Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Loại nhân tố thứ 3: là các nhân tố ảnh hởng tạm thời đến dung lợng thị
trờng nh hiện tợng đầu cơ tích trữ gây ra các đột biến về cung cầu, các yếu tố
tự nhiên nh thiên tai, hạn hán, động đất các yếu tố về chính trị, xã hội
Nắm vững dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng trong từng thời
kỳ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng
hoá trên thị trờng thế giới giúp cho các nhà kinh doanh cân nhắc các đề nghị,
ra các quyết định kịp thời
+ Lựa chọn đối tợng giao dịch
Trong thơng mại quốc tế bạn hàng hay khách hàng nói chung là những
ngời hoặc tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các hợp đồng
mua bán hàng hoá hay các loại dịch vụ, các hoạt đọng hợp tác kinh tế hay
hợp tác kỹ thuật liên quan tới việc cung cấp hàng hoá xét về tính chất và mục
đích hoạt động, khách hàng trong thơng mại quốc tế có thể chia làm 3 loại:
- Các hãng hay công ty
- Các liên đoàn kinh doanh
- Các cơ quan nhà nớc
Phần lớn các nghiệp vụ mua bán trong thơng mại quốc tế điều do các
hãng hay công ty này thực hiện khi chọn nơc để xuất khẩu hàng hoá nhằm
đáp ứng nhu cầu trong nớc cần nghiên cứu tình hình sản xuất, khả năng cung
ứng và chất lợng hàng nhập khẩu, chính sách và tập quán thơng mại quốc tế
của nớc đó. Việc lựa chọn thơng nhân để giao dịch phải dựa trên cơ sở
nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tình hình sản xuất, kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh
doanh khả năng cung cấp hàng hoá thờng xuyên của hãng
- Khả năng về vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật
- Thái độ và quan điểm kinh doanh và chiếm lĩnh thị trờng hay cố
gắng giành lấy độc quyền về hàng hoá
- Uy tín của bạn hàng
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế trong thơng mại quốc tế nói
chung và trong kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng là hết sức cần thiết trong
hoạt động kinh doanh. Đó là bớc chuẩn bị và là tiền đề để doanh nghiệp có
thể tiến hành các hoạt động kinh doanh thơng mại quốc tế có hiệu quả cao
nhất
*Nghiên cứu hàng hoá xuất nhập khẩu:
+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trờng quốc tế
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Qua buôn bán quốc tế, giá cả của hàng hoá đợc coi là tổng hợp trong đó
bao gồm giá vốn của hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm
và các chi phí khác.
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với mỗi loại hàng hoá nhất định
trên thị trờng, giá đó phải là giá của những giao dịch thôngthờng không kèm
theo bất kỳ một điều kiện thơng maị đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ
tự do chuyển đổi để có thể dự đoán một cách tơng đối chính xác về giá cả
quốc tế của hàng hoá trớc hết phải căn cứ vào kết quả nghiên cứu và dự đoán
về tình hình thị trờng của hàng hoá đó, đánh giá đúng các nhân tố ảnh hởng
đến giá cả và xu hớng vận động của giá cả hàng hoá
Có rât nhiếu các nhân tố ảnh hởng đến giá cả hàng hoá, sau đây là một
số nhân tố:
Nhân tố chu kỳ: là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế, đặc
biệt là sự biến động thăng trầm của nền kinh tế các nớc lớn.
Nhân tố lũng đoạn của các công ty siêu quốc gia. Đây là nhân tố quan
trọng có ảnh hởng đến sự hình thành của giá cả của các loai hàng hóa trên thị
trờng quốc tế.
Nhân tố cạnh tranh, cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa ngời bán với
ngời bán, ngời mua với ngời mua và giữa ngời bán với ngời mua. Trong thực
tế cạnh tranh thờng làm giá cả hàng hoá rẻ hơn.
Nhân tố cung cầu: là những nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến
lợng cung cấp hoặc khối lợng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trờng.
Nhân tố lạm phát: giá cả hàng hoá không những phụ thuộc vào giá trị
của nó mà còn phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ.
Nhân tố thời vụ: là những nhân tố tác động đến giá cả theo tính chất
thời vụ của sản xuất và lu thông.
Ngoài những nhân tố trên đây giá cả quốc tế của hàng hoá còn chịu tác
động của các nhân tố khác nh: chính sách của chính phủ, tình hình an ninh,
chính trị của quốc gia Việc nghiên cứu và tính toán một cách chính xác giá
cả của các hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu lmột công việc khó khăn đòi
hỏi phải đợc xem xét trên nhiều khía cạnh, nhng đó lại là một nhân tố quan
trọng quyết định hiệu quả thực hiện các hợp đồng kinh doanh thơng mai quốc
tế.
*Thanh toán trong kinh doanh thơng mại quốc tế:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Thanh toán quốc tế trong thơng mại quốc tế
đợc hiểu là việc chi trả những khoản tiền, tín dụng có liên quan đến xuất
nhập khẩu của hàng hoá đợc thoả thuận trong các q uy định của các hợp đồng
kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.
Trong xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ việc thanh toán phải chú trọng
các vấn đề:
Tỷ giá hối đoái
Tiền tệ trong thanh toán quốc tế
Thời hạn thanh toán
Các phơng thức thanh toán
Các điều kiện đảm bảo hối đoái
Có nhiều loại tiền tệ đợc sử dụng trong thanh toán quốc tế, cần phải biết
cách lựa chọn các phơng tiện thanh toán, cũng nh thời hạn, phơng thức thanh
toán và các điều kiện thanh toán khác sao cho có lợi nhát, tránh nhng rủi ro
có thể xảy ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá, dịch vụ.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phần II: Thơng mại quốc tế của Trung Quốc trong
thời kỳ cải cách và mở cửa, tác động của nó đến
hoạt động xuất nhập khẩu
I. Tình hình của kinh tế Trung Quốc trớc thời kỳ mở cửa.
Trớc năm 1978 Trung Quốc còn là một nớc mang nặng t tởng bảo thủ
không có quan hệ với các nớc khác. Kinh nghiệm cho thấy đóng của để tự
xây dựng thì không thể thành công đợc. Đại hội X Đảng Cộng Sản Trung
Quốc (8/1973) kiên quyết mở cửa ra nớc ngoài, xuất phát từ t tởng của Đặng
Tiểu Bình là mở cửa để phát triển nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu Chủ nghĩa
xã hội. Theo ông "Tính u việt của chủ nghĩa xã hội biểu hiện ở chỗ sức sản
xuất của nó phải phát triển cao hơn chủ nghĩa t bản". Nhng việc Trung Quốc
kiên quyết mở cửa ra nớc ngoài còn liên quan đến một cách nhìn mới về tình
hình quốc tế. Theo Đặng Tiểu Bình ngày nay tiếp tục con đờng cách mạng xã
hội chủ nghĩa là vấn đề " hoà bình và phát triển" tức là tất yếu phải có đờng
lối đổi mới cải cách và mở cửa. Để tìm hiểu tầm sâu sắc của chủ trơng mở
cửa của Trung Quốc ta sẽ xét qua tình hình Trung Quốc thời kỳ trớc khi
Trung Quốc mở cửa.
1. Tình hình thế giới từ 1960- 1970: Có nhiều biến đổi.
Cuộc đối đầu giữa các nớc xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa dịu
xuống. Cuộc chạy đua vũ trang mỗi ngày một quyết liệt. Đói nghèo, dốt nát,
bệnh tật, chiến tranh luôn đeo bám những ngời dân vô tội. Trớc tình hình đó
Trung Quốc lấy đờng lối mở cửa ra nớc ngoài thay đờng lối đối đầu với các
lực lợng đế quốc.
Những vấn đề toàn cầu cấp bách đã xuất hiện yêu cầu phải mở cửa để
hoà nhập với thế giới.
Do những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các quan hệ chính trị và kinh tế thế
giới mỗi ngày một phức tạp đòi hỏi một cách cấp bách phải giải quyết những
vấn đề một cách thoả đáng nh vấn đề chiến tranh vũ khí hạt nhân, độc lập
dân tộc
Việc giải quyết những vấn đề toàn cầu là của tất cả các nớc trên thế
giới, cần phải có sự cộng tác Việc nhận thức này liên quan đến đờng lối mở
cửa của Đặng Tiểu Bình.
2. Sự xuất hiện của các lực lợng sản xuất mới:
Sự ra đời của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong đó trí tuệ là
trung tâm làm nên sự ra đời của vật liệu mới, năng lợng mới Và đặc biệt là
sự ra đời của ngời máy thay thế cho lao động chân tay.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Vấn đề hợp lí hoá sản xuất tạo nên s phát triển đáng kể trên thế giới.
Với mở cửa phải gắn liền với cải cách đờng lối đó của Trung Quốc đó là tất
yếu cũng nh đờng lối của các nớc khác trên đà phát triển và hoà nhập nền
kinh tế thế giới.
3. Sự phát triển với tốc độ cao của một số nớc khu vực Châu á- Thái
Bình Dơng là sức ép thúc đẩy Trung Quốc mở cửa.
Tất cả các nớc NIES và các nớc ASEAN nhận thấy xu thế toàn cầu hoá
của nền sản xuất, cho nên đổi hớng sản xuất của mình từ chỗ nhập khẩu sang
chỗ hớng về xuất khẩu tức là thúc đẩy qúa trình mở cửa. Từ những nguyên
nhân trên đã tác động nhiều đến việc Trung Quốc mở cửa.
Tác động của bối cảnh trong nớc đối với chính sách kinh tế đối ngoại
của Trung Quốc.
*Nhân tố chính trị t tởng, văn hoá
Phải có chuyển biến về chính trị mới có những thành tựu trong những
lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.
Trung Quốc muốn phát triển phải chấm dứt đấu tranh chính trị lấy sản
xuất làm nhiệm vụ trung tâm. Nố đợc thể hiện rõ qua hội nghị TW III khoa
XI của ĐCS Trung Quốc vào 12- 1978.
Trung Quốc có ảnh hởng rất lớn của truyền thống nên gặp không ít khó
khăn trong công cuộc đổi mới, tuy nhiên không ngăn cản đợc Trung Quốc
đổi mới và phát triển.
Ngoại thơng từ xa xa đã có vị trí quan trọng ở Trung Quốc, đã có thời
ngoại thơng Trung Quốc vơn xa ra các nớc Châu Mỹ La Tinh. Ngoại thơng
vốn dĩ đã có vai trò quan trọng với Trung Quốc nhng trong thời phong kiến
nó cũng lên xuống bấp bênh cùng với các triều đại phong kiến lúc đợc đề cao
lúc lại " chìm nghỉm xuống".
*Nhân tố kinh tế xã hội
Mở cửa kinh tế đối ngoại là phần quan trọng trong chính sách mở cửa
của Trung Quốc nhằm khởi động các tiềm năng kinh tế nên đã tạo lên cao
trào sản xuất ở mọi nghành, mọi địa phơng
Để có đợc một chiến lợc mở cửa mà Trung Quốc phải lật lại biết bao bài
học quá khứ về sự thất bại, chậm chân bởi Trung Quốc có cơ sở hạ tầng yếu
kém, tình hình tài chính bi đát.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trớc khi mở cửa Trung Quốc đã có nhiều chiến lợc sửa sai và đạt đợc
những thành tựu đáng kể nhng mở cửa vẫn là sự lựa chọn đúng đắn nhất của
ĐCS Trung Quốc.
II. Chính sách kinh tế mở cửa và tác động của nó đối với xuất
nhập khẩu:
1. Nội dung của chính sách kinh tế trong thời kỳ mở cửa
Chính sách kinh tế mở cửa của Trung Quốc đợc thực hiện từ 1979 theo
quyết định của hội nghị TW lần 3 khoá XI. Chính sách này là một bộ phận
của cuộc cải cách thể chế kinh tế đợc bắt đầu từ cuối những năm 1970. Thực
chất cải cách thể chế kinh tế là sự lựa chọn lại hình thức thực hiện chế độ xã
hội chủ nghĩa, tức là một quá trình cải tạo và thay thế thể chế kinh tế cũ bằng
thế thể chế kinh tế mới.
Cải cách thế thể chế kinh tế là một nhu cầu bức xúc, bởi lẽ từ lúc thành
lập nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc đã xây dựng
một thế thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa theo sự hiểu biết truyền thống. ở
Trung Quốc đã hình thành mô hình kinh tế xã hội theo mô hình của Liên
Xô- một mô hình đợc hình thành trong những năm 1930- 1950. Đồng thời
mô hình đó cũng đợc củng cố thêm bởi chế độ Cộng Sản chủ nghĩa quân sự
trong thời kỳ chiến tranh cách mạng của Trung Quốc. Tóm lại, cho đến trớc
khi cải cách, nền kinh tế của Trung Quốc là một nền kinh tế về bản chất
không phải kinh tế hàng hoá mà là kinh tế hiện vật. Trong 30 năm, nền kinh
tế đó đã bộc lộ những bản chất cơ bản: thể chế kinh tế ngày càng xơ cứng,
tính hiệu quả giảm sút, nảy sinh quan liêu, cản trở sức sản xuất phát triển, ít
vận dụng thành công các thành tựu khoa học, kỹ thuật trên thế giới, kinh tế
đối ngoại kém phát triển trong khi đó, hoàn cảnh quốc tế lại có những biến
đổi hết sức to lớn và sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học- công nghệ diễn ra
rất mạnh mẽ và cuốn hút tất cả các nớc trên thế giới ở những mức độ khác
nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế
hoa sâu sắc, ảnh hởng lớn tới nhịp độ phát triển và cuộc sống của các dân tộc.
Khả năng hợp tác hoá và chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế
ngày càng phong phú; đồng thời các nhân tố tăng cờng sự phụ thuộc lẫn nhau
cũng đã đợc nhân lên gấp bội. Và chính những thay đỏi sâu sắc đang diễn ra
trong cơ cấu kinh tế thế giới đòi hỏi tất cả các quốc gia phải cơ cấu lại nền
kinh tế nớc mình cho phù hợp với sự phát triển mới. Cha bao giờ trên toàn thế
giới có một làn sóng đổi mới có cấu kinh tế nh ngày nay. Trong bối cảnh đó,
hoà bình, ổn định và phát triển là đòi hỏi bức bách nhất của chính trị thế giới.
Mặt khác, cạnh tranh kinh tế đang diễn ra ác nghiệt hơn bao giờ hết. Cuộc
đấu tranh giai cấp ngày càng chuyển sâu vào trận địa kinh tế một cách triệt
để gay go và phức tạp. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các nớc, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là những nớc lạc hậu về
kinh tế.
Trong bối cảnh đó Trung Quốc phải lựa chọn con đờng phát triển cho
phù hợp với những điều kiện của mình; phải tìm cách tìm ra cho mình một lợi
thế so sánh mới trong phân công lao động quốc tế, trong xu thế của nền kinh
tế thế giới.
2- 1978, Quốc hội Trung Quốc khó V kỳ họp thứ nhất đã chính thức
thông qua chơng trình 4 hiện đại hoá: Công nghiệp, nông nghiệp, khoa học-
kỹ thuật và quốc phòng; Dự định đến năm 2000 tỏng sản phẩm xã hội sẽ tăng
lên gấp 4 lần; Trung Quốc sẽ trở thành một cờng quốc có vị trí xứng đáng
trên thế giới. Chơng trình này sẽ không khể thực hiện đợc nếu không sử dụng
yếu tố tích cực bên ngoài. Do vậy, hội nghị TW lần 3 khoá XI đã có những
chính sách kinh tế mở cửa. Chính sách này đợc thực hiện đồng thời với cải
cách trong nớc. Hai yếu tố hỗ trợ cho nhau và là sự đảm bảo để thực hiện ch-
ơng trình 4 hiện đại hoá, để hoàn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang
màu sắc Trung Quốc.
Về ngoại thơng
Từ 1978 Trung Quốc mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu, đã ký các hiệp
định mậu dịch dài hạn với Nhật Bản vào 2- 1978, với các nớc Thị truờng
chung Châu Âu 4- 1978, với Mỹ tháng 6- 1979. Những hiệp định này quy
định cho các bên chế độ tối huệ quốc, cho Trung Quốc huởng u đãi về thuế
và phần nào giúp Trung Quốc khắc phục xự phân biệt đối xử khi xuất hàng
vào các thị trờng t bản. Tháng 1- 1980 khối Thị truờng chung Châu Âu xếp
Trung Quốc vào số các nớc đợc hởng u đãi chung của khối này đối với các n-
ớc đang phát triển.
Dới đây là vài số liệu của những năm gần đây nhất chứng minh sự phát
triển ngoại thơng của Trung Quốc.
- Năm 1978, kim ngach ngoại thơng đạt 39, 5 tỷ đo la, nhập khẩu đạt
43, 2 tỷ đô la. Năm 1988, kim ngach ngoại thuơng đạt 102, 8 tỷ đô la trong
đó xuất khẩu đạt 47, 5 tỷ đô la, nhập khẩu đạt 55, 3 tỷ đô la.
- Năm 1989, kim ngach ngoại thuơng đạt 111 tỷ đô la trong đó nhập
khẩu đạt 52, 5 tỷ đô la tăng 10, 5%.
- Năm 1999, kim ngach ngoại thuơng đạt 115, 4 tỷ đô la tăng 4, 6 lần so
với năm 1978. Xuất khẩu từ hàng thứ 34 trong buôn bán thế giới đã vựot lên
hàng thứ 15 vào năm 1990. Số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên
100 triệu đô la từ 18 loại tăng lên 83 loại. Tỷ trọng thành phẩm công nghiệp
xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ 46, 5% tăng lên 74, 5%.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong những năm cải cách, mở cửa vừa qua Trung Quốc phát triển
mạnh quan hệ kinh tế buôn bán với nhiều nớc trên thế giới, nhng mạnh nhất
là với các nớc t bản phát triển. Các công ty của Nhật, Mỹ, Châu Âu, Châu á,
Hồng Kông đã bỏ ra hàng tỷ đô la để làm ăn với các xí nghiệp của Trung
Quốc ; Khoảng 70% khối lợng buôn bán của Trung Quốc là với các nớc t
bản. Quan hệ buôn bán Mỹ- Trung phát triển đặc biệt nhanh. Hai nớc đã kí
hơn 40 hiệp định giữa hai Chính phủ, hàng nghìn hợp đồng với các công ty t
nhân. Trong 10 năm Trung Quốc nhập từ Mỹ 40 tỷ đô la kỹ thuật. Ngoài ra
Trung Quốc mở rộng tiếp xúc và hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thơng mại,
khoa học- kỹ thuật và văn hoá với nhiều nớc khác. Hiện nay, Trung Quốc đã
thiết lập quan hệ ngoại giao với 139 nớcvà quan hệ buôn bán với hơn 180 nớc
trên thế giới.
Về cơ cấu hàng xuất khẩu
Trong nhiều năm trớc khi cải cách, mở cửa, hàng xuất khẩu của Trung
Quốc chủ yếu là những hàng gia công sơ chế, ít những mặt hàng kỹ thuật
cao, tinh vi hoặc những hàng xuất khẩu dới dạng nguyên liệu. Nhng trong
những năm gần đây, chỉ số giá cả sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị tr-
ờng thế giới sụt đi rất nhiều so với đầu những năm 80. Thị trờng thế giới
không còn a chuộng những sản phẩm chứa hàm lợng lao động cao, mà đòi
hỏi những sản phẩm kỹ thuật cao, tiết kiệm nguyên liệu, đáp ứng hững nhu
cầu, thị hiếu của xã hội. Nền kinh tế thế giới ngày càng đợc mở rộng với tính
chất một thể thống nhất, và cộng đồng thế giới ngày càng hoàn thiện những
thớc đo chung tạo cho mỗi nớc những điều kiện để phát triển. Ngày nay mỗi
nớc đều đứng trớc những khả năngthuận lợi to lớn và cũng rất hiện thực là:
có thể tìm kiếm đầu vào cho và làm ra một sản phẩm từ cả thế giới, đồng thời
thị trờng tiêu thụ sản phẩm cũng là cả thế giới. Vấn đề là ở chỗ mỗi nớc phải
có chính sách sao cho guồng máy kinh tế nớc mình có thể tận dụng đợc
những khả năng to lớn đó.
Chính sách kinh tế mở cửa của Trung Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế trong nớc và đáp ứng đòi hỏi của thị trờng thế giới. Và đó cũng
chính là cái logic buộc Trung Quốc phải thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.
Trong những năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc có những cải tiến rõ rệt
trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Tỷ lệ hàng xuất khẩu hàng thành phẩm công
nghiệp tăng nhanh, nhất là những mặt hàng truyền thống nh: quần áo, giầy
dép, đò trải giờng, đồ chơi trẻ em, dụng cụ thể thao, hàng thủ công mỹ nghệ.
Trong đó hàng dệt và may mặc chiếm vị trí quan trọng nhất và chủ yếu là
xuất sang Mỹ, Nhật, tây Đức, Canada. Xuất khẩu dầu mỏ và than cũng tăng
nhanh: khoảng 80% mặt hàng này xuất sang Nhật và 20% xuất sang Mỹ.
Tỷ trọng thành phẩm công nghiệp trong tổng kim nghạch xuất khẩu từ 46,
5% năm 1978 tăng lên 74, 5% trong năm 1990.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Để có thêm khả năng xuất khẩu những sản phẩm kỹ thuật cao. Trung
Quốc chủ trơng nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Từ hội nghị toàn
quốc bàn về nhập khẩu kỹ thuật họp vào 4- 1985 Trung Quốc đã nhập kỹ
thuật và công nghệ của trên 40 nớc, trong đó trên 70% là nhập từ Mỹ, Nhật,
Anh, Pháp, Đức.
đến nửa đầu năm 1991 Trung Quốc đã ký những hợp đồng nhập khẩu
kỹ thuật với tổng kim ngạch hơn 26, 4 tỷ đô la trong đó có một số hạng mục
kỹ thuật cao xuất khẩu sang Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức.
Hiện nay Trung Quốc đạng từng bớc thực hiện thay thế nhập khẩu một
số loại sản phẩm kỹ thuật cao, vốn lớn để chuẩn bị cho việc xuất khẩu trong
những năm tới những sản phẩm nh: máy công cụ chính xác điều khiển từ
xa, máy phát điện, ô tô con, sắt thép, hoá chất Đồng thời phát triền những
nghành có kỹ thuật cao nh: điện tử, tin học, thông tin, quanh học, hàng
không, vũ trụ, sinh học công nghệ và siêu âm tổ chức và phát huy tài năng
trong nớc, đồng thời tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nớc khác và tham
gia nghiên cứu với các nớc khác.
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8, Trung Quốc cũng chủ trơng tăng xuất
khẩu để tăng ngoại tệ và đặt trọng tâm vào việc cải thiện cơ cấu hàng xuất
khẩu và nâng cao chất lợng hàng xuất khẩu, đẩy mạnh chuyển biến từ xuất
khẩu hàng gia công sơ chế là chính sang xuất khẩu hàng chế thành phẩm gia
công là chính. Ngoài những mặt hàng truyền thống, Trung Quốc sẽ tăng thêm
xuất khẩu hàng cơ điện, công nghiệp nhẹ, dệt và những sản phẩm có kỹ thuật
cao nh đã trình bày ở trên. Đồng thời Trung Quốc sẽ tích cực phát triển hàng
nông nghiệp xuất khẩu, vật liệu xây dựng, khoáng sản không phải là kim loại
để tăng thêm ngoại tệ. Trong quá trình cải tiến hệ thống sản xuất hàng xuất
khẩu, Trung Quốc chú trọng vào những sản phẩm mũi nhọn có triển vọng
phát triển, khuyến khích và mở rộng xuất khẩu đối với hàng của các xí
nghiệp vốn ở bên ngoài. Và để đảm bảo việc thu càng nhiều ngoại tệ nhờ
xuất khẩu, nâng cao chất lợng và tín nhiệm hàng xuất khẩu Trung Quốc đang
thi hành và hoàn chỉnh các chính sách ủng hộ xuất khẩu, hạ giá thành xuất
khẩu, tăng cờng các dịch vụ, củng cố thị truờng đã có và mở rộng những thị
trờng mới. Đồng thời với việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, Trung Quốc
đang và sẽ phát triển hơn nữa xuất khẩu lao động, hiện nay Trung Quốc đã
nhânj thầu lao động với 130 nớc và khu vực. Đến nửa đầu năm 1991 Trung
Quốc đã ký gần 1, 9 vạn hợp đồng với tổng trị giá là 16, 42 tỷ đôla, nhận thầu
các công trình ở nớc ngoài, đẩy mạnh vận tải hàng không và vận tải biển
quốc tế, phát triển nghành du lịch tăng thêm thu nhập ngoại tệ phi mậu dịch.
Về thu hút vốn đầu t kỹ thuật.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Từ khi thực hiện chính sách mở cửa đến nay, số vốn đầu t của nớc ngoài
vào Trung Quốc tăng rất nhanh. Từ 1979 đến tháng 6- 1986, Trung Quốc đã
thu hút đợc 24, 88 tỷ đôla, trong đó số đầu t trực tiếp là: 6, 69 tỷ đôla, số n-
ớc ngoài cho vay là 18, 19 tỷ đôla. Đến nửa đầu năm 1991 Trung Quốc đã
vay đợc gần 24 tỷ đôla. Trung Quốc đã phê chuẩn hơn 3, 4 vạn xí nghiệp nớc
ngoài đầu t đi và sản xuất kinh doanh đạt giá trị sản luợng công nghiệp
khoảng 70 tỷ đôla, chiếm 3, 6% tổng giá trị sản lợng công nghiệp toàn quốc.
Kim ngạch xuất khẩu của các xí nghiệp này đạt 7, 8 tỷ đôla, chiếm 12, 6%
tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc.
Số vốn đầu t trực tiếp của t bản nớc ngoài vào Trung Quốc trong mấy
năm qua dã vợt xa số đầu t trực tiếp vào các nớc Châu á khác. Sở dĩ nh vậy là
do nhiều nhân tố, trong đó chính sách mở cửa là nhân tố quan trọng nhất.
Việc Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế và thực hiện chính sách mở cửa
đã tạo hoàn cảnh đầu t cho các nớc và cho những t bản muốn đầu t vào Trung
Quốc. Các khoản đầu t và tiền vốn của nớc ngoài đã và đang có tác dụng
ngày càng quan trọng đối với công cuộc hiện đại hoá Trung Quốc. Nó bổ
xung cho tiền vốn đang thiếu của Trung Quốc, thúc dẩy cải tién kỹ thuật ở
các nhà máy cũ, nâng cao trình độ quản lí kinh doanh, trình độ kỹ thuật ở đó
làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới và góp phần làm
sống động nền kinh tế trong nớc.
Một trong những con đờng tiếp thu khoa học kỹ thuật là lợi dụng vốn
đầu t của nớc ngoài đa khoa học kỹ thuật và phơng pháp quản lí tiến tiến vào
trong nớc. Phạm vi tiếp thu kỹthuật rất rộng, đó không chỉ là kỹ thuật sản
xuất và chủ yếu là kỹ thuật sản xuất công nghiệp, mà còn bao gồm kỹ thuật
quản lí kinh doanh, lu thông vật t, tiết kiệm năng lọng và kỹ thuật phân tích
dự đoán tính hình thị trờng Có thể đa kỹ thuật vào bằng con đờng gián tiếp
nh: giấy cho phép chuyển nhợng kỹ thuật, bàn bạc kỹ thuật hoặc bằng
hình thức trực tiếp nh nhập khẩu kỹ thuật, làm gia công
Trung Quốc sử vốn của nớc ngoài đã mở ra những triển vọng mới, đã
đem lại những hiệu quả đáng kể có lợi cho việc điều chỉnh kinh tế của Trung
Quốc: xây dựng trọng điểm năng lợng, giao thông và cải tiến kỹ thuật ở các
xí nghiệp hiện có, tiếp thu kinh nghiệm quản lí khoa học kỹ thuật tiên tiến
của nớc ngoài.
Nhng bên cạnh những kết quả lớn, việc thu hút vốn đầu t của nớc ngoài
còn đang gặp một số khó khăn. Trớc hết là chất lợng thu hút vốn đầu t cha
cao và trong những năm đầu còn tập trung vào những nghành nh du lịch, nhà
đất, công nghiệp nhẹ, khách sạn. Còn về mặt kỹ thuật, những xí nghiệp do t
bản nớc ngoài đầu t phần lớn có trình độ khoa học thấp, sử dụng nhiều lao
động, nên cha đạt đợcmục đích thu hút kỹ thuật và kỹ năng quản lí tiên tiến.
Ngoài ra, Trung Quốc còn thiếu các chuyên gia thạo giỏi để quản lí tốt các
qúa trình xuất nhập khẩu và sử dụng vốn nớc ngoài.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét