. Chớp lấy cơ hội kinh doanh là một việc hết sức quan trọng
vì nó giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, có được cơ hội mà các doanh
nghiệp khác không có, tạo thế dẫn đầu. Tín dụng trung dài hạn sẽ giúp doanh
nghiệp thực hiện được điều này. Khi doanh nghiệp đi vay vốn tại ngân hàng
thương mại sẽ có thể được điều chỉnh kỳ hạn nợ, tránh được các chi phí phát
12
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký, Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một
sự phân chia ổn định và hợp lý để doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các
nguồn trả nợ một cách dễ dàng.
1.1.5.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế.
- Tín dụng trung dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều
hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo
chiều sâu. Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu là trung gian tài chính,
tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các đối tượng có
nhu cầu. Ngân hàng thương mại là một kênh truyền dẫn vốn hiệu quả từ nơi thừa
vốn đến nơi thiếu vốn, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung hoạt động liền mạch , không đứt quãng, hiệu quả cao. Những điều này cũng
được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Thông qua cho vay trung
dài hạn mà xây dựng được cơ sở hạ tầng, đổi mới khoa học công nghệ, đấy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng
hóa, đẩy nhanh quá trình chu chuyển tiền tệ.
- Tín dụng trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của
Đảng và Nhà nước ta và tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong vấn đề
này. Đầu tư cho vay trung dài hạn góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo
công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực
lượng lao động, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế
đối ngoại. Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia
không đứng độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và
chịu sự ảnh hưởng nhất định của nó. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một
trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua các hình
thức: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện
trợ, Vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn với sự
phát triển kinh tế quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Đối với
nước ta, vấn đề này là hết sức cấp thiết vì nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp
13
hóa, hiện đại hóa là rất lớn trong khi quá trình sử dụng vốn lại có nhiều bất cập,
hiệu quả thấp, gây thất thoát lãng phí.
1.1.5.2.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động của ngân
hàng.
- Tín dụng trung dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng,
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Các khoản tín dụng trung dài hạn
có đặc điểm số lượng lớn, lãi suất cao, thời gian dài, do vậy nó là hoạt động có
tính chiến lược của ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Từ đó
sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
- Giúp tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Bằng việc
cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã duy trì và tạo ra các khách hàng của
mình trong tương lai. Ngân hàng là ngành có môi trường cạnh tranh gay gắt. Điều
đó bắt buộc mỗi ngân hàng phải không ngừng vận động, đa dạng hóa hoạt động
cho vay, đa dạng hóa khách hàng nếu muốn đứng vững trên thị trường trước sự
cạnh tranh của các ngân hàng khác. Tín dụng trung dài hạn chính là một công cụ
hiệu quả để lôi kéo khách hàng mới về phía mình và giữ chân được các khách
hàng truyền thống.
- Tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn
vốn huy động còn dư thừa tại mỗi ngân hàng thương mại.
1.1.5.3. Nội dung nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn.
1.1.5.3.1. Mục đích cho vay.
Như đã nói ở trên, tín dụng trung dài hạn là các khoản cho vay có thời
hạn trên 1 năm nên nó thường không được dùng để bổ sung vào nguồn vốn lưu
động của doanh nghiệp như tín dụng ngắn(có thời hạn dưới 1 năm) mà để nhằm
đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như mua sắm máy móc thiết bị,
đổi mới trang thiết bị và công nghệ, xây dựng sửa chữa nhà xưởng cơ sở vật chất
kỹ thuật nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, và phát triển trong tương
lai của doanh nghiệp.
1.1.5.3.2. Đối tượng cho vay.
Với mục đích cho vay như trên, đối tượng cho vay của tín dụng trung và
dài hạn là giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân
14
kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng: Trong thời kỳ đầu, các Ngân hàng không tích cực cho
vay đối với các cá nhân, các hộ gia đình vì họ nghĩ rằng những khoản cho vay với
mục đích tiêu dùng này có khả năng vỡ nợ cao. Nhưng hiện nay, với sự gia tăng
của thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã khiến cho
Ngân hàng ngày càng mở rộng hoạt động này và hướng đến người tiêu dùng như
một khách hàng tiềm năng.
- Tài trợ dự án: Đây là hoạt động tài trợ trung, dài hạn: tài trợ xây dựng,
phát triển ngành, đầu tư bất động sản,
* Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố hay
những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật,
thuận tiện. Dịch vụ này phát triển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các
giấy tờ có giá, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ,
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Việc giao dịch, thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút
ngắn thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin đã phát triển một số hình thức thanh toán mới bằng
thẻ, điện,
* Quản lý ngân quỹ.
Quản lý ngân quỹ là việc Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho
một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời vào các chứng
khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh
toán.
* Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận đến các khoản cho vay của Ngân
hàng.Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam
5
kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho
Chính phủ.
* Bảo lãnh.
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân
hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết
bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,
* Cho thuê thiết bị trung dài hạn ( Leasing).
Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy
móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua trong đó Ngân hàng mua thiết bị và
cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100%
giá trị của tài sản cho thuê. Cho thuê thiết bị trung dài hạn cũng được xếp vào tín
dụng trung dài hạn.
* Cung cấp dịch vụ ủy thác, tư vấn.
Nhiều khách hàng coi Ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính vì
trong lĩnh vực tài chính, các Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong quản lý.
Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp các dịch vụ môi giới, đầu tư chứng khoán.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp những rủi ro, mất khả
năng trong thanh toán. Ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm hoặc mở công
ty bảo hiểm con để cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
* Cung cấp các dịch vụ đại lý.aq
Nhiều ngân hàng, thường là những Ngân hàng lớn có chi nhánh rộng khắp,
cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hàng hộ,
làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
6
1.1.3. Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại.
* Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế. Trong thực tế luôn xảy ra trường hợp có những cá nhân và tổ
chức tạm thời thâm hụt trong chi tiêu và có những cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu. Điều tất yếu xảy ra là tiền sẽ chuyển từ nhóm thặng dư sang nhóm
thâm hụt này nếu cả hai bên cùng có lợi. Thu nhập gia tăng là động lực để tạo ra
mối quan hệ giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở
lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ
tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Trung gian tài chính
làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời
làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người đầu tư) từ
đó mà khuyến khích đầu tư. Song, hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó
gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ hạn chế, phân tán rủi ro và
giảm chi phí giao dịch.
Một đóng góp khác nữa của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các
khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho
người gửi tiền. Thực tế là các ngân hàng tham gia việc kinh doanh rủi ro. Ngân
hàng cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị
trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và
kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn các công cụ
và có yếu tố rủi ro- lợi nhuận hấp dẫn nhất.
* Tạo phương tiện thanh toán.
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Trước
đây, các ngân hàng thợ vàng đã tạo được phương tiện thanh toán bằng cách phát
hành các giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều ưu thế, giấy nhận nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữ,
nó trở thành tiền giấy. Việc in tiền mang lại lợi nhuận lớn và với nhu cầu có đồng
7
tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành
vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính, hoặc là Ngân hàng Trung ương.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi
trả để có được hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên
tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hành tăng lên, khách hàng có thể dùng để
mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán. Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện
thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng
khác trên cơ sở cho vay. Trong khi không có một ngân hàng riêng lẻ nào có thể
cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối
lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
* Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất tại các quốc gia hiện
nay. Thay mặt khách hàng của mình, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hóa và dịch vụ. Một số hình thức thanh toán như: séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các
loại thẻ, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng thanh toán bù trừ với nhau thông qua
ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung gian thanh toán. Nhiều hình thức thanh
toán cũng được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán, không
chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn
thế giới.
Trên cơ sở các chức năng trên, ngân hàng có một số dịch vụ sau: nhận
tiền gửi, cho vay, mua bán ngoại tệ, bảo quản tài sản hộ, cung cấp các tài khoản
giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của
Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ ủy thác
và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, cung cấp các
dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý,
Dựa trên những chức năng của mình, Ngân hàng thương mại có những vai
trò như:
- Ngân hàng thương mại tập trung tiền nhàn rỗi trong dân cư và cung ứng
nó cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
8
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán, giúp hoatj
động sản xuất, lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng
- Ngân hàng góp phần quan trọng trong điều tiết thị trường tiền tệ, thị
trường vốn.
- Ngân hàng giúp thu hút và mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, cung cấp
các dịch vụ ngày càng tiện ích đến khách hàng.
1.1.4. Các loại hình tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVI, là một tất yếu khách quan, phù hợp với sự
phát triển của xã hội và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
toàn cầu. Theo định nghĩa: “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau
theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định với một bên là
ngân hàng- một tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các
đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng
vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Có rất nhiều cách để phân chia
tín dụng ngân hàng như phân chia theo thời gian, theo hình thức tài trợ, theo hình
thức đảm bảo, theo rủi ro,
1.1.4.1. Tín dụng chia theo thời gian.
Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng thanh toán của khách hàng. Theo thời gian: tín dụng được chia thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu tài trợ cho
tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm( có ngân hàng quy định là
7 năm), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, cây trồng vật nuôi,
trang thiết bị chống hao mòn.
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm( có ngân hàng là 7 năm) tài trợ
cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc, thiết bị có giá trị
lớn, thường có thời hạn sử dụng lâu.
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại thường cao hơn
tỷ trọng trung dài hạn vì tín dụng trung dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt
hơn và khan hiếm hơn.
9
1.1.4.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ.
- Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay
là tài sản lớn nhất trong các khoản mục tín dụng.
- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng
trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu
nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ.
- Cho thuê: Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng
phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài
chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra nhưng ngân hàng
đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
1.1.4.3. Tín dụng chia theo hình thức đảm bảo.
Có 2 loại: tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo bằng tài
sản thế chấp, cầm cố. Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có
đảm bảo nhưng ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại đảm bảo mà ngân
hàng có thể bán đi thu nợ được nếu khách hàng không trả được nợ. Tín dụng
không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường
là khách hàng làm ăn có lãi thường xuyên, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra
tình trạng nợ nần, dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người
vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không
cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các công ty lớn, các tổ chức tài
chính lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả
năng giám sát việc bán hàng, cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
1.1.4.4. Tín dụng phân loại theo rủi ro.
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục
tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng có rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín
dụng.
10
- Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn,
- Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất
kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì,
1.1.4.5. Phân loại khác.
- Theo ngành kinh tế: Công nghiệp, nông nghiệp,
- Theo đối tượng tín dụng: Tài sản lưu động, tài sản cố định.
- Theo mục đích: sản xuất, tiêu dùng,
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa trong
cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng
phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.1.5. Tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại.
1.1.5.1. Khái niệm.
Theo định nghĩa, tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho
khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất
kinh doanh, phục vụ đời sống.
Tùy theo ở từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định khác nhau
về tín dụng trung và dài hạn. Ở Việt Nam, thời hạn cho vay được xác định phù
hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và
tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay, thời hạn của tín dụng
trung và dài hạn được xác định là những khoản cho vay trên 1 năm. Chúng được
trả bằng những khoản trả vay theo thời gain trong kỳ hạn của khoản vay, được
đảm bảo bằng những tài sản thế chấp, cầm cố. Mục đích của hoạt động tín dụng
trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ
11
thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và
pháp luật quy định.
1.1.5.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.5.2.1. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp.
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng
thị trường là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ngày
càng lớn mạnh, cạnh tranh hơn trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nào
cũng muốn mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường nhưng hoạt động này
cần phải có nguồn vốn lớn và trong thời gian dài, không thể một sớm một chiều
được. Đây là điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được với nguồn vốn
tự có của mình. Do vậy, nhu cầu vốn trung dài hạn để sản xuất kinh doanh là rất
lớn. Có nhiều cách để một doanh nghiệp huy động nguồn vốn trung dài hạn như:
vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu, Song, với những lợi thế đặc thù, tín dụng
trung dài hạn ngân hàng là hình thức được các doanh nghiệp ưu tiên chọn lựa hơn
cả.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Xã hội, nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi
từng ngày cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ. Ứng dụng khoa học
công nghệ kỹ thuật trong sản xuất giúp sản xuất ngày càng mở rộng, giảm giá
thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tín dụng trung dài hạn sẽ
giúp các doanh nghiệp làm được việc đó, giúp doanh nghiệp thích nghi với tình
hình thị trường, với đặc thù của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng trung và dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong
việc thỏa mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị
trường nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ nguồn vốn để chớp lấy
được những cơ hội ấy. Chớp lấy cơ hội kinh doanh là một việc hết sức quan trọng
vì nó giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, có được cơ hội mà các doanh
nghiệp khác không có, tạo thế dẫn đầu. Tín dụng trung dài hạn sẽ giúp doanh
nghiệp thực hiện được điều này. Khi doanh nghiệp đi vay vốn tại ngân hàng
thương mại sẽ có thể được điều chỉnh kỳ hạn nợ, tránh được các chi phí phát
12
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký, Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một
sự phân chia ổn định và hợp lý để doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các
nguồn trả nợ một cách dễ dàng.
1.1.5.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế.
- Tín dụng trung dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều
hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo
chiều sâu. Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu là trung gian tài chính,
tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các đối tượng có
nhu cầu. Ngân hàng thương mại là một kênh truyền dẫn vốn hiệu quả từ nơi thừa
vốn đến nơi thiếu vốn, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung hoạt động liền mạch , không đứt quãng, hiệu quả cao. Những điều này cũng
được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Thông qua cho vay trung
dài hạn mà xây dựng được cơ sở hạ tầng, đổi mới khoa học công nghệ, đấy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng
hóa, đẩy nhanh quá trình chu chuyển tiền tệ.
- Tín dụng trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của
Đảng và Nhà nước ta và tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong vấn đề
này. Đầu tư cho vay trung dài hạn góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo
công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực
lượng lao động, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế
đối ngoại. Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia
không đứng độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và
chịu sự ảnh hưởng nhất định của nó. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một
trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua các hình
thức: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện
trợ, Vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn với sự
phát triển kinh tế quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Đối với
nước ta, vấn đề này là hết sức cấp thiết vì nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp
13
hóa, hiện đại hóa là rất lớn trong khi quá trình sử dụng vốn lại có nhiều bất cập,
hiệu quả thấp, gây thất thoát lãng phí.
1.1.5.2.3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động của ngân
hàng.
- Tín dụng trung dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng,
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Các khoản tín dụng trung dài hạn
có đặc điểm số lượng lớn, lãi suất cao, thời gian dài, do vậy nó là hoạt động có
tính chiến lược của ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Từ đó
sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
- Giúp tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Bằng việc
cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã duy trì và tạo ra các khách hàng của
mình trong tương lai. Ngân hàng là ngành có môi trường cạnh tranh gay gắt. Điều
đó bắt buộc mỗi ngân hàng phải không ngừng vận động, đa dạng hóa hoạt động
cho vay, đa dạng hóa khách hàng nếu muốn đứng vững trên thị trường trước sự
cạnh tranh của các ngân hàng khác. Tín dụng trung dài hạn chính là một công cụ
hiệu quả để lôi kéo khách hàng mới về phía mình và giữ chân được các khách
hàng truyền thống.
- Tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn
vốn huy động còn dư thừa tại mỗi ngân hàng thương mại.
1.1.5.3. Nội dung nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn.
1.1.5.3.1. Mục đích cho vay.
Như đã nói ở trên, tín dụng trung dài hạn là các khoản cho vay có thời
hạn trên 1 năm nên nó thường không được dùng để bổ sung vào nguồn vốn lưu
động của doanh nghiệp như tín dụng ngắn(có thời hạn dưới 1 năm) mà để nhằm
đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như mua sắm máy móc thiết bị,
đổi mới trang thiết bị và công nghệ, xây dựng sửa chữa nhà xưởng cơ sở vật chất
kỹ thuật nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, và phát triển trong tương
lai của doanh nghiệp.
1.1.5.3.2. Đối tượng cho vay.
Với mục đích cho vay như trên, đối tượng cho vay của tín dụng trung và
dài hạn là giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân
14
Một số Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XK Hàng hóa qua biên giới tỉnh Điện biên của sở TM du lịch Điện biên
trong chơng trình tổ chức triển khai xây dựng quy hoạch , kế hoạch ,dự án
theo Nghị quyết 37/2003/NQ-HĐ ngày 20/1/2003 của HĐND tỉnh đến nay
triển khai còn chậm cha có giải pháp , biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản
xuất hàng xuất khẩu của địa phơng . Công tác quản lý nhà nớc về hoạt động
XNK còn nhiều bất cập cha ban hành đợc các chính sách của địa phơng về
hoạt động XNK nh hỗ trợ về vốn , u đãi về đất ,thuế ,thởng sản xuất và xuất
khẩu , chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu Các ngành, huyện , thị
quản lý cha có giải pháp , biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất hàng xuất
khẩu của địa phơng. Quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Tây trang đã đợc phê
duyệt song tiến độ triển khai tổ chức thực hiện xây dựng đầu t vào các hạng
mục công trình còn chậm. Các DN và thơng nhân tham gia hoạt động kinh
doanh XNK của tỉnh mới chủ yếu buôn bán nhỏ nhất thời , cha năng động và
tạo ra đợc bạn hàng và thị trờng hợp tác lâu dài và quan tâm đến hoạt động
XNK. Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu của các tổ chức ,doanh nghiệp cha đ-
ợc quan tâm .Công tác thông tin xúc tiến thơng mại , tìm kiếm thị trờng bạn
hàng xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia hội chợ ,
triển lãm , quảng bá còn rất hạn chế . Xuất phát từ những đặc điểm đó là một
sinh viên chuyên ngành thơng mại quốc tế em quyết định chọn đề tài :" Một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá tỉnh Điện
Biên của sở Thơng mại - du lịch Điện Biên". Qua đề tài em muốn hiểu biết
nhiều hơn về tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá của địa phơng từ đó tích luỹ
kiến thức phục vụ cho công tác sau này, đồng thời trong phạm vi hiểu biết
của mình đa ra một số giải pháp với mục đích đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá cũng nh sự phát triển kinh tế xã hội của địa phơng.
Đề tài: một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng
hoá qua biên giới tỉnh điện biên của sở thơng mại du lịch điện biên
Đề tài của em đợc chia thành 3 chơng, chơng I: Cơ sở lý luận của đề
tài trình bày một số khái niệm và ý nghĩa của hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hoá với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên, chơng II: thực trạng
5
xúc tiến xuất khẩu qua biên giới tỉnh Điện Biên, chơng III: một số giải pháp
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Điện Biên. Trong quá trình thực
hiện, do thời gian hạn chế và trình độ hiểu biết thực tiễn còn hạn chế nên đề
tài của em chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, em mong nhận
đợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo để đề tài của em hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sĩ Dơng Thị Ngân
đã giúp đỡ em thực hiện thành công đề tài này.
chơng I: cơ sở lý luận của đề tài
I. Một số vấn đề lý luận về xúc tiến hoạt động xuất khẩu:
1. Khái niệm xúc tiến:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về xúc tiến, trong luật thơng mại hoạt
động xúc tiến đợc hiểu là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán
hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại.
Từ định nghĩa trên đây có thể suy rộng ra xúc tiến xuất khẩu là hoạt động
nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nớc ngoài.
2. Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu:
- Thu thập thông tin về thị trờng xuất khẩu hàng hoá, đây là hoạt động đầu
tiên rất quan trọng vì chỉ khi biết đợc nhu cầu thị trờng, giá cả hàng hoá ở thị
trờng, các thông tin về doanh nghiệp trên thị trờng xuất khẩu ta mới có thể đa
ra chiến lợc mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trờng xuất khẩu.
- Tham gia các hội chợ quốc tế để có thể tiếp thị sản phẩm hàng hoá của
mình đến khách hàng nớc ngoài và có cơ hội ký kết các hợp đồng xuất khẩu
sang những thị trờng mới.
- Tổ chức các cuộc hội thảo khoa học nhằm bàn bạc tìm ra những biện pháp
hiệu quả để tăng xuất khẩu hàng hoá.
6
- Mở các văn phòng đại diện ở nớc ngoài để tạo đầu mối phân phối sản phẩm,
thực hiện những giao dịch thơng mại với thị trờng nớc ngoài một cách thuận
tiện hơn, đồng thời tạo đợc niềm tin, sự yên tâm trên thị trờng xuất khẩu.
- Thơng mại điện tử: Đây là công cụ xúc tiến đợc sử dụng nhiều nhất hiện
nay với chi phi rẻ và tầm ảnh hởng rộng khắp thhé giới.
II. Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên:
1. Thúc đẩy nhịp độ tăng trởng kinh tế của tỉnh:
Dới tác động của giao lu hàng hoá qua biên giới cơ cấu kinh tế tỉnh
Điện Biên sẽ có sự chuyển đổi theo hớng phát triển các ngành dịch vụ, du
lịch, thơng mại, ngân hàng, vận tải, bu điện, kích thích các ngành kinh
tế phát triển theo hớng thị trờng, tăng nhanh các sản phẩm công nghiệp,
nông lâm nghiệp phục vụ cho sản xuất.
Sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới cùng với sự phân
công lao động và thơng mại nội địa sẽ tạo ra những đầu mối quan trọng về
luồng hàng hoá, tiền tệ và giao thông. Đồng thời sự phát triển của hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ làm hình thành các trung
tâm thơng mại quốc tế, các trung tâm xúc tiến thơng mại.
Hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới của tỉnh Điện Biên
mới chỉ là những thơng vụ nhỏ lẻ chủ yếu do thơng nhân địa phơng thực
hiện. Khi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới đợc đẩy mạnh
hàng hoá lu thông sẽ diễn ra với khối lợng lớn hơn và thờng xuyên hơn từ
đó sẽ làm hình thành nhiều dịch vụ hỗ trợ nh dịch vụ vận tải, kho hàng,
ngân hàng, khách sạn nhà hàng, Sự hình thành nhiều ngành nghề mới sẽ
tác động tới nhịp độ tăng trởng kinh tế của tỉnh theo hớng ngày càng phát
triển vững chắc.
2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Giao lu hàng hoá qua biên giới tác động đến nhiều mặt đời sống xã hội
của tỉnh Điện Biên, tạo điều kiện để tỉnh đạt đợc các mục tiêu kinh tế xã
7
hội. Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn,
với sự phát triển của hoạt đông xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ
thúc đẩy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hớng nâng cao tỷ trọng
ngành dịch vụ. Việc tăng cờng hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tiêu thụ những hàng hoá mà tỉnh đang khó khăn trong
việc tìm đầu ra cho sản phẩm, bên cạnh đó cũng có thể nhập về những
hàng hoá phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà bên Điện Biên khan hiếm
ví dụ nh nguyên liệu cho chế biến gỗ xuất khẩu ta có thể nhập từ các tỉnh
bắc Lào. Cùng với sự phát triển của xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới hệ thống các chợ biên giới dọc theo đờng biên sẽ thu hút nhiều lao
động tham gia buôn bán từ đó nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh.
3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển:
3.1. Thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất nông lâm nghiệp:
Điện Biên có đờng biên giới với Trung Quốc mà đây là một nớc lớn
với những thành tựu đáng nể trong lĩnh vực nông nghiệp nh việc tạo ra
giống lúa lai có năng xuất cao, có nhiều kinh nghiệm trong khôi phục
rừng. Những thành tựu đó của nền nông nghiệp Trung Quốc là một cơ hội
tốt để Điện Biên phát triển ngành nông nghiệp, hiện nay có nhiều giống
nông nghiệp của họ đã đợc áp dụng tại Điện Biên nh giống lúa lai, các
loại giống rau, Nhiều loại vật t phục vụ cho nông nghiệp nh máy bơm,
thức ăn gia súc, gia cầm, thuốc thú y và nhiều loại vật t khác. Vì vậy tỉnh
cần phải có chiến lợc hợp tác lâu dài với Trung Quốc trong lĩnh vực này.
3.2. Thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp và xây dựng:
Trung Quốc có thế mạnh về các loại máy móc vì thế đây là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh đặc biệt là trong lĩnh vực
khai khoáng, công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và chế biến thức
ăn gia súc. Tuy chất lợng máy móc thiết bị của Trung Quốc hiện nay còn
có nhiều d luận không tốt xong nếu nhận xét một cách khách quan và tính
8
toán đến hiệu quả kinh tế khi sử dụng thì tính khả thi khi nhập máy móc
thiết bị từ nớc này vào Điện Biên là rất lớn vì điều kiện kinh tế xã hội của
tỉnh còn nhiều khó khăn.
3.3. Thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng vùng biên giới:
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phát triển sẽ kéo
theo sự phát triển của nhiều ngành đặc biệt là xây dựng cơ bản và giao
thông vận tải. Hàng hoá chu chuyển nhiều thì hệ thống đờng giao thông
sẽ đợc đầu t mở rộng, hệ thống chợ biên giới sẽ đợc đầu t xây mời hoặc
nâng cấp và kéo theo đó là sự hình thành các kho hàng ở các cửa khẩu,
khu kinh tế cửa khẩu từ đó cũng sẽ đợc đầu t với cơ sở vật chất khang
trang hơn.
3.4. Thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển:
Khi xuất khẩu hàng hoá đợc đẩy mạnh các thủ tục xuất nhập khẩu xuất
nhập cảnh có nhu cầu phải đơn giản hoá khi đó việc đi lại qua đờng biên
giới sẽ dễ dàng hơn từ đó tạo ra sức hút với khách du lịch từ nớc bạn sang
thăm quan và nghỉ mát.
4. Cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh:
Phát triển các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới tạo ra
nhiều ngành nghề mới góp phần giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập nhiều
hơn cho nhân dân. Một mặt nhân dân có thể tiêu thụ đợc hàng hoá mà
mình sản xuất ra mặt khác có thể tiêu dùng những hàng hoá đợc sản xuất
từ nớc bạn với lợi ích kinh tế cao hơn so với tiêu dùng hàng hoá từ trong
nớc sản xuất ở một số mặt hàng. Cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng
vùng biên giới nh giao thông vận tải, thông tin liên lạc tạo ra điều kiện
cho nhân dân các vùng giao lu hàng hoá một cách thuận tiện hơn, sóng
phát thanh truyền hình vơn tới những vùng biên tạo cho nhân dân đời
sống tinh thần tốt hơn.
5. Tăng cờng hợp tác với các nớc:
9
Sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu
biên giới có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự giao lu kinh tế văn hoá
giữa tỉnh Điện Biên với các tỉnh bắc Lào và Trung Quốc. Các văn bản hợp
tác và các văn phòng đại diện của mỗi bên nằm ở nớc bạn cũng nh sự qua
lại buôn bán của nhân dân dọc theo vùng biên giới của mỗi nớc tạo ra sự
giao lu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau của các bên.
Chơng II: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu qua biên
giới tỉnh Điện Biên
I. Khái quát về sở thơng mại - du lịch Điện Biên:
1. Quá trình hình thành và phát triển
Sở thơng mại- du lịch Điện Biên trớc đây là sở thơng mại- du lịch Lai
Châu đợc chính thức thành lập từ năm 1963 khi tỉnh Lai Châu đợc tách ra
từ khu tự trị Tây bắc và tái thành lập tỉnh Lai Châu. Trải qua 41 năm hình
thành và phát triển đến đầu năm 2004 do yêu cầu quản lý tỉnh Lai Châu đ-
ợc tách ra thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, từ đây sở thơng mại và
du lịch Điện Biên cũng chính thức đợc thành lập với 66 cán bộ công chức
viên chức, cơ cấu bộ máy tổ chức của sở thơng mại-du lịch Điện Biên bao
gồm một giám đốc, một phó giám đốc, một chi cục, một trung tâm xúc
tiến, 5 phòng chức năng và các doanh nghiệp trực thuộc, cơ cấu bộ máy
của sở đợc thể hiện rõ hơn qua sơ đồ 1.
10
11
Ban giám đốc Sở
Chi cục quản
lý thị trờng
Các phòng
chức năng
Trung tâm
xúc tiến th-
ơng mại
Các doanh
nghiệp thuộc
sở
Đội quản lý thị trường số 1
Đội quản lý thị trường số 2
Đội quản lý thị trường số 3
Đội quản lý thị trường số 4
Đội quản lý thị trường lưu động
Phòng tài chính hành chính
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng chính sách thương mại
Phòng du lịch
Thanh tra sở
Công ty
thơng
nghiệp
Tủa
Chùa
Công ty
thơng
nghiệp
Mờng
Lay
Công ty
thơng
nghiệp
Tuần
Giáo
Công ty
thơng
nghiệp
Điện
Biên
Công ty
du lịch
tổng
hợp tỉnh
Công ty
thơng
nghiệp
tổng
hợp tỉnh
Sơ đồ 1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của sở thơng mại- du lịch Điện Biên
2. Các lĩnh vực hoạt động của sở thơng mại-du lịch Điện Biên:
- Sở thơng mại và du lịch Điện Biên có chức năng tham mu và giúp UBND
tỉnh Điện Biên quản lý nhà nớc về thơng mại và dịch vụ thơng mại trên địa
bàn tỉnh bao gồm các lĩnh vực lu thông hàng hóa trong nớc và xuất khẩu,
nhập khẩu; xúc tiến thơng mại; cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá
giá; bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng; quản lý thị trờng; hội nhập kinh tế - th-
ơng mại quốc tế; quản lý nhà nớc về các hoạt động thơng mại trên địa bàn
tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định của Tổng cục du lịch và các bộ, ngành có liên quan
về quản lý nhà nớc các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Trình UBND tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị về các lĩnh vực quản lý
nhà nớc của Sở theo quy định của pháp luật.
- Trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển, kế hoạc năm năm và
hàng năm, các chơng trình, dự án về các lĩnh vực quan trọng thuộc phạm vi
quản lý nhà nớc của Sở phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của
địa phơng.
- Tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá và tổng hợp tình hình thực hiện các văn
bản quy định của pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chơng trình, dự án về thơng
mại đã đợc phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nớc về thơng mại của Sở.
12
- Thực hiện việc đăng ký thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh ở nớc
ngoài cho thơng nhân họat động có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh, thực hiện
đăng ký hoạt động theo đăng ký của văn phòng đại diện, chi nhánh của thơng
nhân nớc ngoài trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Quản lý lu thông hàng hóa trong nớc:
+ Tổ chức, hớng dẫn, kiểm tra thực hiện các cơ chế, chính sách lu thông
hàng hóa và dịch vụ thơng mại bao gồm: chính sách mặt hàng, chính sách th-
ơng nhân, chính sách thơng mại đối với miền núi, dân tộc ; kiểm tra theo
dõi diễn biến thị trờng, cung cấp thông tin và đề xuất giải pháp điều tiết lu
thông hàng hóa trong từng thời kỳ, bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định giá
cả, thị trờng phát triển lành mạnh, phục vụ đời sống nhân dân địa phơng;
+ Xây dựng trình UBND tỉnh phê duyệt các quy hoạch, cơ chế, chính sách
phát triển mạng lới kết cấu hạ tầng thơng mại gồm: các loại hình chợ, các
trung tâm thơng mại, hệ thống các siêu thị, hệ thống cửa hàng kinh doanh
xăng dầu, hợp tác xã thơng mại, dịch vụ thơng mại, hệ thống đại lý thơng
mại và các loại hình kết cấu hạ tầng thơng mại khác; hớng dẫn thực hiện khi
đợc cấp thẩm quyền phê duyệt;
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt cơ chế, chính sách thơng nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế mở rộng mạng lới kinh doanh, phát triển các
mối quan hệ kinh tế trong quá trình lu thông, giữa lu thông với sản xuất, hình
thành các kênh lu thông hàng hóa ổn định từ sản xuất đến tiêu dùng ở địa ph-
ơng;
+ Tổng hợp và xử lý các thông tin về thị trờng trên địa bàn tỉnh về tổng mức
lu chuyển hàng hóa, tổng cung, tổng cầu, mức dự trữ lu thông và biến động
giá cả của các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng chính sách đối với đồng bào
miền núi;
+ Tổ chức và quản lý việc cấp các loại giấy phép chứng nhận về hàng hóa lu
thông trong nớc, dịch vụ thơng mại và các hoạt động kinh doanh thơng mại
của các thơng nhân trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
13
- Quản lý xuất khẩu, nhập khẩu:
+ Hớng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sách về xuất nhập
khẩu hàng hóa và buôn bán qua biên giới của thơng nhân trên địa bàn tỉnh;
+ Duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài trên địa bàn tỉnh theo sự ủy quyền của bộ thơng mại;
+ Theo dõi, tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện và kiến nghị sửa đổi cơ
chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp.
- Xúc tiến thơng mại:
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, chơng
trình, dự án, đề án, cơ chế chính sách về xúc tiến thơng mại, xây dựng và
phát triển thơng hiệu hàng Việt Nam trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo, hớng dẫn tổ
chức thực hiện khi đợc ban hành;
+ Xem xét, giải quyết việc thơng nhân tổ chức hoạt động khuyến mại dới
các hình thức theo quy định; thực hiện việc đăng ký tổ chức hội chợ, triển
lãm thơng mại cho các thơng nhân sản xuất, kinh doanh trực tiếp tổ chức hội
chợ trên địa bàn tỉnh; duyệt kế hoạch tổ chức hội chợ, triển lãm trên địa bàn
tỉnh cho thơng nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thơng mại;
+ Thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp các thông tin thơng mại phục vụ
cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Giám sát, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các
quy định về quảng cáo thơng mại, hội chợ, triển lãm thơng mại, khuyến mại,
giới thiệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh;
- Về cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá giá và bảo vệ quyền lợi
ngời tiêu dùng:
+ Trình UBND tỉnh phê duyệt các chơng trình, kế hoạch thực hiện các quy
định của pháp luật nhằm đảm bảo môi trờng cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ
ngời tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; hớng dẫn, tổ chức và kiểm tra thực hiện khi
đợc phê duyệt;
14
theo Nghị quyết 37/2003/NQ-HĐ ngày 20/1/2003 của HĐND tỉnh đến nay
triển khai còn chậm cha có giải pháp , biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản
xuất hàng xuất khẩu của địa phơng . Công tác quản lý nhà nớc về hoạt động
XNK còn nhiều bất cập cha ban hành đợc các chính sách của địa phơng về
hoạt động XNK nh hỗ trợ về vốn , u đãi về đất ,thuế ,thởng sản xuất và xuất
khẩu , chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu Các ngành, huyện , thị
quản lý cha có giải pháp , biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất hàng xuất
khẩu của địa phơng. Quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Tây trang đã đợc phê
duyệt song tiến độ triển khai tổ chức thực hiện xây dựng đầu t vào các hạng
mục công trình còn chậm. Các DN và thơng nhân tham gia hoạt động kinh
doanh XNK của tỉnh mới chủ yếu buôn bán nhỏ nhất thời , cha năng động và
tạo ra đợc bạn hàng và thị trờng hợp tác lâu dài và quan tâm đến hoạt động
XNK. Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu của các tổ chức ,doanh nghiệp cha đ-
ợc quan tâm .Công tác thông tin xúc tiến thơng mại , tìm kiếm thị trờng bạn
hàng xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia hội chợ ,
triển lãm , quảng bá còn rất hạn chế . Xuất phát từ những đặc điểm đó là một
sinh viên chuyên ngành thơng mại quốc tế em quyết định chọn đề tài :" Một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá tỉnh Điện
Biên của sở Thơng mại - du lịch Điện Biên". Qua đề tài em muốn hiểu biết
nhiều hơn về tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá của địa phơng từ đó tích luỹ
kiến thức phục vụ cho công tác sau này, đồng thời trong phạm vi hiểu biết
của mình đa ra một số giải pháp với mục đích đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá cũng nh sự phát triển kinh tế xã hội của địa phơng.
Đề tài: một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng
hoá qua biên giới tỉnh điện biên của sở thơng mại du lịch điện biên
Đề tài của em đợc chia thành 3 chơng, chơng I: Cơ sở lý luận của đề
tài trình bày một số khái niệm và ý nghĩa của hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hoá với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên, chơng II: thực trạng
5
xúc tiến xuất khẩu qua biên giới tỉnh Điện Biên, chơng III: một số giải pháp
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Điện Biên. Trong quá trình thực
hiện, do thời gian hạn chế và trình độ hiểu biết thực tiễn còn hạn chế nên đề
tài của em chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, em mong nhận
đợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo để đề tài của em hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sĩ Dơng Thị Ngân
đã giúp đỡ em thực hiện thành công đề tài này.
chơng I: cơ sở lý luận của đề tài
I. Một số vấn đề lý luận về xúc tiến hoạt động xuất khẩu:
1. Khái niệm xúc tiến:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về xúc tiến, trong luật thơng mại hoạt
động xúc tiến đợc hiểu là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán
hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại.
Từ định nghĩa trên đây có thể suy rộng ra xúc tiến xuất khẩu là hoạt động
nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nớc ngoài.
2. Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu:
- Thu thập thông tin về thị trờng xuất khẩu hàng hoá, đây là hoạt động đầu
tiên rất quan trọng vì chỉ khi biết đợc nhu cầu thị trờng, giá cả hàng hoá ở thị
trờng, các thông tin về doanh nghiệp trên thị trờng xuất khẩu ta mới có thể đa
ra chiến lợc mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trờng xuất khẩu.
- Tham gia các hội chợ quốc tế để có thể tiếp thị sản phẩm hàng hoá của
mình đến khách hàng nớc ngoài và có cơ hội ký kết các hợp đồng xuất khẩu
sang những thị trờng mới.
- Tổ chức các cuộc hội thảo khoa học nhằm bàn bạc tìm ra những biện pháp
hiệu quả để tăng xuất khẩu hàng hoá.
6
- Mở các văn phòng đại diện ở nớc ngoài để tạo đầu mối phân phối sản phẩm,
thực hiện những giao dịch thơng mại với thị trờng nớc ngoài một cách thuận
tiện hơn, đồng thời tạo đợc niềm tin, sự yên tâm trên thị trờng xuất khẩu.
- Thơng mại điện tử: Đây là công cụ xúc tiến đợc sử dụng nhiều nhất hiện
nay với chi phi rẻ và tầm ảnh hởng rộng khắp thhé giới.
II. Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên:
1. Thúc đẩy nhịp độ tăng trởng kinh tế của tỉnh:
Dới tác động của giao lu hàng hoá qua biên giới cơ cấu kinh tế tỉnh
Điện Biên sẽ có sự chuyển đổi theo hớng phát triển các ngành dịch vụ, du
lịch, thơng mại, ngân hàng, vận tải, bu điện, kích thích các ngành kinh
tế phát triển theo hớng thị trờng, tăng nhanh các sản phẩm công nghiệp,
nông lâm nghiệp phục vụ cho sản xuất.
Sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới cùng với sự phân
công lao động và thơng mại nội địa sẽ tạo ra những đầu mối quan trọng về
luồng hàng hoá, tiền tệ và giao thông. Đồng thời sự phát triển của hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ làm hình thành các trung
tâm thơng mại quốc tế, các trung tâm xúc tiến thơng mại.
Hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới của tỉnh Điện Biên
mới chỉ là những thơng vụ nhỏ lẻ chủ yếu do thơng nhân địa phơng thực
hiện. Khi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới đợc đẩy mạnh
hàng hoá lu thông sẽ diễn ra với khối lợng lớn hơn và thờng xuyên hơn từ
đó sẽ làm hình thành nhiều dịch vụ hỗ trợ nh dịch vụ vận tải, kho hàng,
ngân hàng, khách sạn nhà hàng, Sự hình thành nhiều ngành nghề mới sẽ
tác động tới nhịp độ tăng trởng kinh tế của tỉnh theo hớng ngày càng phát
triển vững chắc.
2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Giao lu hàng hoá qua biên giới tác động đến nhiều mặt đời sống xã hội
của tỉnh Điện Biên, tạo điều kiện để tỉnh đạt đợc các mục tiêu kinh tế xã
7
hội. Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn,
với sự phát triển của hoạt đông xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ
thúc đẩy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hớng nâng cao tỷ trọng
ngành dịch vụ. Việc tăng cờng hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tiêu thụ những hàng hoá mà tỉnh đang khó khăn trong
việc tìm đầu ra cho sản phẩm, bên cạnh đó cũng có thể nhập về những
hàng hoá phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà bên Điện Biên khan hiếm
ví dụ nh nguyên liệu cho chế biến gỗ xuất khẩu ta có thể nhập từ các tỉnh
bắc Lào. Cùng với sự phát triển của xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên
giới hệ thống các chợ biên giới dọc theo đờng biên sẽ thu hút nhiều lao
động tham gia buôn bán từ đó nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh.
3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển:
3.1. Thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất nông lâm nghiệp:
Điện Biên có đờng biên giới với Trung Quốc mà đây là một nớc lớn
với những thành tựu đáng nể trong lĩnh vực nông nghiệp nh việc tạo ra
giống lúa lai có năng xuất cao, có nhiều kinh nghiệm trong khôi phục
rừng. Những thành tựu đó của nền nông nghiệp Trung Quốc là một cơ hội
tốt để Điện Biên phát triển ngành nông nghiệp, hiện nay có nhiều giống
nông nghiệp của họ đã đợc áp dụng tại Điện Biên nh giống lúa lai, các
loại giống rau, Nhiều loại vật t phục vụ cho nông nghiệp nh máy bơm,
thức ăn gia súc, gia cầm, thuốc thú y và nhiều loại vật t khác. Vì vậy tỉnh
cần phải có chiến lợc hợp tác lâu dài với Trung Quốc trong lĩnh vực này.
3.2. Thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp và xây dựng:
Trung Quốc có thế mạnh về các loại máy móc vì thế đây là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh đặc biệt là trong lĩnh vực
khai khoáng, công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và chế biến thức
ăn gia súc. Tuy chất lợng máy móc thiết bị của Trung Quốc hiện nay còn
có nhiều d luận không tốt xong nếu nhận xét một cách khách quan và tính
8
toán đến hiệu quả kinh tế khi sử dụng thì tính khả thi khi nhập máy móc
thiết bị từ nớc này vào Điện Biên là rất lớn vì điều kiện kinh tế xã hội của
tỉnh còn nhiều khó khăn.
3.3. Thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng vùng biên giới:
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phát triển sẽ kéo
theo sự phát triển của nhiều ngành đặc biệt là xây dựng cơ bản và giao
thông vận tải. Hàng hoá chu chuyển nhiều thì hệ thống đờng giao thông
sẽ đợc đầu t mở rộng, hệ thống chợ biên giới sẽ đợc đầu t xây mời hoặc
nâng cấp và kéo theo đó là sự hình thành các kho hàng ở các cửa khẩu,
khu kinh tế cửa khẩu từ đó cũng sẽ đợc đầu t với cơ sở vật chất khang
trang hơn.
3.4. Thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển:
Khi xuất khẩu hàng hoá đợc đẩy mạnh các thủ tục xuất nhập khẩu xuất
nhập cảnh có nhu cầu phải đơn giản hoá khi đó việc đi lại qua đờng biên
giới sẽ dễ dàng hơn từ đó tạo ra sức hút với khách du lịch từ nớc bạn sang
thăm quan và nghỉ mát.
4. Cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh:
Phát triển các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới tạo ra
nhiều ngành nghề mới góp phần giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập nhiều
hơn cho nhân dân. Một mặt nhân dân có thể tiêu thụ đợc hàng hoá mà
mình sản xuất ra mặt khác có thể tiêu dùng những hàng hoá đợc sản xuất
từ nớc bạn với lợi ích kinh tế cao hơn so với tiêu dùng hàng hoá từ trong
nớc sản xuất ở một số mặt hàng. Cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng
vùng biên giới nh giao thông vận tải, thông tin liên lạc tạo ra điều kiện
cho nhân dân các vùng giao lu hàng hoá một cách thuận tiện hơn, sóng
phát thanh truyền hình vơn tới những vùng biên tạo cho nhân dân đời
sống tinh thần tốt hơn.
5. Tăng cờng hợp tác với các nớc:
9
Sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu
biên giới có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự giao lu kinh tế văn hoá
giữa tỉnh Điện Biên với các tỉnh bắc Lào và Trung Quốc. Các văn bản hợp
tác và các văn phòng đại diện của mỗi bên nằm ở nớc bạn cũng nh sự qua
lại buôn bán của nhân dân dọc theo vùng biên giới của mỗi nớc tạo ra sự
giao lu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau của các bên.
Chơng II: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu qua biên
giới tỉnh Điện Biên
I. Khái quát về sở thơng mại - du lịch Điện Biên:
1. Quá trình hình thành và phát triển
Sở thơng mại- du lịch Điện Biên trớc đây là sở thơng mại- du lịch Lai
Châu đợc chính thức thành lập từ năm 1963 khi tỉnh Lai Châu đợc tách ra
từ khu tự trị Tây bắc và tái thành lập tỉnh Lai Châu. Trải qua 41 năm hình
thành và phát triển đến đầu năm 2004 do yêu cầu quản lý tỉnh Lai Châu đ-
ợc tách ra thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, từ đây sở thơng mại và
du lịch Điện Biên cũng chính thức đợc thành lập với 66 cán bộ công chức
viên chức, cơ cấu bộ máy tổ chức của sở thơng mại-du lịch Điện Biên bao
gồm một giám đốc, một phó giám đốc, một chi cục, một trung tâm xúc
tiến, 5 phòng chức năng và các doanh nghiệp trực thuộc, cơ cấu bộ máy
của sở đợc thể hiện rõ hơn qua sơ đồ 1.
10
11
Ban giám đốc Sở
Chi cục quản
lý thị trờng
Các phòng
chức năng
Trung tâm
xúc tiến th-
ơng mại
Các doanh
nghiệp thuộc
sở
Đội quản lý thị trường số 1
Đội quản lý thị trường số 2
Đội quản lý thị trường số 3
Đội quản lý thị trường số 4
Đội quản lý thị trường lưu động
Phòng tài chính hành chính
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng chính sách thương mại
Phòng du lịch
Thanh tra sở
Công ty
thơng
nghiệp
Tủa
Chùa
Công ty
thơng
nghiệp
Mờng
Lay
Công ty
thơng
nghiệp
Tuần
Giáo
Công ty
thơng
nghiệp
Điện
Biên
Công ty
du lịch
tổng
hợp tỉnh
Công ty
thơng
nghiệp
tổng
hợp tỉnh
Sơ đồ 1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của sở thơng mại- du lịch Điện Biên
2. Các lĩnh vực hoạt động của sở thơng mại-du lịch Điện Biên:
- Sở thơng mại và du lịch Điện Biên có chức năng tham mu và giúp UBND
tỉnh Điện Biên quản lý nhà nớc về thơng mại và dịch vụ thơng mại trên địa
bàn tỉnh bao gồm các lĩnh vực lu thông hàng hóa trong nớc và xuất khẩu,
nhập khẩu; xúc tiến thơng mại; cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá
giá; bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng; quản lý thị trờng; hội nhập kinh tế - th-
ơng mại quốc tế; quản lý nhà nớc về các hoạt động thơng mại trên địa bàn
tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định của Tổng cục du lịch và các bộ, ngành có liên quan
về quản lý nhà nớc các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Trình UBND tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị về các lĩnh vực quản lý
nhà nớc của Sở theo quy định của pháp luật.
- Trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển, kế hoạc năm năm và
hàng năm, các chơng trình, dự án về các lĩnh vực quan trọng thuộc phạm vi
quản lý nhà nớc của Sở phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của
địa phơng.
- Tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá và tổng hợp tình hình thực hiện các văn
bản quy định của pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chơng trình, dự án về thơng
mại đã đợc phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nớc về thơng mại của Sở.
12
- Thực hiện việc đăng ký thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh ở nớc
ngoài cho thơng nhân họat động có trụ sở chính trên địa bàn tỉnh, thực hiện
đăng ký hoạt động theo đăng ký của văn phòng đại diện, chi nhánh của thơng
nhân nớc ngoài trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Quản lý lu thông hàng hóa trong nớc:
+ Tổ chức, hớng dẫn, kiểm tra thực hiện các cơ chế, chính sách lu thông
hàng hóa và dịch vụ thơng mại bao gồm: chính sách mặt hàng, chính sách th-
ơng nhân, chính sách thơng mại đối với miền núi, dân tộc ; kiểm tra theo
dõi diễn biến thị trờng, cung cấp thông tin và đề xuất giải pháp điều tiết lu
thông hàng hóa trong từng thời kỳ, bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định giá
cả, thị trờng phát triển lành mạnh, phục vụ đời sống nhân dân địa phơng;
+ Xây dựng trình UBND tỉnh phê duyệt các quy hoạch, cơ chế, chính sách
phát triển mạng lới kết cấu hạ tầng thơng mại gồm: các loại hình chợ, các
trung tâm thơng mại, hệ thống các siêu thị, hệ thống cửa hàng kinh doanh
xăng dầu, hợp tác xã thơng mại, dịch vụ thơng mại, hệ thống đại lý thơng
mại và các loại hình kết cấu hạ tầng thơng mại khác; hớng dẫn thực hiện khi
đợc cấp thẩm quyền phê duyệt;
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt cơ chế, chính sách thơng nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế mở rộng mạng lới kinh doanh, phát triển các
mối quan hệ kinh tế trong quá trình lu thông, giữa lu thông với sản xuất, hình
thành các kênh lu thông hàng hóa ổn định từ sản xuất đến tiêu dùng ở địa ph-
ơng;
+ Tổng hợp và xử lý các thông tin về thị trờng trên địa bàn tỉnh về tổng mức
lu chuyển hàng hóa, tổng cung, tổng cầu, mức dự trữ lu thông và biến động
giá cả của các mặt hàng thiết yếu, các mặt hàng chính sách đối với đồng bào
miền núi;
+ Tổ chức và quản lý việc cấp các loại giấy phép chứng nhận về hàng hóa lu
thông trong nớc, dịch vụ thơng mại và các hoạt động kinh doanh thơng mại
của các thơng nhân trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
13
- Quản lý xuất khẩu, nhập khẩu:
+ Hớng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sách về xuất nhập
khẩu hàng hóa và buôn bán qua biên giới của thơng nhân trên địa bàn tỉnh;
+ Duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài trên địa bàn tỉnh theo sự ủy quyền của bộ thơng mại;
+ Theo dõi, tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện và kiến nghị sửa đổi cơ
chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp.
- Xúc tiến thơng mại:
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, chơng
trình, dự án, đề án, cơ chế chính sách về xúc tiến thơng mại, xây dựng và
phát triển thơng hiệu hàng Việt Nam trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo, hớng dẫn tổ
chức thực hiện khi đợc ban hành;
+ Xem xét, giải quyết việc thơng nhân tổ chức hoạt động khuyến mại dới
các hình thức theo quy định; thực hiện việc đăng ký tổ chức hội chợ, triển
lãm thơng mại cho các thơng nhân sản xuất, kinh doanh trực tiếp tổ chức hội
chợ trên địa bàn tỉnh; duyệt kế hoạch tổ chức hội chợ, triển lãm trên địa bàn
tỉnh cho thơng nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thơng mại;
+ Thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp các thông tin thơng mại phục vụ
cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Giám sát, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các
quy định về quảng cáo thơng mại, hội chợ, triển lãm thơng mại, khuyến mại,
giới thiệu hàng hóa trên địa bàn tỉnh;
- Về cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá giá và bảo vệ quyền lợi
ngời tiêu dùng:
+ Trình UBND tỉnh phê duyệt các chơng trình, kế hoạch thực hiện các quy
định của pháp luật nhằm đảm bảo môi trờng cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ
ngời tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; hớng dẫn, tổ chức và kiểm tra thực hiện khi
đợc phê duyệt;
14
Kế toán Vật liệu và công cụ, dụng cụ công ty thiết bị đo điện
5
Tổ chức hạch toán NVL, CCDC
Tổ chức hệ thống chứng từ
Tổ chức công tác kiểm kê NVL, CCDC
Tổ chức hạch
toán chi tiết
NVL, CCDC
Tổ chức hạch
toán tổng hợp
NVL, CCDC
Lựa chọn hình thức
sổ kế toán tổng hợp
Lựa chọn phương
pháp hạch toán
chi tiết thích hợp
- PP thẻ song song
- PP sổ đối chiếu
luân chuyển
- PP sổ số dư
Lựa chọn phương
pháp hạch toán
- Phương pháp
kiểm kê định kỳ
- Phương pháp kê
khai
thường xuyên
Ghi sổ chi tiết
NVL, CCDC
Xây dựng hệ thống
tài khoản kế toán
Ghi sổ kế toán tổng hợp
1-/ Phân loại nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu thờng có nhiều chủng loại, có vai
trò, công dụng, tính chất lý, hoá khác nhau và thờng xuyên biến động tăng giảm
trong qúa trình sản xuất kinh doanh. Để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán
vật liệu doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vật liệu.
Phân loại vật liệu là việc sắp xếp vật liệu thành từng nhóm theo các tiêu thức
khác nhau. Yêu cầu của phân loại vật liệu là phải khoa học, hợp lý phù hợp với
đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và phải đáp ứng yêu cầu của công tác quản
lý và hạch toán vật liệu.
Các phơng pháp phân loại vật liệu gồm.
1.1 Phân loại theo vai trò và công dụng của vật liệu trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên vật liệu mà sau khi gia công,
chế biến sẽ thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm
mua vào).
- Nguyên vật liệu phụ: là những loại nguyên vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ
trong sản xuất, đợc sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi màu
sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các t liệu
lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo,
thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, hơng liệu )
- Nhiên liệu: là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lợng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh nh than, củi, xăng dầu, khí đốt
- Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho
máy móc, thiết bị phơng tiện vận tải
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ ) mà doanh nghiệp mua vào nhằm
mục đích đầu t chi xây dựng cơ bản.
6
- Phí liệu: là các loại vật liệu thu đợc trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi báo, vải vụn ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng chủng loại vật liệu trong quá
trình tạo ra sản phẩm vf là cơ sở xây dựng các tài khoản cấp hai thích hợp để hạch
toán.
1.2 Phân loại theo nguồn vật liệu.
- Vật liệu mua ngoài: là những vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh đợc
doanh nghiệp mua ngoài thị trờng. Mua ngoài là phơng thức cung ứng vật liệu th-
ờng xuyên của mỗi doanh nghiệp.
- Vật liệu tự sản xuất: là những vật liệu do doanh nghiệp tự chế biến hay thuê
ngoài chế biến để sử dụng cho sản xuất ở giai đoạn sau.
- Vật liệu nhận góp vốn liên doanh hoặc đợc biếu tặng, cấp phát.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp tính giá vật liệu đợc chính xác.
Sau khi phân loại vật liệu, doanh nghiệp phải lập sổ danh điểm vật liệu. Sổ
danh điểm vật liệu là sổ liệt kê toàn bộ các loại vật liệu sử dụng trong doanh
nghiệp theo từng phân nhóm hoặc từng kho. Sổ danh điểm phải quy định thống
nhất mã số, tên gọi, quy cách, đơn vị tính, đơn giá hạch toán định mức dự trữ của
từng chủng loại vật liệu. Mã số của vật liệu phải thể hiện đợc loại, nhóm, thứ của
vật liệu
Bảng số 1 - Sổ danh điểm vật liệu, công cụ dụng cụ.
A - NL, VL.
Kí hiệu ( mã hoá)
Nhóm Danh điểm NL, VL
Tên, nhãn hiệu,
quy cách NVL
Đơn vị
tính
Đơn giá
hạch toán
Ghi chú
1521.01 1521.01.01
1521.01.02
1521.01.99
7
1521.02 1521.02.01
1521.02.99
1521.96 1521.99.01
Sổ danh điểm vật liệu rất có ích cho công tác quản lý và hạch toán vật liệu
đặc biệt trong điều kiện cơ giới hoá công tác hạch toán ở doanh nghiệp.
2-/ Tính giá nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ.
Trong hạch toán, kế toán nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ đợc tính theo
giá thực tế (giá gốc). Tuỳ theo doanh nghiệp tính thuế VAT theo phơng pháp trực
tiếp hay phơng pháp khấu trừ mà trong giá thực tế có thể có thuế VAT (nếu tính
theo phơng pháp trực tiếp) hay không có thuế VAT (nếu tính theo phơng pháp
khấu trừ).
2.1. Tính giá nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Việc tính giá nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc căn cứ vào nguồn
nhập để xác định giá thực tế của chúng.
a, Với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài: Giá thực tế gồm: giá
mua ghi trên hoá đơn ngời bán cộng (+), thuế nhập khẩu (nếu có) và các khoản chi
phí thu mua thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí thu mua độc lập, chi phí
thuê kho bãi, tiền phạt lu kho ) trừ (-) các khoản chiết khấu, giảm giá hàng mua
đợc hởng.
b, Với vật liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế.
c, Với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá thực tế gồm giá trị vật liệu
xuất chế biến cùng các chi phí liên quan (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận
chuyển, bốc dỡ )
d, Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên
doanh: giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định.
8
e, Với vật liệu đ ợc tặng th ởng : Giá thực tế tính theo giá thị trờng tơng đơng.
f, Với phế liệu: (sản phẩm hỏng, công cụ, dụng cụ hỏng, TSCĐ thanh lý) giá
nhập vật liệu là giá có thể sử dụng, giá có thể bán đợc, giá ớc tính hay giá trị thu
hồi tối thiểu.
2.2. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng.
Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo các
đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp dựa vào yêu cầu quản lý và trình độ
nghiệp vụ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phơng pháp sau theo
nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu có thay đổi phải giải thích rõ ràng:
a, Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phơng pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ đợc tính theo
giá trị bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, hay bình quân cuối kỳ trớc, hoặc bình
quân sau mỗi lần nhập).
a.1. Ph ơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ:
Phơng pháp này có u điểm là đơn giản, dễ làm nhng độ chính xác không cao.
Hơn nữa công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hởng đến tính kịp thời và
công tác quyết toán nói chung.
a.2. Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ tr ớc.
Phơng pháp này cũng khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động
vật liệu trong kỳ, tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động của
giá cả vật liệu kỳ này.
a.3. Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập.
9
Phơng pháp này có u điểm là khắc phục đợc nhợc điểm của hai phơng pháp
trên vừa chính xác, vừa kịp thời. Tuy nhiên phải tính toán nhiều lần, tốn công sức,
không phù hợp với kế toán bằng tay. Thích hợp với doanh nghiệp sử dụng chơng
trình kế toán máy và số nhập vật liệu trong không nhiều.
b, Ph ơng pháp nhập tr ớc, xuất tr ớc (FIFO).
Theo phơng pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trớc thì xuất trớc,
xuất hết số nhập trớc mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất.
Cơ sở tính giá của phơng pháp này là giá thực tế của vật liệu mua trớc sẽ đợc dùng
làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trớc và do vậy giá trị của vật liệu tồn kho
cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
Ưu điểm của phơng pháp này là luôn cập nhật đợc thông tin về tình hình
nhập - xuất nguyên vật liệu trong kỳ một cách chính xác, đặc biệt là rất thích hợp
trong điều kiện giá cả ổn định và có xu hớng giảm.
Nhợc điểm: không thích hợp trong điều kiện lạm phát xảy ra, giá cả nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ có xu hớng tăng khi đó giá trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ
cao nhất.
c, Ph ơng pháp nhập sau, xuất tr ớc (LIFO):
Phơng pháp này giả định lần mua mới nhất của nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ sẽ đợc xuất kho trớc hết cho sản xuất. Tồn kho cuối kỳ còn lại trong kho
sẽ gồm các mặt hàng đợc mua vào lúc đầu kỳ. Cơ sở tính giá của phơng pháp này
là giá thực tế của vật liệu mua vào sau dùng làm giá thực tế của số nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ mua vào trớc tiên.
Ưu điểm: luôn cập nhật một cách chính xác về giá trị nhập và xuất kho
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và rất thích hợp trong điều kiện giá cả lạm phát,
khi đó giá trị của hàng hoá tồn kho cuối kỳ sẽ là thấp nhất.
Nhợc điểm: không phù hợp trong tình hình giá cả có xu hớng giảm.
d, Ph ơng pháp trực tiếp.
10
Theo phơng pháp này, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc tính theo đơn
chiếc hay từng lô hàng và giữ nguyên từ lúc nhập vào đến lúc xuất dùng (trừ trờng
hợp điều chỉnh). Khi xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nào sẽ tính theo giá
thực tế đích danh của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đó. Do đó, phơng pháp này
còn gọi là phơng pháp giá thực tế đích danh hay phơng pháp đặc điểm riêng biệt,
thờng đợc sử dụng với các loại vật liệu có giá trị cao có tính tách biệt lớn.
Ưu điểm: Thuận lợi cho kế toán cho việc tính giá nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ.
Nhợc điểm: Không tính đến ảnh hởng của biến động giá cả trên thị trờng.
e, Tính giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo ph ơng pháp giá hạch toán .
Xuất phát từ thực tế cho thấy giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua vào
trong từng lần nhập là khác nhau, và có thể cha biết đợc giá thực tế của nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ nhng đã phải xuất dùng cho sản xuất. Do đó, để hạch toán
kịp thời nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất sử dụng trong kỳ có thể sử dụng giá
hạch toán.
Giá hạch toán có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá tạm tính, thờng lấy số
tròn cuối tháng trớc sau khi tính đợc giá thực tế tiến hành điều chỉnh giá hạch toán
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong tháng theo giá thực tế.
Nội dung của phơng pháp này nh sau:
Bớc 1: Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua vào trong kỳ, có thể sử
dụng hai loại giá: giá thực tế và giá hạch toán (giá hạch toán ghi trớc, giá thực tế
ghi sau vào cuối tháng).
Bớc 2: Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng theo giá hạch toán.
11
Bớc 3: Cuối tháng sau khi tính đợc giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng
cụ tiến hành điều chỉnh giá hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất sử
dụng trong kỳ về giá thực tế theo công thức:
Hệ số giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc tính chi tiết cho từng nhóm,
từng loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Khi H = 1: Giá thực tế = giá hạch toán.
Khi H > 1: Giá thực tế > giá hạch toán.
Khi H < 1: Giá thực tế < giá hạch toán.
Việc điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế cho nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ đợc tính cho từng đối tợng có liên quan. Do đó, để
thực hiện việc tính toán trên, trớc hết phải phân loại, tổng hợp nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ theo từng nhóm, từng thứ sử dụng cho từng đối tợng theo giá
hạch toán. Căn cứ vào đó làm cơ sở để lập bảng tính giá thực tế nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ.
12
Bảng số 2: Bảng kê tính giá thực tế nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ
Bảng kê tính giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Chỉ tiêu
Vật liệu, công cụ dụng cụ
Giá hạch toán Giá thực tế
I Giá trị NVL, CCDC tồn kho đầu kỳ
II Giá trị NVL, CCDC nhập trong kỳ
III Giá trị cộng tồn và nhập
IV Hệ số giá hạch toán
V Giá trị NVL, CCDC xuất trong kỳ
VI Giá trị NVL, CCDC tồn cuối kỳ
III-/ Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Vật liệu, công cụ dụng cụ là một trong những đối tợng kế toán cần phải tổ
chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo
từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, từng nhóm và phải đợc tiến hành đồng
thời ở cả kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho.
1-/ Chứng từ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng.
Chứng từ kế toán là phơng pháp thông tin và kiểm tra về trạng thái và sự vận
động của đối tợng hạch toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo nghiệp vụ
làm căn cứ phân loại tổng hợp kế toán.
Các chứng từ đợc sử dụng trong hạch toán vật liệu ở doanh nghiệp thờng bao
gồm:
- Hoá đơn bán hàng (nếu tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp).
- Hoá đơn thuế giá trị gia tăng (nếu tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ).
- Phiếu nhập kho.
13
- Phiếu xuất kho.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
- Biên bản kiểm kê vật t, sản phẩm hàng hoá.
- Phiếu xuất vật t theo hạn mức.
Nguyên tắc lập chứng từ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ là phải
phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác theo đúng chế độ quy định ghi chép ban
đầu về vật t. Mỗi chứng từ phải chứa đựng đầy đủ các chỉ tiêu đặc trng cho nghiệp
vụ kinh tế phát sinh về nội dung, quy mô của nghiệp vụ, thời gian và địa điểm xảy
ra cũng nh trách nhiệm pháp lý của các đối tợng liên quan.
2-/ Sổ kế toán chi tiết vật liệu, công cụ, dụng cụ.
Tuỳ thuộc theo phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp mà
sử dụng các số (thẻ) kế toán chi tiết sau:
- Số (thẻ) kho.
- Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu( công cụ, dụng cụ).
- Số đối chiếu luân chuyển.
- Sổ số d.
Số (thẻ) kho (mẫu số 06. VT) đợc sử dụng để theo dõi số lợng nhập - xuất -
tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ, dụng cụ theo từng kho. Thẻ kho do phòng
Kế toán lập và ghi các chỉ tiêu: tên, nhãn hiệu, quy cách, đơn vị tính, mã số vật
liệu sau đó giao cho thủ kho để hạch toán nghiệp vụ ở kho, không phân biệt kế
toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phơng pháp nào.
Các sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số d vật
liệu đợc sử dụng để hạch toán tình hình nhập - xuất - tồn kho vật liệu, công cụ,
dụng cụ về mặt giá trị hoặc cả lợng và giá trị tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán chi
tiết áp dụng trong doanh nghiệp.
14
Tổ chức hạch toán NVL, CCDC
Tổ chức hệ thống chứng từ
Tổ chức công tác kiểm kê NVL, CCDC
Tổ chức hạch
toán chi tiết
NVL, CCDC
Tổ chức hạch
toán tổng hợp
NVL, CCDC
Lựa chọn hình thức
sổ kế toán tổng hợp
Lựa chọn phương
pháp hạch toán
chi tiết thích hợp
- PP thẻ song song
- PP sổ đối chiếu
luân chuyển
- PP sổ số dư
Lựa chọn phương
pháp hạch toán
- Phương pháp
kiểm kê định kỳ
- Phương pháp kê
khai
thường xuyên
Ghi sổ chi tiết
NVL, CCDC
Xây dựng hệ thống
tài khoản kế toán
Ghi sổ kế toán tổng hợp
1-/ Phân loại nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu thờng có nhiều chủng loại, có vai
trò, công dụng, tính chất lý, hoá khác nhau và thờng xuyên biến động tăng giảm
trong qúa trình sản xuất kinh doanh. Để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán
vật liệu doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vật liệu.
Phân loại vật liệu là việc sắp xếp vật liệu thành từng nhóm theo các tiêu thức
khác nhau. Yêu cầu của phân loại vật liệu là phải khoa học, hợp lý phù hợp với
đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và phải đáp ứng yêu cầu của công tác quản
lý và hạch toán vật liệu.
Các phơng pháp phân loại vật liệu gồm.
1.1 Phân loại theo vai trò và công dụng của vật liệu trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên vật liệu mà sau khi gia công,
chế biến sẽ thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm
mua vào).
- Nguyên vật liệu phụ: là những loại nguyên vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ
trong sản xuất, đợc sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi màu
sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các t liệu
lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo,
thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, hơng liệu )
- Nhiên liệu: là những thứ dùng để cung cấp nhiệt lợng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh nh than, củi, xăng dầu, khí đốt
- Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho
máy móc, thiết bị phơng tiện vận tải
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ ) mà doanh nghiệp mua vào nhằm
mục đích đầu t chi xây dựng cơ bản.
6
- Phí liệu: là các loại vật liệu thu đợc trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi báo, vải vụn ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng chủng loại vật liệu trong quá
trình tạo ra sản phẩm vf là cơ sở xây dựng các tài khoản cấp hai thích hợp để hạch
toán.
1.2 Phân loại theo nguồn vật liệu.
- Vật liệu mua ngoài: là những vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh đợc
doanh nghiệp mua ngoài thị trờng. Mua ngoài là phơng thức cung ứng vật liệu th-
ờng xuyên của mỗi doanh nghiệp.
- Vật liệu tự sản xuất: là những vật liệu do doanh nghiệp tự chế biến hay thuê
ngoài chế biến để sử dụng cho sản xuất ở giai đoạn sau.
- Vật liệu nhận góp vốn liên doanh hoặc đợc biếu tặng, cấp phát.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp tính giá vật liệu đợc chính xác.
Sau khi phân loại vật liệu, doanh nghiệp phải lập sổ danh điểm vật liệu. Sổ
danh điểm vật liệu là sổ liệt kê toàn bộ các loại vật liệu sử dụng trong doanh
nghiệp theo từng phân nhóm hoặc từng kho. Sổ danh điểm phải quy định thống
nhất mã số, tên gọi, quy cách, đơn vị tính, đơn giá hạch toán định mức dự trữ của
từng chủng loại vật liệu. Mã số của vật liệu phải thể hiện đợc loại, nhóm, thứ của
vật liệu
Bảng số 1 - Sổ danh điểm vật liệu, công cụ dụng cụ.
A - NL, VL.
Kí hiệu ( mã hoá)
Nhóm Danh điểm NL, VL
Tên, nhãn hiệu,
quy cách NVL
Đơn vị
tính
Đơn giá
hạch toán
Ghi chú
1521.01 1521.01.01
1521.01.02
1521.01.99
7
1521.02 1521.02.01
1521.02.99
1521.96 1521.99.01
Sổ danh điểm vật liệu rất có ích cho công tác quản lý và hạch toán vật liệu
đặc biệt trong điều kiện cơ giới hoá công tác hạch toán ở doanh nghiệp.
2-/ Tính giá nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ.
Trong hạch toán, kế toán nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ đợc tính theo
giá thực tế (giá gốc). Tuỳ theo doanh nghiệp tính thuế VAT theo phơng pháp trực
tiếp hay phơng pháp khấu trừ mà trong giá thực tế có thể có thuế VAT (nếu tính
theo phơng pháp trực tiếp) hay không có thuế VAT (nếu tính theo phơng pháp
khấu trừ).
2.1. Tính giá nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Việc tính giá nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc căn cứ vào nguồn
nhập để xác định giá thực tế của chúng.
a, Với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài: Giá thực tế gồm: giá
mua ghi trên hoá đơn ngời bán cộng (+), thuế nhập khẩu (nếu có) và các khoản chi
phí thu mua thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí thu mua độc lập, chi phí
thuê kho bãi, tiền phạt lu kho ) trừ (-) các khoản chiết khấu, giảm giá hàng mua
đợc hởng.
b, Với vật liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế.
c, Với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá thực tế gồm giá trị vật liệu
xuất chế biến cùng các chi phí liên quan (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận
chuyển, bốc dỡ )
d, Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên
doanh: giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định.
8
e, Với vật liệu đ ợc tặng th ởng : Giá thực tế tính theo giá thị trờng tơng đơng.
f, Với phế liệu: (sản phẩm hỏng, công cụ, dụng cụ hỏng, TSCĐ thanh lý) giá
nhập vật liệu là giá có thể sử dụng, giá có thể bán đợc, giá ớc tính hay giá trị thu
hồi tối thiểu.
2.2. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng.
Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo các
đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp dựa vào yêu cầu quản lý và trình độ
nghiệp vụ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phơng pháp sau theo
nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu có thay đổi phải giải thích rõ ràng:
a, Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phơng pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ đợc tính theo
giá trị bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, hay bình quân cuối kỳ trớc, hoặc bình
quân sau mỗi lần nhập).
a.1. Ph ơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ:
Phơng pháp này có u điểm là đơn giản, dễ làm nhng độ chính xác không cao.
Hơn nữa công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hởng đến tính kịp thời và
công tác quyết toán nói chung.
a.2. Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ tr ớc.
Phơng pháp này cũng khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động
vật liệu trong kỳ, tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động của
giá cả vật liệu kỳ này.
a.3. Ph ơng pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập.
9
Phơng pháp này có u điểm là khắc phục đợc nhợc điểm của hai phơng pháp
trên vừa chính xác, vừa kịp thời. Tuy nhiên phải tính toán nhiều lần, tốn công sức,
không phù hợp với kế toán bằng tay. Thích hợp với doanh nghiệp sử dụng chơng
trình kế toán máy và số nhập vật liệu trong không nhiều.
b, Ph ơng pháp nhập tr ớc, xuất tr ớc (FIFO).
Theo phơng pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trớc thì xuất trớc,
xuất hết số nhập trớc mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất.
Cơ sở tính giá của phơng pháp này là giá thực tế của vật liệu mua trớc sẽ đợc dùng
làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trớc và do vậy giá trị của vật liệu tồn kho
cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
Ưu điểm của phơng pháp này là luôn cập nhật đợc thông tin về tình hình
nhập - xuất nguyên vật liệu trong kỳ một cách chính xác, đặc biệt là rất thích hợp
trong điều kiện giá cả ổn định và có xu hớng giảm.
Nhợc điểm: không thích hợp trong điều kiện lạm phát xảy ra, giá cả nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ có xu hớng tăng khi đó giá trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ
cao nhất.
c, Ph ơng pháp nhập sau, xuất tr ớc (LIFO):
Phơng pháp này giả định lần mua mới nhất của nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ sẽ đợc xuất kho trớc hết cho sản xuất. Tồn kho cuối kỳ còn lại trong kho
sẽ gồm các mặt hàng đợc mua vào lúc đầu kỳ. Cơ sở tính giá của phơng pháp này
là giá thực tế của vật liệu mua vào sau dùng làm giá thực tế của số nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ mua vào trớc tiên.
Ưu điểm: luôn cập nhật một cách chính xác về giá trị nhập và xuất kho
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và rất thích hợp trong điều kiện giá cả lạm phát,
khi đó giá trị của hàng hoá tồn kho cuối kỳ sẽ là thấp nhất.
Nhợc điểm: không phù hợp trong tình hình giá cả có xu hớng giảm.
d, Ph ơng pháp trực tiếp.
10
Theo phơng pháp này, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc tính theo đơn
chiếc hay từng lô hàng và giữ nguyên từ lúc nhập vào đến lúc xuất dùng (trừ trờng
hợp điều chỉnh). Khi xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nào sẽ tính theo giá
thực tế đích danh của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đó. Do đó, phơng pháp này
còn gọi là phơng pháp giá thực tế đích danh hay phơng pháp đặc điểm riêng biệt,
thờng đợc sử dụng với các loại vật liệu có giá trị cao có tính tách biệt lớn.
Ưu điểm: Thuận lợi cho kế toán cho việc tính giá nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ.
Nhợc điểm: Không tính đến ảnh hởng của biến động giá cả trên thị trờng.
e, Tính giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo ph ơng pháp giá hạch toán .
Xuất phát từ thực tế cho thấy giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua vào
trong từng lần nhập là khác nhau, và có thể cha biết đợc giá thực tế của nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ nhng đã phải xuất dùng cho sản xuất. Do đó, để hạch toán
kịp thời nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất sử dụng trong kỳ có thể sử dụng giá
hạch toán.
Giá hạch toán có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá tạm tính, thờng lấy số
tròn cuối tháng trớc sau khi tính đợc giá thực tế tiến hành điều chỉnh giá hạch toán
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng trong tháng theo giá thực tế.
Nội dung của phơng pháp này nh sau:
Bớc 1: Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ mua vào trong kỳ, có thể sử
dụng hai loại giá: giá thực tế và giá hạch toán (giá hạch toán ghi trớc, giá thực tế
ghi sau vào cuối tháng).
Bớc 2: Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng theo giá hạch toán.
11
Bớc 3: Cuối tháng sau khi tính đợc giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng
cụ tiến hành điều chỉnh giá hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất sử
dụng trong kỳ về giá thực tế theo công thức:
Hệ số giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đợc tính chi tiết cho từng nhóm,
từng loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Khi H = 1: Giá thực tế = giá hạch toán.
Khi H > 1: Giá thực tế > giá hạch toán.
Khi H < 1: Giá thực tế < giá hạch toán.
Việc điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế cho nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ xuất dùng trong kỳ đợc tính cho từng đối tợng có liên quan. Do đó, để
thực hiện việc tính toán trên, trớc hết phải phân loại, tổng hợp nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ theo từng nhóm, từng thứ sử dụng cho từng đối tợng theo giá
hạch toán. Căn cứ vào đó làm cơ sở để lập bảng tính giá thực tế nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ.
12
Bảng số 2: Bảng kê tính giá thực tế nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ
Bảng kê tính giá thực tế nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Chỉ tiêu
Vật liệu, công cụ dụng cụ
Giá hạch toán Giá thực tế
I Giá trị NVL, CCDC tồn kho đầu kỳ
II Giá trị NVL, CCDC nhập trong kỳ
III Giá trị cộng tồn và nhập
IV Hệ số giá hạch toán
V Giá trị NVL, CCDC xuất trong kỳ
VI Giá trị NVL, CCDC tồn cuối kỳ
III-/ Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Vật liệu, công cụ dụng cụ là một trong những đối tợng kế toán cần phải tổ
chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo
từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, từng nhóm và phải đợc tiến hành đồng
thời ở cả kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho.
1-/ Chứng từ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng.
Chứng từ kế toán là phơng pháp thông tin và kiểm tra về trạng thái và sự vận
động của đối tợng hạch toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo nghiệp vụ
làm căn cứ phân loại tổng hợp kế toán.
Các chứng từ đợc sử dụng trong hạch toán vật liệu ở doanh nghiệp thờng bao
gồm:
- Hoá đơn bán hàng (nếu tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp).
- Hoá đơn thuế giá trị gia tăng (nếu tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ).
- Phiếu nhập kho.
13
- Phiếu xuất kho.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
- Biên bản kiểm kê vật t, sản phẩm hàng hoá.
- Phiếu xuất vật t theo hạn mức.
Nguyên tắc lập chứng từ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ là phải
phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác theo đúng chế độ quy định ghi chép ban
đầu về vật t. Mỗi chứng từ phải chứa đựng đầy đủ các chỉ tiêu đặc trng cho nghiệp
vụ kinh tế phát sinh về nội dung, quy mô của nghiệp vụ, thời gian và địa điểm xảy
ra cũng nh trách nhiệm pháp lý của các đối tợng liên quan.
2-/ Sổ kế toán chi tiết vật liệu, công cụ, dụng cụ.
Tuỳ thuộc theo phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp mà
sử dụng các số (thẻ) kế toán chi tiết sau:
- Số (thẻ) kho.
- Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu( công cụ, dụng cụ).
- Số đối chiếu luân chuyển.
- Sổ số d.
Số (thẻ) kho (mẫu số 06. VT) đợc sử dụng để theo dõi số lợng nhập - xuất -
tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ, dụng cụ theo từng kho. Thẻ kho do phòng
Kế toán lập và ghi các chỉ tiêu: tên, nhãn hiệu, quy cách, đơn vị tính, mã số vật
liệu sau đó giao cho thủ kho để hạch toán nghiệp vụ ở kho, không phân biệt kế
toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phơng pháp nào.
Các sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số d vật
liệu đợc sử dụng để hạch toán tình hình nhập - xuất - tồn kho vật liệu, công cụ,
dụng cụ về mặt giá trị hoặc cả lợng và giá trị tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán chi
tiết áp dụng trong doanh nghiệp.
14
Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ ĐTDĐ tại Trung tâm ĐTDĐ CDMA - S-Fone.pdf
5
• Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn
nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, khách hàng chỉ có
thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình sử dụng.
1.2.2 Khái niệm và phân loại về chất lượng dịch vụ:
Chất lượng hàng hóa hữu hình có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan
như: tính năng, đặc tính và độ bền. Tuy nhiên chất lượng dịch vụ là vô hình. Khách
hàng nhận được sản phẩm này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và
cảm nhận. Đặc điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất
lượng của những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng. Do đó, chất lượng
dịch vụ được xác định dựa theo chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết.
• Zeithaml (1987) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về
tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Đó là một dạng của
thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận
thức về những thứ ta nhận được.
• Lewis và Booms phát biểu: Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch
vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến
đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách
hàng một cách đồng nhất.
• Parasurman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) định nghĩa: Chất lượng dịch vụ
được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách
hàng khi sử dụng dịch vụ.
Nhận định này chứng tỏ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong
đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. Parasuraman (1991) giải thích
rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu
những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong
đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất
lượng cho dịch vụ có hiệu quả.
6
Trong nhiều phân tích về chất lượng dịch vụ thì Gronroos (1984) đã phân
biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật:
- Chất lượng chức năng chính là quá trình tương tác giữa khách hàng và người
cung ứng dịch vụ, nghĩa là làm thế nào dịch vụ được thể hiện và cung ứng.
- Chất lượng kỹ thuật là hệ quả của quá trình vận hành hoạt động dịch vụ, có
nghĩa là những gì mà khách hàng nhận được.
1.2.3 Đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại di động:
Chất lượng hoạt động viễn thông di động phụ thuộc vào các yếu tố của môi
trường bên ngoài và môi trường bên trong. Nó được xác định bằng trình độ kỹ thuật
của các phương tiện thông tin, việc tổ chức sản xuất, trạng thái mạng lưới kết nối
các điểm thông tin, kỹ thuật khai thác thiết bị và công trình viễn thông, việc đạt
được tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các công nghệ và hệ thống truyền thông, hiệu
quả sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính, sự chênh lệch giữa kỳ vọng
của người tiêu dùng đối với số lượng, chất lượng các dịch vụ và mức độ hài lòng,
thỏa mãn các kỳ vọng đó. Chất lượng hoạt động viễn thông nói chung và viễn thông
di động nói riêng trước đây được hiểu đơn giản bao gồm hai khía cạnh: chất lượng
dịch vụ và chất lượng phục vụ.
Chất lượng dịch vụ: thể hiện ở các chỉ tiêu như tốc độ truyền đưa tin tức, độ
chính xác, trung thực của việc truyền đưa và khôi phục tin tức, độ hoạt động ổn
định của các phương tiện thông tin. Cụ thể đó là năng lực phủ sóng của mạng lưới,
khả năng thực hiện cuộc gọi thành công đến các vùng trên cả nước, là việc kết nối
thông tin không bị nghẽn mạch, tín hiệu đàm thoại rõ ràng, trung thực, thời gian xử
lý sự cố nhanh, là việc cung cấp nhiều loại hình dịch vụ đa dạng phù hợp với nhiều
đối tượng khách hàng khác nhau…
Chất lượng phục vụ: thể hiện qua các chỉ tiêu như mức độ phổ cập các phương
tiện thông tin, mức độ thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội về các dịch vụ thông tin,
khả năng phục vụ của mạng lưới giao dịch, thái độ, phong cách phục vụ của nhân
viên giao dịch, đảm bảo bí mật thông tin khách hàng, cách thức giải quyết các vấn
đề, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng, các dịch vụ chăm sóc khách hàng…
7
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, của ngành quản trị kinh doanh, tiếp thị và công tác chăm sóc
khách hàng, theo đó các đòi hỏi, kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ
ngày càng cao hơn, không chỉ dừng lại ở hai khía cạnh nói trên mà còn được mở
rộng sang các khía cạnh khác làm cho việc đánh giá và quản lý chất lượng dịch vụ
cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Có thể nói rằng các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với
nhau ở các ngành dịch vụ và hiện nay chưa có một nghiên cứu chính thức nào về
mô hình đánh giá chất lượng của dịch vụ điện thoại di động. Tại Việt Nam, bộ tiêu
chuẩn ngành TCN 68-186:2006 được ban hành sau 12 năm kể khi dịch vụ điện
thoại di động chính thức xuất hiện vào năm 1994 được xem là căn cứ pháp lý quan
trọng đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại di động. Ngoài ra, kết quả khảo sát của
các công ty nghiên cứu thị trường cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ điện thoại di động.
1.2.3.1 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ điện thoại di
động:
- Chất lượng mạng lưới: bao gồm mức độ bao phủ của vùng phủ sóng
tính trên phương diện địa lý, khả năng thiết lập và duy trì việc kết nối
thông tin của hệ thống, khả năng đảm bảo chất lượng truyền tín hiệu
của hệ thống.
- Giá cước dịch vụ: bao gồm cước cuộc gọi, cước thuê bao, cước tin
nhắn và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
- Gói cước: bao gồm mức độ phù hợp của các gói dịch vụ với nhu cầu
của khách hàng, mức độ đa dạng và phổ biến nó.
- Thanh toán hóa đơn cước (đối với thuê bao trả sau): bao gồm mức độ
rõ ràng, dễ hiểu, chính xác của thông báo cước, mức độ tiện lợi khi
thanh toán.
8
- Thẻ nạp tiền/thẻ cào (đối với thuê bao trả trước): Sự đa dạng của
mệnh giá thẻ cào, giá bán thực tế có hợp lý, mức độ thuận tiện khi
mua hoặc nạp thẻ cào, sự rõ ràng của hướng dẫn ghi trên thẻ.
- Dịch vụ khách hàng: khả năng phục vụ khách hàng của Trung tâm
dịch vụ khách hàng, các cửa hàng đại lý và Tổng đài dịch vụ.
- Dịch vụ giá trị gia tăng: bao gồm mức độ đa dạng của các dịch vụ, phí
sử dụng cho các dịch vụ, mức độ phù hợp của dịch vụ với nhu cầu của
khách hàng.
- Máy điện thoại: bao gồm mức độ hợp lý của giá máy, sự đa dạng, độ
bền của máy và chế độ bảo hành.
- Quảng cáo khuyến mãi: bao gồm mức độ hấp dẫn, đa dạng và phù
hợp của các chương trình.
1.2.3.2 Một số các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại
di động:
Ngày 05/09/2006 Bộ Bưu chính viễn thông nay là Bộ Thông tin và
truyền thông đã ban hành Tiêu chuẩn chất lượng về Dịch vụ điện thoại
trên mạng viễn thông di động mặt đất – Mã số TCN 68-186: 2006. Đây
là các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng của một mạng điện thoại di
động tại Việt Nam.
A. Chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật:
Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công là tỷ số giữa số cuộc
gọi được thiết lập thành công trên tổng số cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công ≥ 92%.
Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi là tỷ số giữa số cuộc gọi bị rơi trên tổng số
cuộc gọi được thiết lập thành công.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi ≤ 5%.
9
Chất lượng thoại:
- Định nghĩa: Chất lượng thoại là chỉ số tích hợp của chất lượng truyền tiếng
nói trên kênh thoại được xác định bằng cách tính điểm trung bình với thang
điểm MOS từ 1 đến 5 theo Khuyến nghị P.800 của Liên minh Viễn thông
quốc tế ITU.
- Chỉ tiêu: Chất lượng thoại trung bình phải ≥ 3,0 điểm.
Độ chính xác ghi cước:
Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai là tỷ số giữa số cuộc gọi bị ghi
cước sai trên tổng số cuộc gọi. Cuộc gọi bị ghi cước sai bao gồm:
+ Cuộc gọi ghi cước nhưng không có thực;
+ Cuộc gọi có thực nhưng không ghi cước;
+ Cuộc gọi ghi sai số chủ gọi và/hoặc số bị gọi;
+ Cuộc gọi được ghi cước có độ dài lớn hơn 01 giây về giá trị tuyệt đối so
với độ dài đàm thoại thực của cuộc gọi;
+ Cuộc gọi được ghi cước có thời gian bắt đầu sai quá 09 giây về giá trị
tuyệt đối so với thời điểm thực lấy theo đồng hồ chuẩn quốc gia.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai ≤ 0,1%.
Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai là tỷ số giữa tổng giá
trị tuyệt đối thời gian ghi sai của các cuộc gọi bị ghi cước sai trên tổng số
thời gian của các cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ ghi cước sai về thời gian đàm thoại ≤ 0,1%.
Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai là tỷ lệ cuộc gọi bị tính
cước hoặc lập hóa đơn sai trên tổng số cuộc gọi.
10
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (DNCCDV) phải lưu trữ số liệu gốc tính
cước trong vòng tối thiểu 180 ngày, bao gồm: ngày, tháng, năm thực hiện
cuộc gọi; thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc (hoặc độ dài cuộc gọi); số máy
bị gọi (cuộc gọi quốc tế: mã quốc gia, mã vùng, số thuê bao; cuộc gọi trong
nước: mã vùng, số thuê bao), cước phí từng cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai ≤ 0,01%.
B. Chỉ tiêu chất lượng phục vụ:
Độ khả dụng của dịch vụ:
- Định nghĩa: Độ khả dụng của dịch vụ (D) là tỷ lệ thời gian trong đó mạng
sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Trong đó:
T
r
: Thời gian xác định độ khả dụng của dịch vụ;
T
f
: Thời gian mạng có sự cố thuộc trách nhiệm doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ và được tính theo công thức:
N: Tổng số lần xảy ra sự cố trong thời gian xác định độ khả dụng;
R
i
: Tổng số kênh thoại của mạng viễn thông di động mặt đất tại thời điểm
xảy ra sự cố thứ i;
r
i
: Số kênh thoại bị mất liên lạc trong sự cố thứ i;
t
i
: Thời gian sự cố thứ i.
- Chỉ tiêu: D ≥ 99,5%
T
f
=
∑
1
R
i
r
i
t
i
N
i-1
D = 1 -
T
f
T
r
11
Khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ:
- Định nghĩa: Khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ là sự không hài
lòng của khách hàng được báo cho DNCCDV bằng đơn khiếu nại.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ không được
vượt quá 0,25 khiếu nại trên 100 khách hàng trong 03 tháng.
Hồi âm khiếu nại của khách hàng
- Định nghĩa: Hồi âm khiếu nại của khách hàng là văn bản của DNCCDV
thông báo cho khách hàng có đơn khiếu nại về việc tiếp nhận khiếu nại và
xem xét giải quyết.
- Chỉ tiêu: DNCCDV phải xem xét và có văn bản hồi âm trong thời hạn 48 giờ
cho 100% khách hàng khiếu nại kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại.
Dịch vụ hỗ trợ khách hàng
- Định nghĩa: Dịch vụ hỗ trợ khách hàng là dịch vụ: giải đáp thắc mắc, hướng
dẫn sử dụng, cung cấp thông tin liên quan và thông báo cho khách hàng trụ
sở, số điện thoại, fax của dịch vụ hỗ trợ khách hàng.
- Chỉ tiêu:
+ Thời gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng qua điện thoại là 24 giờ
trong ngày.
+ Tỷ lệ cuộc gọi tới dịch vụ hỗ trợ khách hàng, chiếm mạch thành công và
nhận được tín hiệu trả lời của điện thoại viên trong vòng 60 giây ≥ 80%
tổng số cuộc gọi.
12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này đã trình bày một số cơ sở lý luận về dịch vụ điện thoại di động
và chất lượng dịch vụ điện thoại di động gồm các khái niệm và đặc điểm về dịch vụ,
dịch vụ điện thoại di động và chất lượng dịch vụ điện thoại di động. Trong đó, nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ điện thoại di động trong
bối cảnh hội nhập và cạnh tranh như hiện nay.
Với những lý luận tổng quan về dịch vụ điện thoại di động, các doanh nghiệp
sẽ nhận biết được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mạng điện thoại di động và
các tiêu chí đánh giá. Nền tảng lý luận của chương này là cơ sơ để Trung tâm
ĐTDĐ CDMA-SFONE đưa ra các mục tiêu cụ thể cùng với những giải pháp hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng dịch vụ
của mình và phát triển một cách bền vững.
13
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI
DI ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CDMA –
SFONE
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRUNG TÂM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CDMA
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Tên, địa chỉ của Trung Tâm ĐTDĐ CDMA:
- Tên gọi: Trung tâm điện thoại di động CDMA
- Trụ sở chính: 97 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Tên giao dịch đối ngoại: CDMA MOBILE PHONE CENTER
- Tên đơn vị: S-Telecom
- Tên thương hiệu: S-Fone
- Trang web: www.stelecom.com.vn, www.sfone.com.vn
Quá trình hình thành và phát triển:
Trung tâm điện thoại CDMA (S-Telecom) hoạt động theo giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động chi nhánh số 03005683 CN 41 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/9/2001.
Đây là dự án hợp tác giữa công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài
Gòn (SPT) với công ty SLD Telecom Pte. LTD (được thành lập vào tháng 10/2000
tại Singapore gồm các thành viên SK Telecom, LG Electronics, và Dong Ah
Elecomm) theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Business
Cooporation Contract) căn cứ vào luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Mục tiêu, phạm vi, thời hạn của dự án:
- Hợp tác xây dựng, khai thác, phát triển mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di
động và các dịch vụ viễn thông khác bằng công nghệ CDMA trên băng tần 800
14
MHz trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Mạng sẽ được nâng cấp lên mạng thông tin di
động thế hệ thứ 3 (3G) và hệ thống IS-2000 (IX).
- Thời hạn dự án: 15 năm (2001 – 2016)
- Tổng vốn đầu tư ban đầu cho dự án: 229.617.000 USD (cố định và lưu động).
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT)
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 064090 do sở Kế Hoạch Đầu Tư
Tp.HCM cấp ngày 17/10/1996.
- Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) là Công ty Cổ
phần đầu tiên được phép cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông phạm vi toàn
quốc.
- Lĩnh vực hoạt động:
o Các loại hình dịch vụ bưu chính trong nước và quốc tế.
o Dịch vụ điện thoại cố định. Dịch vụ điện thoại di động sử dụng công nghệ CDMA.
o Dịch vụ ADSL. Internet ( IXP, ISP, ICP, OSP).
o Các loại hình dịch vụ viễn thông sử dụng giao thức IP.
o Thiết kế lắp đặt bảo trì hệ thống thiết bị thuê bao và mạng bưu chính viễn thông.
o Sản xuất lắp ráp thiết bị viễn thông- điện tử, tin học; sản xuất phần mềm tin học.
o Xuất nhập khẩu và kinh doanh thiết bị bưu chính viễn thông.
Công ty SLD Telecom Pte. LTD :
SLD Pte. Ltd (hiện nay là SK Telecom Vietnam Pte. Ltd) là công ty được
thành lập vào tháng 10 năm 2000 tại Singapore bao gồm 3 thành viên là SK
Telecom, LG Electronics và Dong Ah Elecomm.
- SK Telecom: Với hơn 20 triệu thuê bao, chiếm hơn 50.4% thị phần thông tin
di động tại Hàn Quốc, và doanh thu hàng ngàn tỷ won/năm (doanh thu năm 2006 đã
đạt 10.65 nghìn tỷ won), SK Telecom được xếp vào một trong các công ty cung cấp
dịch vụ viễn thông hàng đầu trên thế giới. Trong quá trình hoạt động, SK không
• Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn
nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, khách hàng chỉ có
thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình sử dụng.
1.2.2 Khái niệm và phân loại về chất lượng dịch vụ:
Chất lượng hàng hóa hữu hình có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan
như: tính năng, đặc tính và độ bền. Tuy nhiên chất lượng dịch vụ là vô hình. Khách
hàng nhận được sản phẩm này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và
cảm nhận. Đặc điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất
lượng của những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng. Do đó, chất lượng
dịch vụ được xác định dựa theo chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết.
• Zeithaml (1987) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về
tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Đó là một dạng của
thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận
thức về những thứ ta nhận được.
• Lewis và Booms phát biểu: Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch
vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến
đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách
hàng một cách đồng nhất.
• Parasurman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) định nghĩa: Chất lượng dịch vụ
được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách
hàng khi sử dụng dịch vụ.
Nhận định này chứng tỏ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong
đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. Parasuraman (1991) giải thích
rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu
những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong
đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất
lượng cho dịch vụ có hiệu quả.
6
Trong nhiều phân tích về chất lượng dịch vụ thì Gronroos (1984) đã phân
biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật:
- Chất lượng chức năng chính là quá trình tương tác giữa khách hàng và người
cung ứng dịch vụ, nghĩa là làm thế nào dịch vụ được thể hiện và cung ứng.
- Chất lượng kỹ thuật là hệ quả của quá trình vận hành hoạt động dịch vụ, có
nghĩa là những gì mà khách hàng nhận được.
1.2.3 Đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại di động:
Chất lượng hoạt động viễn thông di động phụ thuộc vào các yếu tố của môi
trường bên ngoài và môi trường bên trong. Nó được xác định bằng trình độ kỹ thuật
của các phương tiện thông tin, việc tổ chức sản xuất, trạng thái mạng lưới kết nối
các điểm thông tin, kỹ thuật khai thác thiết bị và công trình viễn thông, việc đạt
được tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các công nghệ và hệ thống truyền thông, hiệu
quả sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính, sự chênh lệch giữa kỳ vọng
của người tiêu dùng đối với số lượng, chất lượng các dịch vụ và mức độ hài lòng,
thỏa mãn các kỳ vọng đó. Chất lượng hoạt động viễn thông nói chung và viễn thông
di động nói riêng trước đây được hiểu đơn giản bao gồm hai khía cạnh: chất lượng
dịch vụ và chất lượng phục vụ.
Chất lượng dịch vụ: thể hiện ở các chỉ tiêu như tốc độ truyền đưa tin tức, độ
chính xác, trung thực của việc truyền đưa và khôi phục tin tức, độ hoạt động ổn
định của các phương tiện thông tin. Cụ thể đó là năng lực phủ sóng của mạng lưới,
khả năng thực hiện cuộc gọi thành công đến các vùng trên cả nước, là việc kết nối
thông tin không bị nghẽn mạch, tín hiệu đàm thoại rõ ràng, trung thực, thời gian xử
lý sự cố nhanh, là việc cung cấp nhiều loại hình dịch vụ đa dạng phù hợp với nhiều
đối tượng khách hàng khác nhau…
Chất lượng phục vụ: thể hiện qua các chỉ tiêu như mức độ phổ cập các phương
tiện thông tin, mức độ thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội về các dịch vụ thông tin,
khả năng phục vụ của mạng lưới giao dịch, thái độ, phong cách phục vụ của nhân
viên giao dịch, đảm bảo bí mật thông tin khách hàng, cách thức giải quyết các vấn
đề, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng, các dịch vụ chăm sóc khách hàng…
7
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, của ngành quản trị kinh doanh, tiếp thị và công tác chăm sóc
khách hàng, theo đó các đòi hỏi, kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ
ngày càng cao hơn, không chỉ dừng lại ở hai khía cạnh nói trên mà còn được mở
rộng sang các khía cạnh khác làm cho việc đánh giá và quản lý chất lượng dịch vụ
cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Có thể nói rằng các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với
nhau ở các ngành dịch vụ và hiện nay chưa có một nghiên cứu chính thức nào về
mô hình đánh giá chất lượng của dịch vụ điện thoại di động. Tại Việt Nam, bộ tiêu
chuẩn ngành TCN 68-186:2006 được ban hành sau 12 năm kể khi dịch vụ điện
thoại di động chính thức xuất hiện vào năm 1994 được xem là căn cứ pháp lý quan
trọng đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại di động. Ngoài ra, kết quả khảo sát của
các công ty nghiên cứu thị trường cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ điện thoại di động.
1.2.3.1 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ điện thoại di
động:
- Chất lượng mạng lưới: bao gồm mức độ bao phủ của vùng phủ sóng
tính trên phương diện địa lý, khả năng thiết lập và duy trì việc kết nối
thông tin của hệ thống, khả năng đảm bảo chất lượng truyền tín hiệu
của hệ thống.
- Giá cước dịch vụ: bao gồm cước cuộc gọi, cước thuê bao, cước tin
nhắn và các dịch vụ giá trị gia tăng khác.
- Gói cước: bao gồm mức độ phù hợp của các gói dịch vụ với nhu cầu
của khách hàng, mức độ đa dạng và phổ biến nó.
- Thanh toán hóa đơn cước (đối với thuê bao trả sau): bao gồm mức độ
rõ ràng, dễ hiểu, chính xác của thông báo cước, mức độ tiện lợi khi
thanh toán.
8
- Thẻ nạp tiền/thẻ cào (đối với thuê bao trả trước): Sự đa dạng của
mệnh giá thẻ cào, giá bán thực tế có hợp lý, mức độ thuận tiện khi
mua hoặc nạp thẻ cào, sự rõ ràng của hướng dẫn ghi trên thẻ.
- Dịch vụ khách hàng: khả năng phục vụ khách hàng của Trung tâm
dịch vụ khách hàng, các cửa hàng đại lý và Tổng đài dịch vụ.
- Dịch vụ giá trị gia tăng: bao gồm mức độ đa dạng của các dịch vụ, phí
sử dụng cho các dịch vụ, mức độ phù hợp của dịch vụ với nhu cầu của
khách hàng.
- Máy điện thoại: bao gồm mức độ hợp lý của giá máy, sự đa dạng, độ
bền của máy và chế độ bảo hành.
- Quảng cáo khuyến mãi: bao gồm mức độ hấp dẫn, đa dạng và phù
hợp của các chương trình.
1.2.3.2 Một số các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng dịch vụ điện thoại
di động:
Ngày 05/09/2006 Bộ Bưu chính viễn thông nay là Bộ Thông tin và
truyền thông đã ban hành Tiêu chuẩn chất lượng về Dịch vụ điện thoại
trên mạng viễn thông di động mặt đất – Mã số TCN 68-186: 2006. Đây
là các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng của một mạng điện thoại di
động tại Việt Nam.
A. Chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật:
Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công là tỷ số giữa số cuộc
gọi được thiết lập thành công trên tổng số cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công ≥ 92%.
Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi là tỷ số giữa số cuộc gọi bị rơi trên tổng số
cuộc gọi được thiết lập thành công.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi bị rơi ≤ 5%.
9
Chất lượng thoại:
- Định nghĩa: Chất lượng thoại là chỉ số tích hợp của chất lượng truyền tiếng
nói trên kênh thoại được xác định bằng cách tính điểm trung bình với thang
điểm MOS từ 1 đến 5 theo Khuyến nghị P.800 của Liên minh Viễn thông
quốc tế ITU.
- Chỉ tiêu: Chất lượng thoại trung bình phải ≥ 3,0 điểm.
Độ chính xác ghi cước:
Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai là tỷ số giữa số cuộc gọi bị ghi
cước sai trên tổng số cuộc gọi. Cuộc gọi bị ghi cước sai bao gồm:
+ Cuộc gọi ghi cước nhưng không có thực;
+ Cuộc gọi có thực nhưng không ghi cước;
+ Cuộc gọi ghi sai số chủ gọi và/hoặc số bị gọi;
+ Cuộc gọi được ghi cước có độ dài lớn hơn 01 giây về giá trị tuyệt đối so
với độ dài đàm thoại thực của cuộc gọi;
+ Cuộc gọi được ghi cước có thời gian bắt đầu sai quá 09 giây về giá trị
tuyệt đối so với thời điểm thực lấy theo đồng hồ chuẩn quốc gia.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai ≤ 0,1%.
Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai là tỷ số giữa tổng giá
trị tuyệt đối thời gian ghi sai của các cuộc gọi bị ghi cước sai trên tổng số
thời gian của các cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ ghi cước sai về thời gian đàm thoại ≤ 0,1%.
Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai:
- Định nghĩa: Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai là tỷ lệ cuộc gọi bị tính
cước hoặc lập hóa đơn sai trên tổng số cuộc gọi.
10
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (DNCCDV) phải lưu trữ số liệu gốc tính
cước trong vòng tối thiểu 180 ngày, bao gồm: ngày, tháng, năm thực hiện
cuộc gọi; thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc (hoặc độ dài cuộc gọi); số máy
bị gọi (cuộc gọi quốc tế: mã quốc gia, mã vùng, số thuê bao; cuộc gọi trong
nước: mã vùng, số thuê bao), cước phí từng cuộc gọi.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hóa đơn sai ≤ 0,01%.
B. Chỉ tiêu chất lượng phục vụ:
Độ khả dụng của dịch vụ:
- Định nghĩa: Độ khả dụng của dịch vụ (D) là tỷ lệ thời gian trong đó mạng
sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Trong đó:
T
r
: Thời gian xác định độ khả dụng của dịch vụ;
T
f
: Thời gian mạng có sự cố thuộc trách nhiệm doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ và được tính theo công thức:
N: Tổng số lần xảy ra sự cố trong thời gian xác định độ khả dụng;
R
i
: Tổng số kênh thoại của mạng viễn thông di động mặt đất tại thời điểm
xảy ra sự cố thứ i;
r
i
: Số kênh thoại bị mất liên lạc trong sự cố thứ i;
t
i
: Thời gian sự cố thứ i.
- Chỉ tiêu: D ≥ 99,5%
T
f
=
∑
1
R
i
r
i
t
i
N
i-1
D = 1 -
T
f
T
r
11
Khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ:
- Định nghĩa: Khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ là sự không hài
lòng của khách hàng được báo cho DNCCDV bằng đơn khiếu nại.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ không được
vượt quá 0,25 khiếu nại trên 100 khách hàng trong 03 tháng.
Hồi âm khiếu nại của khách hàng
- Định nghĩa: Hồi âm khiếu nại của khách hàng là văn bản của DNCCDV
thông báo cho khách hàng có đơn khiếu nại về việc tiếp nhận khiếu nại và
xem xét giải quyết.
- Chỉ tiêu: DNCCDV phải xem xét và có văn bản hồi âm trong thời hạn 48 giờ
cho 100% khách hàng khiếu nại kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại.
Dịch vụ hỗ trợ khách hàng
- Định nghĩa: Dịch vụ hỗ trợ khách hàng là dịch vụ: giải đáp thắc mắc, hướng
dẫn sử dụng, cung cấp thông tin liên quan và thông báo cho khách hàng trụ
sở, số điện thoại, fax của dịch vụ hỗ trợ khách hàng.
- Chỉ tiêu:
+ Thời gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng qua điện thoại là 24 giờ
trong ngày.
+ Tỷ lệ cuộc gọi tới dịch vụ hỗ trợ khách hàng, chiếm mạch thành công và
nhận được tín hiệu trả lời của điện thoại viên trong vòng 60 giây ≥ 80%
tổng số cuộc gọi.
12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này đã trình bày một số cơ sở lý luận về dịch vụ điện thoại di động
và chất lượng dịch vụ điện thoại di động gồm các khái niệm và đặc điểm về dịch vụ,
dịch vụ điện thoại di động và chất lượng dịch vụ điện thoại di động. Trong đó, nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ điện thoại di động trong
bối cảnh hội nhập và cạnh tranh như hiện nay.
Với những lý luận tổng quan về dịch vụ điện thoại di động, các doanh nghiệp
sẽ nhận biết được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mạng điện thoại di động và
các tiêu chí đánh giá. Nền tảng lý luận của chương này là cơ sơ để Trung tâm
ĐTDĐ CDMA-SFONE đưa ra các mục tiêu cụ thể cùng với những giải pháp hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng dịch vụ
của mình và phát triển một cách bền vững.
13
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI
DI ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CDMA –
SFONE
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRUNG TÂM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CDMA
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Tên, địa chỉ của Trung Tâm ĐTDĐ CDMA:
- Tên gọi: Trung tâm điện thoại di động CDMA
- Trụ sở chính: 97 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Tên giao dịch đối ngoại: CDMA MOBILE PHONE CENTER
- Tên đơn vị: S-Telecom
- Tên thương hiệu: S-Fone
- Trang web: www.stelecom.com.vn, www.sfone.com.vn
Quá trình hình thành và phát triển:
Trung tâm điện thoại CDMA (S-Telecom) hoạt động theo giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động chi nhánh số 03005683 CN 41 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/9/2001.
Đây là dự án hợp tác giữa công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài
Gòn (SPT) với công ty SLD Telecom Pte. LTD (được thành lập vào tháng 10/2000
tại Singapore gồm các thành viên SK Telecom, LG Electronics, và Dong Ah
Elecomm) theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Business
Cooporation Contract) căn cứ vào luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Mục tiêu, phạm vi, thời hạn của dự án:
- Hợp tác xây dựng, khai thác, phát triển mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di
động và các dịch vụ viễn thông khác bằng công nghệ CDMA trên băng tần 800
14
MHz trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Mạng sẽ được nâng cấp lên mạng thông tin di
động thế hệ thứ 3 (3G) và hệ thống IS-2000 (IX).
- Thời hạn dự án: 15 năm (2001 – 2016)
- Tổng vốn đầu tư ban đầu cho dự án: 229.617.000 USD (cố định và lưu động).
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT)
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 064090 do sở Kế Hoạch Đầu Tư
Tp.HCM cấp ngày 17/10/1996.
- Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) là Công ty Cổ
phần đầu tiên được phép cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông phạm vi toàn
quốc.
- Lĩnh vực hoạt động:
o Các loại hình dịch vụ bưu chính trong nước và quốc tế.
o Dịch vụ điện thoại cố định. Dịch vụ điện thoại di động sử dụng công nghệ CDMA.
o Dịch vụ ADSL. Internet ( IXP, ISP, ICP, OSP).
o Các loại hình dịch vụ viễn thông sử dụng giao thức IP.
o Thiết kế lắp đặt bảo trì hệ thống thiết bị thuê bao và mạng bưu chính viễn thông.
o Sản xuất lắp ráp thiết bị viễn thông- điện tử, tin học; sản xuất phần mềm tin học.
o Xuất nhập khẩu và kinh doanh thiết bị bưu chính viễn thông.
Công ty SLD Telecom Pte. LTD :
SLD Pte. Ltd (hiện nay là SK Telecom Vietnam Pte. Ltd) là công ty được
thành lập vào tháng 10 năm 2000 tại Singapore bao gồm 3 thành viên là SK
Telecom, LG Electronics và Dong Ah Elecomm.
- SK Telecom: Với hơn 20 triệu thuê bao, chiếm hơn 50.4% thị phần thông tin
di động tại Hàn Quốc, và doanh thu hàng ngàn tỷ won/năm (doanh thu năm 2006 đã
đạt 10.65 nghìn tỷ won), SK Telecom được xếp vào một trong các công ty cung cấp
dịch vụ viễn thông hàng đầu trên thế giới. Trong quá trình hoạt động, SK không
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)