Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

212559



4
theo các chiến dịch, dân số vùng kháng chiến xê xích trong vòng 5,7,10 triệu
người. Phần lớn dân cư đã quen sống gian khổ, cầu khơng lớn, sức mua rất kém.
Như vậy, do chính sách cai trị của thực dân Pháp, cùng với tác động của chiến
tranh làm cho kinh tế miền Bắc kiệt quệ. Cơ cấu kinh tế miền Bắc là sản xuất nơng
nghiệp, lạc hậu; sản xuất nơng nghiệp nhỏ, manh mún; cơng nghiệp hầu như khơng
đáng kể. Cơ sở hạ tầng cực kỳ nghèo nàn.
Với chiến thắng Đơng-xn 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện
Biên Phủ, đã buộc thực dân Pháp phải ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, rút qn về
nước, lập lại hồ bình trên cơ sở thừa nhận những chủ quyền chủ yếu của ba dân
tộc Đơng Dương, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược và can thiệp Mỹ. Do so sánh lực lượng và tình hình chính trị thế giới
phức tạp lúc đó, theo hiệp định Giơ-ne-vơ đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai
miền Nam- Bắc vơi hai chế độ chính trị khác nhau: miền bắc hồn tồn được giải
phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ
và các lực lượng tay sai thống trị. Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân
dân trên cả nước còn chưa hồn thành. Nhân dân miền Bắc vừa phải lo hàn gắn vết
thương chiến tranh, khơi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, vừa phải
tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới
thực hiện thống nhất nước nhà.
Do đó, ngay khi hồ bình lập lại, nhân dân miền bắc bắt tay ngay vào tiếp
quản, thực hiện cuộc đấu tranh để giải phóng hồn tồn miền Bắc. Lợi dụng 300
ngày chuyển qn tập kết theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ, thực dân Pháp
phối hợp với đế quốc Mỹ ra sức phá hoại miền Bắc. Chúng cài lại gián điệp, đốt
phá kho tàng, phá hoại những cơng trình cơng cộng, những di tích lịch sử và văn
hố( như phá chùa Một Cột, cầu Phủ Lạng Thương, nhà máy điện ng Bí…).
Chúng vơ vét tài sản, vật tư, tháo rỡ máy móc thiết bị, mang theo hoặc huỷ hoại hồ
sơ, tài liệu hòng gây khó khăn cho ta trong việc kiểm kê, điều hành cơng việc và
hoạt động sau này. Chúng đóng cửa nhà máy, hãng bn, cơng sở, trường học làm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


5
cho sinh hoạt ở thành phố, thị xã ngừng trệ. Chúng còn tung tin xun tạc, bơi nhọ
chế độ miền Bắc, biạ đặt tin “chính phủ Việt Nam cấm đạo”, “chúa đã vào
Nam”…để ra sức lơi kéo, dụ dỗ, cưỡng bức gần một triệu đồng bào cơng giáo di cư
vào Nam. chúng ra sức lơi kéo, mua chuộc các chun gia vào Nam.
Lợi dụng nếp sống lạc hậu, mê tín dị đoan của đồng bào miền núi, chúng bịa
ra việc “xưng vua”, “đón vua”, xúi giục đồng bào chống lại chính sách của chính
phủ, bỏ sản xuất, gât mất trật tự an ninh . nhân dân miền Bắc nhất là nhân dân
những vùng sắp giải phóng, đã tiến hành các cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại âm
mưu trên của địch.
Phong trào đấu tranh bảo vệ máy móc, tài sản của cơng nhân đã diễn ra mạnh
mẽ ở nhiều nơi. Hàng nghìn cán bộ đảng viên và các đồn thể quần chúng đã lăn
lộn, đi sâu vào từng gia đình ở thành phố, thị xã, nơng thơn để vận động quần
chúng chống địch cướp phá tài sản, vận động binh lính người Việt trong qn đội
“liên hiệp Pháp” trở về với gia đình và chống địch cưỡng ép đồng bào di cư vào
nam. Miền Bắc lần lượt được giải phóng. Việc tiếp quản vùng mới giải phóng, nhất
là các thành thị, hồn tồn tốt đẹp. Ngày 16/5/1955 tốn lính Pháp cuối cùng rút
khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc hồn tồn được giải phóng.
Sau khi tiếp quản xong, dân số miền Bắc thay đổi khơng đáng kể so với thời
kỳ trước (13.574000 người). Nhưng kinh tế thì lại gặp rất nhiều khó khăn. Hồ Chủ
Tịch đã nói về cảnh tượng của miền Bắc lúc đó như sau: “ chiến tranh xâm lược
của bọn thực dân đã làm cho nền kinh tế nước ta kiệt quệ. 1/7 ruộng đất bị bỏ
hoang, 1/3 ruộng đất khơng có nước tưới để cày cấy, các cơng trình thuỷ lợi đều bị
phá huỷ, 1/4 số trâu bò bò bị bắn giết. Hàng chục vạn nóc nhà, hàng trăm thị trấn
lớn nhỏ bị đốt trụi. Số nhà máy đã ít ỏi lại đều bị giặc tàn phá, máy móc bị tháo rỡ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


6
mang đi, sản xuất bị bế tắc. Đường sá, cầu cống, xe cộ phần lớn bị phá hoại. ở
thành phố, hàng chục vạn cơng nhân thất nghiệp. Nạn đói đe doạ khắp nơi.”
1

Trong nơng nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc, bị thiệt hại nặng
nề: 1.430.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang, hàng vạn trâu bò bị giết hại, nơng cụ bị đốt
huỷ, 8 cơng trình thủ nơng lớn và nhiều cơng trình thuỷ nơng vừa và nhỏ bị phá
huỷ. Phần lớn ruộng đất chỉ làm một vụ, năng suất rất thấp. Kỹ thuật canh tác thơ
sơ, thiên tai nặng nề. Sức kéo chủ yếu là trâu bò, nhưng thiếu nghiêm trọng do hàng
vạn trâu bò bị giết trong chiến tranh. Những đồng bào cơng giáo bị dụ dỗ cưỡng ép
di cư vào Nam đã để lại hàng chục nghìn ha ruộng đất bị bỏ hoang. Trên 1 triệu
người bị đói, làng mạc bị đốt phá trơ trụi, xơ xác…vv. Nơng nghiệp miền Bắc lúc
này chỉ còn lại là một nền kinh tế sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu. Và trên thực tế
nơng nghiệp miền Bắc đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong sản xuất.
Trong cơng nghiệp, phần lớn nhà máy xí nghiệp khơng hoạt động hoặc hoạt
động cầm chừng. Ngun liệu, nhiên liêu máy móc thiếu nghiêm trọng. Gần 50%
kho tàng, cơng sở bị phá hoại. Tại Hà Nội, Hải Phòng, khi ta vào tiếp quản chỉ có
nhà máy điện và nhà máy nước hoạt động. Sản lượng mỏ than Hồng gai chỉ còn
986000 tấn, giảm 40% so với năm 1939. vài năm sau khi tiếp quản giá trị sản lượng
cơng nghiệp còn rất thấp, chiếm chưa đầy 10% tổng số giá trị sản lượng cơng nơng
nghiệp.
Trong giao thơng vận tải mạch máu của nền kinh tế quốc dân bị phá huỷ
nghiêm trọng. Hàng nghìn km đường sắt bị tàn phá, chỉ có hơn 100 km tuyến
đường sắt hà Nội-Hải Phòng hoạt động; 3500 cầu cống bị phá huỷ, phương tiện vận
tải thiếu thốn, việc giao lưu giữa các vùng gặp rất nhiều khó khăn.
Thương nghiệp bị đình đốn, các hoạt động đầu cơ, nâng giá lũng đoạn thị
trường diễn ra phổ biến. Nhà nước mới chỉ nắm được 40,5% khối lượng hàng hố

1

Báo cáo của hồ chủ tịch tại hội nghị chính trị đặc biệt ngày 27/2 tháng 3 năm 1964, NXB sự thật, Hà
nội, 1964 tr5) .

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


7
bán bn và 22,5% hàng bán lẻ. Sản xuất ngừng trệ, lưu thơng phân phối khó khăn,
hàng hố khan hiếm nghiêm trọng. Tiền tệ chưa thống nhất, nền kinh tế quốc dân ở
miền Bắc mất cân đối gay gắt. Hàng chục vạn người thất nghiệp, kể cả hàng vạn
binh lính nguỵ bỏ ngũ, về các địa phương. Nạn đói lan tràn khắp nơi. Tháng 9/1954
miền Bắc có gần nửa triệu người bị đói. Do chính sách ngu dân cuả thực dân Pháp
và do hồn cảnh chiến tranh, nền giáo dục miền Bắc ở trong tình trạng thấp kém,
hàng triệu người bị mù chữ. Năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kỹ
thuật. Mạng lưới y tế lạc hậu, nhiều dịch bệnh như sốt rét, lao phổi, hoa liễu, đau
mắt hột…hồnh hành phổ biến. Thực dân Pháp còn lợi dụng vấn đề dân tộc và tơn
giáo để gây thêm những khó khăn phúc tạp chia rẽ trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Tình hình kinh tế sau tiếp quản đã đặt ra cho nhân dân miền Bắc rất nhiều
khó khăn trong việc bắt tay vào làm nhiệm vụ kinh tế mới và làm hậu phương vững
chắc cho tuyền tuyến miền Nam.
Tuy vậy, Đảng và nhà nước ta đã xác định những khó khăn đó chỉ là những
khó khăn tạm thời, trước mắt. Sự thực là bên cạnh những khó khăn, thì miền Bắc
cũng có rất nhiều những thuận lợi để làm nhiệm vụ đó. Trước hết là, khi kết thúc
q trình tiếp quản chúng ta có nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ của
chun chính vơ sản, làm đòn bẩy cho mọi cuộc cải tạo kinh tế và xã hội. Chúng ta
có nền kinh tế quốc doanh xây dựng từ trong kháng chiến và được củng cố sau khi
hồ bình. Trong khu vực sản xuất cơng nghiệp nhà nước, lực lượng cán bộ kỹ thuật
tuy khơng nhiều, nhưng ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hồ đã đào tạo những cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc thế hệ đầu
tiên. cho nên ngay những năm đàu sau giải phóng miền Bắc đã có khoảng 300 cán
bộ tốt nghiệp đại học và cao đẳng và gần 1000 cán bộ kỹ thuật trong biên chế cán
bộ cơng nhân viên. Nhất là chúng ta có Đảng lao động Việt Nam, Đảng của giai
cấp cơng nhân, trải qua 30 năm giữ bá quyền lãnh đạo cách mạng và kháng chiến
thắng lợi, có uy tín hết sức lớn lao, có kinh nghiệm già dặn. Còn nhân dân lao động
thì rất phấn khởi và tin tưởng vào tương lai của mình sau khi thắng được bọn đế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


8
quốc mạnh hơn. Giai cấp tư sản dân tộc thì đã từng hoặc ít nhiều ủng hộ cách mạng
và kháng chiến. Về mặt kinh tế họ phụ thuộc vào nhà nước dân chủ nhân dân. Sau
khi cách mạng thành cơng đã qt sạch những trở ngại của tư bản ngoại quốc và
chế độ phong kiến bảo thủ, các nhà tư sản dân tộc sẵn sàng bỏ vốn mua máy móc,
mở mang kinh doanh đó là lẽ tất nhiên của khuynh hướng phát triển chủ nghĩa tư
bản dân tộc khi có điều kiện. Mặc dù cải cách ruộng đất mới chỉ đang thực hiện
nhưng trải qua các cuộc cải cách ruộng đất từng phần đó, người nơng dân lao động
đã một phần có ruộng đất trong tay, họ đã có đựơc sống dễ chịu và khá giả hơn.
Đặc biệt thuận lợi hơn nữa là khi chúng ta bắt tay vào làm cách mạng XHCN
và xây dựng CNXH ở miền Bắc thì các nước XHCN đã trở thành một hệ thống thế
giới vững mạnh đứng đầu là Liên Xơ. thế cân bằng giữa CNXH và CNTB đã dần
được xác lập. Liên Xơ và các nước Đơng Âu đang bắt tay vào cơng cuộc xây dựng
kinh tế. Trung Quốc tiếp tục thực hiện cải cách ruộng đất, hợp tác hố nơng
nghiệp, cơng nghiệp hố xã hội chủ nghĩa. Với những tiềm lực đó các nước XHCN
anh em đã viện trợ cho chúng ta rất nhiều cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Có thể nói rằng tất cả những thuận lợi đó chính là những điều kiện giúp
chúng ta nhanh chóng vượt qua những khó khăn ở trên. Nước ta bị chia cắt đất
nước, điều đó tất nhiên làm mất chỗ bổ sung giữa hai miền; nhưng đó khơng phải là
trở ngại khơng thể vượt qua. Trái lại việc đất nước bị chia cắt càng kích động lòng
u nước của nhân dân ta vượt mọi khó khăn xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm
cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.



Phần 2. Biến đổi cơ cấu kinh tế miền Bắc từ 1954-1960
Xuất phát từ hồn cảnh quốc tế và trong nước đã trình bày ở trên, nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hồ đã đề ra nhiệm vụ của miền Bắc là chuyển sang làm
nhiệm vụ cách mạng XHCN. Lê nin nói: “cách mạng dân chủ tư sản thành cơng,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


9
chúng ta khơng dừng lại nửa đường mà sẽ lập tức tiến lên cách mạng XHCN, dựa
vào lực lượng của giai cấp vơ sản có tổ chức và có giác ngộ”. tập trung đầu tư xây
dựng lại nền kinh tế mới, kinh tế XHCN. Từ đó Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây
dựng nền kinh tế mới.
Đầu năm 1955, chính phủ đã đề ra trương trình khơi phục kinh tế mà những
nét lớn đã được kỳ họp thứ 4 của quốc hội (tháng 3/ 1955) thơng qua. Tại kỳ họp
thứ 4 (tháng 3/1955), Quốc hội nhấn mạnh : “ nhiệm vụ chung của thời kỳ khơi
phục kinh tế là dựa vào sức lực của nhân dân ta, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của
các nước bạn-sức ta là chính-nhằm khơi phục sản xuất nơng nghiệp, tiểu cơng
nghiệp và cơng nghiệp; khơi phục thương nghiệp và bình ổn giá cả, củng cố nền tài
chính quốc gia; khơi phục giao thơng vận tải”
2
2.1. Trong nơng nghiệp
Xuất phát từ đặc điểm của cơng nghiệp hố XHCN ở nước ta là tiến thẳng
lên CNXH khơng qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là
chúng ta đi lên CNXH xuất phát từ nơng nghiệp, lấy nơng nghiệp làm cơ sở để thực
hiện cơng nghiệp hố XHCN. Nắm vững quan điểm đó, ngay sau khi hồ bình lập
lại, trong lĩnh vực kinh tế điều quan trọng trước tiên đựơc Đảng quan tâm là đẩy
mạnh sản xuất nơng nghiệp. Nghị quyết của bộ chính trị Trung ương Đảng tháng
9/1954 đã chỉ rõ:“ sau đình chiến, chúng ta đứng trước một nhiệm vụ to lớn trong
cơng tác kinh tế là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm
bớt những khó khăn về đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế một cách có kế
hoạch và làm từng bước, mở rộng việc giao lưu kinh tế giữa thành thị và thơn
q…trong thời kỳ phục hồi, trước hết cần nắm vững việc phục hồi và phát triển
sản xuất nơng nghiệp. Đó là vấn đề then chốt, cơ sở của việc cải thiện đời sống của
nhân dân, phồn thịnh kinh tế, mở rộng việc giao lưu hàng hố”.

2

Khố họp thứ 5 quốc hội nước VNDCCH, Quốc hội xuất bản năm 1956, tr156.


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


10
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân vừa kết thúc ở miền Bắc thì giai đoạn cách mạng XHCN được tiếp nối ngay.
Trước hết là hồn thành cuộc cải cách ruộng đất: cuộc cải cách được bắt
đầu từ trong những năm cuối của cuộc kháng chiến và đã kết thúc thắng lợi vào
cuối năm 1957. Cải cách ruộng đất thực hiện thắng lợi đã đưa lại cho hơn 2 triệu
gia đình nơng dân lao động 810.000 ha ruộng đất, hơn một trăm nghìn trâu bò, 1,8
triệu nơng cụ tịch thu của giai cấp địa chủ. Thắng lợi này tạo tiền đề củng cố, phát
triển miền Bắc về mọi mặt. Ước mơ ngàn năm của người nơng dân về “mảnh ruộng
của mình” đã được thực hiện.
Thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc là kết quả của q trình
đấu tranh cách mạng chống đế quốc và phong kiến của nhân dân ta, dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Qua cải cách ruộng đất, giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ tồn bộ, quan
hệ sản xuất phong kiến đã bị xố bỏ triệt để, khẩu hiệu người cày có ruộng đã hồn
tồn trở thành hiện thực. Tuy trong cải cách ruộng đất chúng ta đã phạm một số sai
lầm nghiêm trọng nhưng khơng thể vì thế mà phủ nhận những thành quả to lớn nói
trên. Đó chính là cơ sở của việc khơi phục và phát triển kinh tế nói chung và nơng
nghiệp nói riêng trong những năm đầu hồ bình mới được lập lại, nó đã góp phần
rất lớn vào việc bình ổn giá lương thực, ổn định đời sống của nhân dân, tạo điều
kiện tiên quyết cho phong trào hợp tác hố nơng nghiệp.
Ban chấp hành Trung ương Đảng, tại hội nghị lần thứ 10, đã nhận định về cải
cách ruộng đất như sau: “ Đó là một cuộc chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị xã
hội. Nguyện vọng lâu đời của nơng dân Việt Nam đã được thoả mãn, khẩu hiệu
người cày có ruộng đã được thực hiện. Trình độ giác ngộ giai cấp của nơng dân lao
động đã được nâng cao một phần. Hàng triệu nơng dân lao động đã thấy rõ rằng
chính Đảng ta, và chế độ ta đưa lại ruộng đất cho họ. Sức sản xuất to lớn ở nơng
thơn đang đổi mới, do đó sức sản xuất to lớn ở nơng thơn đã bước sang một giai
đoạn mới trong việc phát triển nơng nghiệp, mở đường cho cơng thương nghiệp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


11
phát triển và góp phần quan trọng vào cơng cuộc củng cố miền Bắc, phát triển kinh
tế và văn hố của nước nhà”.
Tiếp sau đó là hợp tác hố nơng nghiệp.
Muốn cho nơng nghiệp là cơ sở để cơng nghiệp hố thì phải làm cho nơng
nghiệp và cơng nghiệp phát triển từng bước cân đối với nhau, và muốn tạo ra sự
cân đối đó thì phải hợp tác hố nơng nghiệp. Hơn nữa sau khi hồn thành cuộc cải
cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu về ruộng đất phong kiến, thực hiện khẩu
hiệu người cày có ruộng, đời sống của nơng dân ở miền Bắc đã được cải thiện một
phần, nhưng nói chung còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, và với nền kinh tế cá thể,
trước mắt nơng dân có hai con đường: con đường làm ăn riêng lẻ, tự phát tư bản
chủ nghĩa và con đường hợp tác hố tiến lên CNXH . Nếu sau khi xố bỏ chế độ
chiếm hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nơng dân
cá thể, giai cấp cơng nhân khơng kịp thời giáo dục và tổ chức nơng dân đi vào con
đường làm ăn tập thể thì khuynh hướng tư bản chủ nghĩa tự phát trong nơng dân sẽ
phát triển. Lê nin nói: “ nền tiểu sản xuất thì lại từng ngày, từng giờ đẻ ra chủ nghĩa
tư bản và giai cấp tư sản, một cách tự phát và trên những quy mơ rộng lớn”
3

Ở miền Bắc, trên thực tế sau cải cách ruộng đất, khuynh hướng tư bản chủ
nghĩa tự phát đã bộc lộ trong thời kỳ sửa sai từ cuối năm 1956 đầu năm 1957. Sự
phân hố mới về giai cấp bắt đầu nảy sinh ở nơng thơn. Một số bần nơng và trung
nơng lớp dưới đã bị sa sút, phải bán bớt ruộng đất trâu bò, khơng giữ ngun được
những thành quả của cải cách ruộng đất. Hơn nữa, chế độ bóc lột của phú nơng vẫn
còn, kinh tế tiểu nơng-chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất của nơng dân lại hàng
ngày, hàng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản thành thị lại thường dựa
vào sự mua bán với nơng dân cá thể để bn bán đầu cơ, phá rối thị trường, gây
ảnh hưởng khơng tốt cho khối liên minh cơng nơng. Do đó phải triệt bỏ nguồn gốc

3

V. Lên nin:” Bệnh ẫu trĩ trong phong trào cộng sản”, tiếng Việt NXB sự thật, Hà nội-1957, tr11).



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


12
của chủ nghĩa tư bản ở nơng thơn là kinh tế tiểu nơng, cắt đứt mối liên hệ giữa chủ
nghĩa tư bản thành thị với nơng thơn, tạo điều kiện thuận lợi để cải tạo XHCN đối
với cơng thương nghiệp tư bản tư doanh, giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa
CNXH và chủ nghĩa tư bản miền Bắc. Đảng ta đã chỉ rõ: “hợp tác hố nơng nghiệp
chẳng những cần thiết để phát triển nơng nghiệp, khơng ngừng cải thiện đời sống
cho nơng dân, mà còn cần thiết để củng cố khối liên minh cơng nơng trên một cơ sở
mới”
4
Hội nghị trung ương lần thứ 14 cũng đã nhận định rằng: “trong các cơng tác
cải cách ruộng đất, khơi phục kinh tế và phát triển văn hố chúng ta đã thu được
nhiều thành tích. Nhưng sự lãnh đạo của chúng ta chưa theo kịp u cầu của nhiệm
vụ mới, nhiệm vụ cách mạng XHCN…”, “trong nhiệm vụ khơi phục kinh tế, việc
cải tạo quan hệ sản xuất mới đề ra chậm, nhận thức khơng được rõ ràng, chấp hành
khơng được thống nhất”.
Do đó “thực hiện mục đích của sản xuất xã hội chủ nghĩa tức là khơng ngừng
nâng cao phúc lợi của nhân dân, đòi hỏi phải xây dựng một nền nơng nghiệp lớn
XHCN, có năng suất cao, đủ để cung cấp ngun liệu cho cơng nghiệp và thực
phẩm cho nhân dân. Do đó tập thể hố là do tác dụng của quy luật kinh tế cơ bản
của CNXH quyết định, nó là điều kiện cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ quan
trọng nhất của việc xây dựng CNXH và thoả mãn những lợi ích thiết thân và căn
bản của nơng dân và của tất cả những người lao động”. Trong nghị quyết của hội
nghị Trung ương lần thứ 16 có ghi: “ cơng nghiệp XHCN nước ta phát triển ngày
một nhanh, theo ngun tắc tái sản xuất mở rộng. Còn kinh tế tiểu nơng thì phát
triển chậm và khơng phải năm nào cũng tái sản xuất mở rộng và vụ nào cũng tái
sản xuất giản đơn được. Cơng nghiệp XHCN sản xt tập trung và có kế hoạch chặt
chẽ, kinh tế tiểu nơng phân tán, bấp bênh, thường chịu ảnh hưởng nặng của thị
trường và bị phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vì vậy phải hợp tác hố nơng
nghiệp.”

4
Nghị quyết của hơi nghị trung ương lần thứ 16 tháng 4/1959) về vấn đề hợp tác hố nơng nghiệp, ban chấp
hành trung ương Đảng lao động Việt Nam xuất bản, 1959 tr11.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


13
Hợp tác hố là một phương thức sản xuất mới. Xây dựng phương thức sản
xuất mới này là một cuộc cách mạng rất quan trọng, rất lớn. Thay đổi cả một lề lối
làm ăn đã trở thành tập qn mấy nghìn năm khơng phải là một chuyện dễ. Khơng
thấy hết, khơng nắm lấy điều quan trọng này để giải quyết, mà chỉ nói chung chung
quan hệ giữa cá thể và tập thể thì thật là chưa đủ. Hợp tác hố là thay đổi phương
thức sản xuất cũ, xây dựng một phương thức sản xuất mới. Cái mới nhất là từ sản
xuất cá thể sang sản xuất tập thể, từ qủan lý lao động một gia đình đến quản lý
nhiều người. Nếu muốn nơng dân đi vào con đường hợp tác hố nơng nghiệp với
nhiệt tình cách mạng và thật thà tự nguyện, trước hết phải làm tốt cơng tác tư
tưởng. Do đó mà sau cải cách ruộng đất, Đảng đã giáo dục và kêu gọi nơng dân đi
lên CNXH bằng con đường hợp tác hố nơng nghiệp, giúp cho nơng dân hiểu rõ hai
con đường: một con đường nghèo đói và một con đường no ấm, làm cho họ trở
thành người đào mồ chơn cái gốc rễ của chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời và trở thành
người sáng tạo ra cuộc sống mới ở nơng thơn. thực tiễn của việc tiến lên CNXH
của các dân tộc chậm tiến ở Liên Xơ với sự giúp đỡ của giai cấp cơng nhân Nga
trước kia cũng như việc chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên
cách mạng XHCN của Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ nhân dân khác
vơi sự giúp đỡ của Đảng cộng sản và giai cấp cơng nhân Liên Xơ đã chứng minh
rằng việc quan hệ sản xuất XHCN thắng lợi trước khi sức sản xuất phát triển đến
một trình độ tương đối cao ở các nước đó là một quy luật phát triển của các nước
đó. Tình hình miền Bắc Việt Nam sau khi hồ bình được lập lại cũng nằm trong
quy luật ấy. Cho nên đối với chúng ta, muốn khắc phục được tình trạng lạc hậu của
nơng nghiệp thì ta cần phải xây dựng quan hệ sản xuất XHCN ở nơng thơn, để trên
cơ sở quan hệ sản xuất mới đó mà đẩy mạnh sức sản xuất nơng nghiệp phát triển.
Chính do chủ trương đúng đắn của Đảng mà sản xuất nơng nghiệp đã được
khơi phục và phát triển nhanh chóng, và do đó đã làm cho trong bản thân người
nơng dân dần dần có sự chuyển biến sâu sắc, và sự chuyển biến đó trở thành một
phong trào rộng rãi trong hàng triệu nơng dân lao động ở miền Bắc nước ta, họ từ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Xem chi tiết: 212559


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét