Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Mạng không dây

IEEE 802.16 khác công nghệ WiMAX ở điểm nào?
Một trong những mục tiêu chính của Diễn đàn WiMAX là tạo ra một chuẩn tương thích
từ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Điều này sẽ thực hiện
được nhờ việc hình thành các mô tả hệ thống. Dựa trên những gì mà Diễn đàn
WiMAX xem xét về các điều khoản của nhà cung cấp dịch vụ và các kế hoạch thiết bị
của các nhà cung cấp, Diễn đàn WiMAX đã quyết định tập trung trước tiên vào các mô
tả cho phương thức PHY OFDM 256 của chuẩn 802.16 năm 2004, được IEEE thông
qua vào tháng 6/2004. Lớp vật lý (PHY) sẽ được kết hợp với một bộ điều khiển truy
nhập phương tiện (MAC) độc lập đảm bảo một nền tảng thống nhất cho tất cả những
triển khai WiMAX.
Tuân thủ theo chuẩn 802.16 không có nghĩa là thiết bị được Diễn đàn WiMAX chứng
nhận hoặc có thể tương thích với các thiết bị của các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên
nếu một thiết bị tuân thủ thiết kế được Diễn đàn WiMAX chứng nhận thì vừa tuân thủ
chuẩn 802.16 và tương thích với cả thiết bị của các nhà khai cấp khác.
Các phiên bản 802.16 như 802.16a, 802.16-2004 và 802.16e khác nhau như thế nào?
Chuẩn 802.16a của IEEE tập trung vào truy cập băng rộng cố định. Chuẩn mở rộng
802.16-2004 của IEEE cải tiến hơn nhờ hỗ trợ cho CPE trong nhà. Chuẩn 802.16e là
một mở rộng của chuẩn 802.16-2004. Mục đích của chuẩn 802.16e là để bổ sung khả
năng di động dữ liệu cho chuẩn hiện thời, mà ban đầu thiết kế chủ yếu dành cho cố
định.
Chuẩn 802.16 của IEEE được thông qua khi nào?
IEEE thông qua chuẩn 802.16 ban đầu cho mạng MAN vô tuyến trong dải tần từ 10 –
66GHz vào tháng 12/2001. 802.16a mở rộng cho dải tần số 11 GHz được thông qua
tháng 1/2003. Chuẩn 802.16-2004 được IEEE thông qua tháng 6/2004. Chuẩn
802.16e được thông qua tháng 12/2005. Diễn đàn WiMAX sẽ bắt đầu quá trình chứng
nhận thiết bị ban đầu trong các băng tần 3.3 đến 3.8 GHz và 5.7 đến 5.8 GHz. Những
mô tả này bao gồm cả các hệ thống song công phân chia theo thời gian (TDD) và
song công phân chia theo tần số (FDD). Diễn đàn WiMAX đã xây dựng các mô tả hệ
thống tập trung vào băng tần được miễn cấp phép 5.8GHz, và các băng tần được cấp
phép là 2.5 và 3.5 GHz để khởi động thị trường. Diễn đàn WiMAX đã kết hợp với các
nhà cung cấp dịch vụ và các nhà sản xuất thiết bị để mở rộng sự phân bổ tần số để
bao phủ tất cả các dải phổ chủ chốt mà tất cả các công ty thành viên xác định là hấp
dẫn đối với các nhà cung cấp dịch vụ WiMAX tiềm năng. Các thiết bị ban đầu được
Diễn đàn WiMAX phê chuẩn sẽ ở trong băng tần 3.5GHz, sau đó là 5.8GHz.
WiMAX có cạnh tranh với Wi-Fi?
WiMAX và Wi-Fi sẽ cùng tồn tại và trở thành những công nghệ bổ sung ngày càng lớn
cho cácứng dụng riêng. Đặc trưng của WiMAX là không thay thế Wi-Fi. Hơn thế
WiMAX bổ sung cho Wi-Fi bằng cách mở rộng phạm vi của Wi-Fi và mang lại những
thực tế của người sử dụng "kiểu Wi-Fi" trên một quy mô địa lý rộng hơn. Công nghệ
Wi-Fi được thiết kế và tối ưu cho các mạng nội bộ (LAN), trong khi WiMAX được thiết
kế và tối ưu cho các mạng thành phố (MAN). Trong khoảng thời gian từ 2006 - 2008,
hy vọng cả 802.16 và 802.11 sẽ xuất hiện trong các thiết bị người sử dụng từ laptop
tới các PDA, cả 2 chuẩn này cho phép kết nối vô tuyến trực tiếp tới người sử dụng -
tại gia đình, trong văn phòng và khi đang di chuyển.
WiMAX có cạnh tranh với HiperMAN của ETSI?
Các chuẩn 802.16-2004 (256 OFDM PHY) của IEEE và HiperMAN của ETSI sẽ chia
sẻ chung các đặc tính kỹ thuật PHY và MAC. Diễn đàn WiMAX hoạt động ở cả hai tổ
chức tiêu chuẩn này để đảm bảo một chuẩn toàn cầu chung cho MAN vô tuyến, sẽ
được chấp nhận.
802.16 khác với 802.20 ở điểm nào?
802.16 và 802.20 của IEEE là hai mục tiêu công nghệ khác nhau tập trung vào các thị
trường riêng biệt. Tuy nhiên, 802.20 vẫn đang ở trong những giai đoạn đầu tiên của
việc xây dựng chuẩn và chưa thể hoàn tất trong hai năm tới. Và bởi vì 802.20 hiện nay
chưa được sự hỗ trợ rộng rãi của ngành Viễn thông như là Diễn đàn WiMAX với hơn
350 thành viên, tương thích cũng còn là vấn đề và như vậy nó vẫn còn khá xa vời.
Những ứng dụng nào dành cho công nghệ WiMAX?
Công nghệ WiMAX là giải pháp cho nhiều loại ứng dụng băng rộng tốc độ cao cùng
thời điểm với khoảng cách xa và cho phép các nhà khai thác dịch vụ hội tụ tất cả trên
mạng IP để cung cấp các dịch vụ "3 cung": dữ liệu, thoại và video.
WiMAX với sự hỗ trợ QoS, khả năng vươn dài và công suất dữ liệu cao được dành
cho các ứng dụng truy cập băng rộng cố định ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là
khikhoảng cách là quá lớn đối với DS: và cáp cũng như cho các khu vực thành thị ở
các nước đang phát triển. Những ứng dụng cho hộ dân gồm có Internet tốc độ cao,
thoại qua IP, video luồng/chơi game trực tuyến cùng với các ứng dụng cộng thêm cho
doanh nghiệp như hội nghị video và giám sát video, mạng riêng ảo bảo mật (yêu cầu
an ninh cao). Công nghệ WiMAX cho phép bao trùm các ứng dụng với yêu cầu băng
thông rộng hơn.
WiMAX cũng cho phép các ứng dụng truy cập xách tay, với sự hợp nhất trong các
máy tínhxách tay và PDA, cho phép các khu vực nội thị và thành phổ trở thành những
"khu vực diện rộng" nghĩa là có thể truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời. Do vậy,
WiMAX là một công nghệ bổ sung bình thường cho các mạng di động vì cung cấp
băng thông lớn hơn và cho các mạng Wi-Fi nhờ cung cấp kết nối băng rộng ở các khu
vực lớn hơn.
Tại sao WiMAX lại cần thiết? Tại sao WiMAX lại quan trọng cho vô tuyến băng rộng cố
định và vô tuyến băng rộng di động?
WiMAX cần thiết vì là một công nghệ độc lập cho phép truy cập băng rộng cố định và
di động.
Chuẩn WiMAX là cần thiết để đạt mục tiêu chi phí thấp hơn. Đây là điều mà các giải
pháp vô tuyến độc quyền không thể đạt được do những hạn chế về số lượng. Các giải
pháp WiMAX có khả năng tương thích cho phép giảm bớt chi phí sản xuất nhờ việc
tích hợp các chip chuẩn, làm cho các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX chứng nhận
có chi phí hợp lý để cung cấp các dịch vụ băng rộng công suất cao ở những khoảng
cách bao phủ lớn trong các môi trường Tầm nhìn thẳng (LOS) và không theo tầm nhìn
thẳng (NLOS). Đây là điều khả thi đối với WiMAX nhờ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của
ngành công nghiệp thông qua Diễn đàn WiMAX với hơn 350 thành viên bao gồm các
nhà cung cấp thiết bị, các nhà sản xuất chip và các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu.
WiMAX quan trọng vô tuyến băng rộng cố định để cung cấp truy cập băng rộng cần
thiết tới các doanh nghiệp và người sử dụng là hộ gia đình như là một sự thay thế cho
các dịch vụ cáp và DSL đặc biệt là khi truy cập tới cáp đồng là rất khó khăn.
WiMAX quan trọng trong vô tuyến băng rộng di động, vì nó bổ sung trọn vẹn cho 3G vì
hiệu suất truyền dữ liệu luồng xuống cao hơn 1Mbit/s, cho phép kết nối các máy laptop
và PDA và bổ sung cho Wi-Fi nhờ độ bao phủ rộng hơn.
Những cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX?
Cơ sở quan trọng của công nghệ WiMAX là sự tương thích của thiết bị WiMAX, được
Diễn đàn WiMAX chứng nhận, tạo sự tin cậy và làm tăng số lượng lớn cho nhà cung
cấp dịch vụ khi mua thiết bị không chỉ từ 1 công ty và tất cả đều tương thích với nhau.
Diễn đàn WiMAX lần đầu tiên tụ họp những công ty hàng đầu trong ngành truyền
thông và máy tính để tạo nên một nền tảng chung cho việc triển khai các dịch vụ vô
tuyến băng rộng IP trên toàn cầu.
Các cơ sở quan trọng khác là chi phí, độ bao phủ, công suất và chuẩn cho cả truy cập
vô tuyến cố định và di động.
Chi phí thấp hơn
CPE vô tuyến cố định có thể sử dụng cùng loại chipset modem được sử dụng trong
máy tính cá nhân (PC) và PDA, vì ở khoảng cách gần các modem có thể tự lắp đặt
trong nhà CPE sẽ tương tự như cáp, DSL và các trạm gốc có thể sử dụng cùng loại
chipset chung được thiết kế cho các điểm truy cập WiMAX chi phí thấp và cuối cùng là
số lượng tăng cũng thỏa mãn cho việc đầu tư vào việc tích hợp mức độ cao hơn các
chipset tần số vô tuyến (RF), làm chi phí giảm hơn nữa.
Độ bao phủ rộng hơn
Công nghệ sau WiMAX đã được tối ưu để mang đến độ bao phủ NLOS tốt nhất. Các
ưu điểm của NLOS là độ bao phủ trên diện rộng, khả năng dự báo độ bao phủ tốt hơn
và chi phí thấp hơn có nghĩa là số trạm gốc và backhaul ít hơn, định cỡ RF đơn giản,
các thời điểm lắp đặt tháp ngắn hơn và lắp đặt CPE nhanh hơn.
Nhờ có các kỹ thuật cải tiến độ bao phủ NLOS như phân tập, mã hóa thời gian không
gian và yêu cầu truyền lại tự động (Automatic Retransmission Request - ARQ), các
khoảng cách bao phủ sẽ được tăng lên.
Công suất cao hơn
Ưu điểm quan trọng của WiMAX là sử dụng kỹ thuật OFDM (Orthogonal Frequency
Division Multiplexing) qua các cơ chế điều chế đơn sóng mang với khả năng cung cấp
hiệu suất băng thông cao hơn và do đó thông lượng dữ liệu cao hơn với luồng xuống
hơn 1Mbit/s và thậm chí các tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều dù trong NLOS với các điều
kiện đa đường. Điều chế thích ứng (Adaptive Modulation) cũng làm tăng độ tin cậy
đường kết nối đối với hoạt động phân loại sóng mang và khả năng giữ điều chế
64QAM ở khoảng cách rộng hơn, tăng công suất qua các khoảng cách dài hơn.
Chuẩn cho truy cập vô tuyến cố định và di động
WiMAX sẽ trở thành một giải pháp chi phí hợp lý nhất cho các nhà khai thác triển khai
các ứng dụng vô tuyến cố định và di động cho các máy xách tay và PDA.
Diễn đàn WiMAX sẽ chứng nhận các sản phẩm tuân thủ và tương thích dựa trên các
chuẩn 802.16 của IEEE và HiperMAN của ETSI.
Cuối cùng một hệ thống quản lý mạng đủ khả năng quản lý các mô tả QoS để cấu trúc
các gọi dịch vụ bổ sung các thành phần quan trọng này.
OFDM là gì?
OFDM là một công nghệ điều chế và mã hóa số, đã được sử dụng thành công trong
các ứng dụng hữu tuyến như modem DSL và modem cáp. Các sản phẩm của các
công ty thành viên Diễn đàn WiMAX đang sử dụng các hệ thống 802.16 dựa trên
OFDM để vượt qua những thách thức của việc truyền sóng NLOS.
OFDM đạt đến tốc độ và hiệu quả dữ liệu cao nhờ sử dụng nhân chồng các tín hiệu
sóng mang thay cho chỉ một tín hiệu. Ưu điểm quan trọng của OFDM của các cơ chế
điều chế đơn sóng mang đơn là khả năng mang lại hiệu suất băng thông cao hơn và
do đó thông lượng dữ liệu sẽ cao hơn thậm chí phải đối mặt thách thức với kịch bản
triển khai chẳng hạn như các đường kết nối NLOS phải chịu suy hao đáng kể do các
điều kiện đa đường.
Lớp vật lý WiMAX (802.16/HiperMAN OFDM PHY) là gì?
Lớp vật lý (PHY) được 802.16 định nghĩa có ba biến thể: Sóng mang đơn, OFDM 256
và OFDMA 2048. Lớp vật lý OFDM 256 được Diễn đàn WiMAX lựa chọn cho các mô
tả đầu tiên dựa trên 802.16-2004 (trước đây là 802.16REVd).
Lớp kiểm soát truy cập (MAC) WiMAX là gì?
Chuẩn 802.16 của IEEE đưa ra cùng một lớp MAC cho tất cả lớp PHY (đơn sóng
mang, 256 OFDM, 2048 OFDMA). Lớp MAC này là kết nối được định hướng và chuẩn
bị cho kết nối TDM đường kết hợp với truy cập TDMA ở đường lên.
Chuẩn này định nghĩa là hỗ trợ cho cả TDD và FDD và cho phép phương thức bán
song công FDD (HD-FDD). TDD là một kỹ thuật mà ở đó hệ thống phát và nhận ở
cùng kênh gán các khe thời gian cho phương thức phát và nhận. FDD yêu cầu hai phổ
tần riêng rẽ.
Các sản phẩm được Diễn đàn WiMAX có lợi như thế nào đối với doanh nghiệp? và
người sử dụng hộ gia đình?
Đối với các doanh nghiệp, WiMAX cho phép truy cập băng rộng với chi phí hợp lý. Vì
phần lớn các doanh nghiệp sẽ không được chia thành khu vực để có đường cáp, lựa
chọn duy nhất của họ đối với dịch vụ băng rộng là từ các nhà cung cấp viễn thông địa
phương. Điều này dẫn tới sự độc quyền. Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc
triển khai các hệ thống WiMAX chứng nhận nhờ tạo ra sự cạnh tranh mới trên thị
trường, giảm giá và cho phép các doanh nghiệp thiết lập mạng riêng của mình. Điều
này đặc biệt phù hợp đối với các ngành như khí đốt, mỏ, nông nghiệp, vận tải, xây
dựng và các ngành khác nằm ở những vị trí xa xôi, hẻo lánh.
Đối với người sử dụng là hộ gia đình ở những vùng nông thôn (nơi dịch vụ DSL và cáp
chưa thể vươn tới), WiMAX mang lại khả năng truy cập băng rộng. Điều này đặc biệt
phù hợp ở các nước đang phát triển nơi mà hạ tầng viễn thông truyền thống vẫn chưa
thể tiếp cận.
Hang_trinh_goi_du_lieu
Mục đích của bài viết này là mang lại một cái nhìn cơ bản về hành trình của các gói dữ
liệu trao đổi trên Internet từ việc tạo các gói được tạo đến các Switch, Router, NAT và
cách thức truyền tải dữ liệu trên Internet. Chủ đề này sẽ rất hay đối với những người
mới nghiên cứu về lĩnh vực mạng và bảo mật và những người có ít kiến thức cơ bản
về quá trình xử lý dữ liệu trên Internet.
Giới thiệu
Có lẽ trong một vài bài báo, chúng ta cũng đã thấy được sự quan trọng của hai lĩnh
vực về bảo mật máy tính đối với người mới sử dụng đó là: programming và
networking. Trong khi chúng là hai phần khác nhau thì cả hai cần phải được xem có
tầm quan trọng như nhau. Nếu không có việc lập trình các giao thức mạng thì sẽ
không có mạng. Điều cần hỏi ở đây là: có bắt buộc cần phải có một lập trình viên để
nắm được một cách đầy đủ các khái niệm về mạng và lý thuyết mạng ở mức thấp hay
không? Trong nhiều trường hợp là không cần như vậy. Mặc dù vậy, một sự ham hiểu
của các độc giả sẽ là tốt và có thể hướng anh ta vào việc lập trình tại một vài điểm để
có thêm các thử nghiệm với các giao thức khác và lý thuyết mạng.
Với những người mới với lĩnh vực này, ấn tượng đầu tiên với một máy tính là cái gì đó
khó có thể quên. Khi một ai đó khám phá ra Internet, sự giàu có của thông tin tạo cho
họ một cảm giác kinh sợ và tạo nên cho họ một hứng khởi là các kỹ thuật bên trong
của nó làm việc như thế nào. Bất kỳ ai dường như cũng bị rơi vào một thế giới hoàn
toàn mới khi sử dụng một máy tính để kết nối với các hệ thống khác bên phía bờ kia
của thế giới. Họ sẽ tò mò về các máy tính và mạng làm các công việc này như thế
nào? Và thông tin truyền từ máy tính này đến máy tính kia đi qua tất cả các thiết bị
khác nhau để đến được đích của nó như thế nào?
Các hành trình
Khi một ứng dụng Internet được gọi thì một loạt các sự kiện sẽ xảy ra. Trong bài viết
này chúng tôi chỉ giới thiệu một cách đơn giản một gói được tạo ra như thế nào và các
thiết bị sẽ đưa nó đi theo nhiều con đường để đến đích của nó ra sao. Việc hiểu biết
về việc gì xảy ra giữa điểm A và điểm Z có thể khá hữu ích trong việc tiếp cận đến lĩnh
vực này.
Bây giờ chúng ta nên mô tả những gì xảy ra từ thời điểm một ứng dụng được gọi đến
lúc các gói được tạo ra bằng các ứng dụng tới được đích của nó. Giả sử rằng bạn sử
dụng Firefox để kiểm tra xem một tin tức trên trang web yêu thích của bạn. Một loạt
các sự kiện đã được thiết lập nên trong sự chuyển động này là hoàn toàn trong suốt
đối với bạn. Sau khi bắt tay TCP/IP ban đầu, trình duyệt web của bạn sẽ gửi một yêu
cầu đến máy chủ web server mà trang chủ của bạn đang hỏi cho trang chủ của nó.
Thông tin yêu cầu HTTP GET bây giờ cần phải gửi đến web server. Những gì xảy ra
với Firefox khi kích ứng dụng của bạn là làm một yêu cầu đến hệ thống. Quá trình này
sẽ đưa dữ liệu mà Firefox muốn gửi được copy từ các không gian nhớ của các ứng
dụng đến bộ đệm bên trong không gian trung tâm.
Phụ thuộc vào giao thức truyền tải nào mà ứng dụng sử dụng, lớp socket sẽ gọi cả
UDP và TCP. Chúng ta cần phải nhớ rằng có rất nhiều ứng dụng không sử dụng TCP
như một giao thức truyền tải. DNS sử dụng cả hai UDP và TCP, trong khi các ứng
dụng khác như là TFTP chỉ sử dụng UDP. Lớp socket gọi giao thức truyền tải thích
hợp, khi đó dữ liệu sẽ được copy xuống vào bộ đệm socket.
Sự chia nhỏ dữ liệu
Khi copy dữ liệu từ yêu cầu GET được thực hiện đến một bộ đệm socket, TCP sẽ chia
nhỏ dữ liệu này nếu cần thiết. Mặc dù một yêu cầu GET là tương ứng với một gói và
sẽ đi bên trong MTU của Ethernet không có vấn đề gì, nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu các
yêu cầu của trình duyệt vượt quá MTU? Khi đó TCP sẽ chia nhỏ dữ liệu để bảo đảm
kích thước phù hợp với giới hạn 1500bytes của Ethernet MTU. Một điểm chính đáng
nhớ ở đây là sự chia nhỏ này sẽ xảy ra tại lớp TCP nếu ứng dụng yêu cầu sử dụng
TCP như là giao thức truyền tải dữ liệu của chúng.
Việc truyền tải dữ liệu trong môi trường mạng.
Dữ liệu được tạo hợp với chức năng lớp truyền tải riêng của nó, hãy xem xét lớp IP.
Tại đây, header IP được xây dựng và tất cả các địa chỉ IP quan trọng được gán vào.
Sau đó, dự liệu sẽ theo các đường liên kết dữ liệu, nơi mà cả hai lớp điều khiển liên
kết logic và điều khiển truy cập thực hiện phần việc này. Cuối cùng, dữ liệu được sẵn
sàng để truyền bằng các lớp vật lý được tích hợp trong hệ thống bằng các NIC card.
Với hầu hết các người dùng tại nhà, một router SoHo đã được kết hợp của cả chuyển
mạch (switch) và router đơn giản. Với người dùng trong công ty, switch là một phần
cứng tách biệt với router của nó. Nếu trong môi trường công ty các máy tính có thể nối
với các switch qua đường cáp. Nếu switch không có bảng hard-coded CAM thì swtich
cần chú ý đến địa chỉ MAC của máy tính (duy nhất cho mỗi Ethernet card). Khi gói dữ
liệu đến từ quá trình truyền tải của nó mang theo dữ liệu của website như được yêu
cầu trong GET request chuyển mạch theo hướng ngược của trình khách nó sẽ hiểu
nơi để gửi các gói đó trở lại.
Trình khách hiểu các gateway mặc định của nó như thế nào? Dù nó là mạng công ty
hay tại nhà thì hệ thống sẽ luôn thực hiện một gói DHCP một lần để nó khởi động và
lấy thông tin chính từ server DHCP. Do không phải tất cả các hệ thống đều sử dụng
DHCP, vì thế không có địa chỉ IP hay gateway được định trước. Thông tin trong đó
như là tên server DNS nào được sử dụng, địa chỉ IP của nó và địa chỉ IP gateway mặc
định. Nếu DHCP bị tắt, người quản trị hệ thống sẽ phải vào tất cả các thông tin này
bằng tay. Cực kỳ không hiệu quả chút nào, nên nó giải thích tại sao DHCP được bật
trong hầu hết các mạng.
Với gateway mặc định ở gần, máy tính hiểu đích đi đến để truy cập Internet và lấy dữ
liệu trang web khi được yêu cầu bởi Firefox. Sau khi các gói đi qua switch nó hình
thành đường để dễ dàng đi qua firewall đến router. Các packet nên được cho qua một
firewall, khi đó firewall sẽ làm một vài công việc chính. Một firewall với đầy đủ tính
năng sẽ ghi địa chỉ IP và port nguồn, cộng địa chỉ IP và port đích. Firewall sẽ giữ thông
tin này trong bảng trạng thái của bộ nhớ, bằng cách này nó sẽ quy định sự truy cập
vào mạng bên trong như thế nào. Nếu một gói không được ghi thì nó sẽ không được
truy cập vào trong mạng. Trong một dịp khác chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn về vai
trò của firewall đối với việc bảo vệ máy tính của bạn như thế nào.
Các router và NAT
Bây giờ, khi các gói đã đi qua firewall, nếu hiện tại nó đang đi đến router. Địa chỉ IP cá
nhân mà các gói có (giả định nó là một địa chỉ cơ bản 192.168/16) sẽ được biến đổi
thành một địa chỉ IP chung có thể định tuyến, cái mà được cho bởi ISP của bạn. Nó
cũng được gán cho router của bạn. Các gói bây giờ bắt đầu cuộc hành trình của nó
trên Internet và qua vô số các router trong chuyến đi của nó. Mỗi thời điểm đó, các gói
hướng đến một router khác. Vậy cái gì xảy ra với chính các gói.
Hãy bắt đầu bằng việc nhìn vào router. Nó sẽ định tuyến các gói dựa vào thông tin
trong bảng định tuyến của chính nó. Đến khi router tiếp theo nhận được các gói này nó
sẽ tính toán theo bảng định tuyến của nó để tìm ra con đường ngắn nhất cho việc
truyền tải gói tin này. Một trong vài phần nó sẽ thay đổi đó là TTL “time to live”. Bây giờ
phần header IP của nó được thay đổi, do đó các router cần phải tính toán một giá trị
tổng mới cho các gói. Cứ tương tự như vậy cho tới khi các gói đến được địa chỉ đích
mong muốn của nó.
Lớp vật lý sẽ thực hiện một IRQ đến CPU đã chỉ rõ rằng có dữ liệu đã được xử lý. Sau
đó, dữ liệu sẽ đi lên lớp data link, đây chính là nơi mà webserver sẽ nhận ra MAC và
tiếp tục đi lên lớp IP, sau đó là lớp transport (nơi dữ liệu được đưa vào bộ đệm). Tại
lớp này các thông tin của ứng dụng mà dữ liệu mang theo cho nó được xử lý ở đây.
Kết quả cuối cùng là thông tin được yêu cầu cho yêu cầu GET đã được gửi trở lại.
Tương tự như thế với một gói mới thì quá trình cũng xảy một loạt các sự kiện như vậy.
Kết luận
Nhìn chung bài báo này đã cố gắng để trình bày cho các bạn có một kiến thức cơ bản
về mạng và các khái niệm chung của routing, switching và NAT. Mong các bạn có thể
tiếp tục thực hiện những nghiên cứu thêm để nắm sâu hơn về nó và chúc các bạn
thành công.
Phạm Văn Linh
0 COMMENTS
ADSL
SUNDAY, 12. NOVEMBER 2006, 12:59:19
Mang
DSL viết tắt cho Digital Subscriber
Line (Đường Thuê bao Số), một cái tên không nói điều gì về một công nghệ hiện hữu.
Chữ D (digital) có ý nghĩa lịch sử do gốc gác của DSL là dịch vụ số. (Số có nghĩa là
bất cứ thứ gì chạy trên đường dây mà 1 là có dòng điện và 0 là không có.)
Tuy nhiên DSL đã phát triển trên tín hiệu tương tự tốc độ cao (thường biểu diễn bằng
sóng hình sin) và không liên quan tới số. Chữ S (subscriber) là nói tới bạn hoặc công
ty của bạn khi thuê một đường DSL từ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Chữ L (line)
có nghĩa rằng đây là một đường (còn gọi là một mạch) ở bên ngoài đi vào trên cáp
điện thoại từ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, giống như cáp cho điện thoại mà bạn
vẫn đang dùng hàng ngày. Phần lớn việc sử dụng mạch DSL là để nối một cách cố
định về mặt vật lý bạn với mạng Internet, sao cho bạn luôn trên mạng. Kết nối này
cũng cho phép bạn liên kết tới nơi khác (thí dụ văn phòng cơ quan) qua mạng Internet.
Với việc truy nhập bằng DSL, bạn không cần phải dùng mô-đem thông thường, nhưng
bạn lại cần thiết bị khác, đó là mô-đem DSL.
Một trong những lý do làm cho DSL trở nên hữu ích là nó đưa ra tốc độ đáng kể trên
một đôi dây đồng. Phần lớn các ngôi nhà và văn phòng đã được gắn sẵn các đôi dây
cáp giành cho điện thoại thông thường. Vì thế DSL không đòi hỏi cáp mới dành riêng.
Bởi DSL được thiết kế để dùng cáp đồng bình thường, nó làm tất cả các nhiệm vụ từ
văn phòng bạn cho tới trung tâm của nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và thiết bị này
được gọi là DSLAM (Digital Subscriber Line Access Multiplexor). Việc dùng các đường
dây riêng được gọi là dây khô. Còn khi tổ hợp cả đường dây điện thoại với DSL trên
cùng một đôi dây thì gọi là phân phối DSL trên dây ướt. Bạn có thể có cuộc nói chuyện
điện thoại đồng thời với sử dụng DSL, chia sẻ giải thông trên một đôi dây. Một khi tín
hiệu này truyền tới DSLAM, phần thoại được tách ra và đi tới chuyển mạch điện thoại
công cộng (PSTN), phần dữ liệu trên DSL được gửi tới nhà cung cấp dịch vụ Internet.
Có sự giới hạn độ xa cho DSL. Nói chung càng ở xa trung tâm của nhà cung cấp dịch
vụ viễn thông thì tốc độ càng thấp. Nếu DSLAM đặt tại toà nhà văn phòng cho thuê thì
khoảng cách không còn là vấn đề nữa vì nó được nối tới nhà cung cấp dịch vụ viễn
thông qua thiết bị của họ, còn mạch DSL chỉ cần nối từ DSLAM ngay gần trong toà
nhà tới văn phòng của bạn. ADSL (Asymmetrical DSL) đa số được sử dụng để truy
nhập Internet từ gia đình. Dung lượng mạch từ Internet về nhà (luồng xuống) lớn hơn
so với hướng ngược lại (luồng lên). Điều này phù hợp với người dùng gia đình cần
nhận được nhiều thông tin (đồ hoạ, âm thanh, hình động) so với gửi thông tin lên
mạng (gõ phím và di chuột). SDSL (Symmetrical DSL) là loại được dùng bởi phần lớn
hoạt động nghiệp vụ, cần gửi và nhận lượng thông tin đáng kể. Dung lượng mạch như
nhau cho cả hai chiều. Dung lượng mạch ảnh hưởng tới việc nhanh chóng tải thông
tin xuống và gửi dữ liệu đi nơi khác. Nếu làm việc với các tệp ảnh, bạn cần có mạch
DSL dung lượng lớn hơn là khi gửi các tệp văn bản. Dung lượng cũng cần lớn hơn
nếu nhiều người cùng sử dụng một lúc. (Bạn có thể nối DSL vào mạng LAN để chia sẻ
dùng chung trong văn phòng.) Dung lượng thông thường là 128Kbps, tốc độ trung
bình là 256Kbps, 512Kbps, 768Kbps và các mạch dung lượng lớn thường là 1Mbps,
1.5Mbps. Bạn có thể nghe nói về các loại DSL khác, HDSL (high bit-rate DSL) có tốc
độ 1.544Mbps và dùng hai hoặc ba đôi dây thay vì một đôi. IDSL (ISDN DSL) có cùng
tốc độ 128Kbps hoặc 144Kbps như dịch vụ ISDN (Integrated Services Digital
Network). DSL Lite (còn gọi là G-Lite) là kiểu tốc độ thấp nhất của ADSL. RADSL là
Rate Adaptive DSL điều chỉnh tốc độ truyền theo chất lượng tín hiệu. VDSL là Very
High Speed DSL (12.9 tới 52.8Mbps luồng xuống và 1.5 tới 2.3Mbps luồng lên).
Tại sao dùng DSL?
Mô hình mạng ADSL
Đa phần các cơ quan và cá nhân từng sử dụng Internet nhiều năm đã bắt đầu việc kết
nối Internet bằng kết nối quay số qua mô-đem. Tốc độ cao nhất đạt được theo phương
pháp này hiện nay là 56Kbps, nhưng trong thực tế tốc độ thường thấp hơn, phụ thuộc
vào tình trạng đường điện thoại. Tiết kiệm thời gian: Một lý do để chuyển sang dùng
DSL là bạn không phải chờ lâu để tải xuống từ Internet. Khi đài Web tăng cường các
tính năng nghe nhìn thì việc có dung lượng lớn hơn để nhận dữ liệu trong một thời
gian ngắn hơn là lý do quan trọng nhất.
Tiết kiệm tiền bạc: Nhiều văn phòng vẫn còn thuê các đường điện thoại riêng rẽ từ các
công ty điện thoại với giá khoảng 30USD/tháng cho mỗi người sử dụng để quay số nối
vào Internet. Các đường này trả tiền bất kể có sử dụng hay không và cộng thêm phần
tính theo phút sử dụng. Đường DSL giá 150USD/tháng có thể thay thế cho 10 đường
điện thoại ra ngoài và có thể chia sẻ cho mười người cùng dùng. Giá đường DSL dùng
thường trực có thể từ 40USD/tháng cho tới hàng trăm USD hoặc hơn nữa tuỳ theo tốc
độ và đảm bảo mức dịch vụ. Nếu bạn dùng kiểudây ướt đã nói trên ở nhà và có cả
đường điện thoại và DSL phân phối bởi nhà cung cấp dịch vụ DSL thì tổng chi phí còn
có thể thấp hơn vì bạn không cần riêng rẽ một dây cho điện thoại và một dây khác cho
quay số kết nối Internet. Đáp ứng nhiều hơn: Nhiều khách hàng của bạn có khả năng
nhập mạng ngay lập tức và trông chờ bạn cũng được như vậy. Với DSL bạn có thể
nhận thư điện tử ngay khi nhà cung cấp dịch vụ Internet giao nó, cho phép bạn đáp lại
người gửi một cách nhanh chóng. Điều này cũng có thể làm bạn tận dụng được cơ hội
kinh doanh trước khi nó qua đi.
Ngoài ra bạn có thể xem xét việc lập trạm nuôi Web của riêng mình, cung cấp nhiều
thông tin hơn cho khách hàng. Thử nghiệm với các công nghệ mới: Có DSL bạn có
được dung lượng cần thiết để thử nghiệm các công nghệ mới như Web cam, cho
phép bạn tổ chức hội nghị video trong khi chia sẻ tài liệu với những người khác cùng
nối vào Internet (và cùng lắp đặt máy thu hình). Các ứng dụng tương tự như vậy có
thể tăng cường giao thiệp với khách hàng hoặc giữa những người làm trong cùng
công ty ở những địa điểm khác nhau. Thậm chí không có Web cam cho hội nghị video
bạn có thể thử nghiệm thoại trên DSL (VoDSL) - tương tự như thoại trên mạng IP
(VoIP), hiện đang là đề tài hấp dẫn. Bạn cần điện thoại đúng kiểu cho việc này, nó có
thể chuyển đổi giọng nói sang dạng thức phù hợp để truyền trên Internet. Khả năng
ứng dụng ở Việt Nam Công nghệ DSL đã được một số đơn vị ở Việt Nam ứng dụng
vào mạng của mình trên cáp đồng kéo riêng, cho phép đạt giải thông cao thay vì phải
dùng cáp quang, chi phí nhờ vậy giảm nhiều. Trong khi đó việc triển khai DSL qua
mạng của các công ty viễn thông chưa có lợi ích thiết thực vì giá thuê dung lượng của
các đơn vị này còn quá cao so với khoản tiết kiệm được do dùng DSL, theo đánh giá
của một công ty kinh doanh các thiết bị này. Vì vậy mặc dù rất được đánh giá cao tại
các nước khác, như Singapore dùng ADSL để đưa Internet tốc độ 2Mbps tới thuê bao
gia đình, khả năng dùng dịch vụ DSL tại Việt Nam rất hạn chế, trừ trường hợp tự phục
vụ bằng cáp của riêng mình. Hiện sản phẩm DSL của các hãng RAD, Pairgain và
Pandatel đã được cung cấp thông qua đại lý tại thị trường Việt Nam. Tham khảo chỉ
tiêu kỹ thuật của Pandatel: với dây đồng đường kính 0,6mm cho phép cung cấp giải
thông 128Kbps và 2Mbps ở các cự ly tương ứng là 11Km và 6Km.
0 COMMENTS
intranet2
TUESDAY, 17. OCTOBER 2006, 12:25:48
MANG
Những định nghĩa về Intranet. Mạng Intranet là gì, nó khác với các loại mạng khác ở
chỗ nào (ví dụ Internet)?
Intranet và Internet
Trả lời: Một Intranet là một mạng LAN riêng được thiết kế cho việc sử dụng bởi tất cả
mọi người bên trong một tổ chức. Một Intranet đơn giản bao gồm một một hệ thống
mail nội bộ hay một bảng thư tín. Có nhiều mạng Itranet phức tạp bao gồm nhiều cổng
Web site có chưa các tin tức, các hình dạng, và thông tin cá nhân của công ty. Về mặt
bản chất của một Intranet là sử dụng các công nghệ LAN (và WAN) để thuận lợi cho
việc truyền thông giữa mọi người và cải thiện cơ sở nhận thức về các nhân công của
một công ty.
Năm 1995 trở về trước được xem là những năm của Internet và năm 1996 đã trở
thành năm của Intranet, vậy Intranet là gì?
Intranet còn là một khái niệm mới. Có một số định nghĩa khác nhau về Intranet:
- Intranet là Web (kho thông tin dữ liệu điện tử) sử dụng nội bộ (Internal Web).
- Intranet là một mạng sử dụng nội bộ như LAN hay WAN thực hiện được các ứng
dụng, nói cách khác các dịch vụ của Internet, chủ yếu là dịch vụ Web với giao thức
truyền siêu văn bản - http (HyperText Transfer Protocol) và dịch vụ truyền File (FTP),
E - Mail v.v
- Intranet là công nghệ của Internet triển khai sau bức tường lửa tạo nên năng suất
làm việc cho các công ty.
- Các tổ chức trên thế giới đã tìm ra được một phương pháp để tăng cường thông tin
trong nội bộ cũng như với bên ngoài sử dụng công nghệ Web trong một hệ thống dữ
liệu thông tin kiểu mới gọi là Intranet.
- Intranet là một mạng nội bộ theo kiểu Internet được sử dụng như một "mạng ảo cá
nhân" hiệu quả nhất (VPN -Virtual Private Network).
- Intranet là sự mở rộng mới của công nghệ Internet cung cấp khả năng chia sẻ thông
tin trong nội bộ của một tổ chức.
Có nhiều cách định nghĩa nhưng thực chất Intranet là một mạng nội bộ để các nhân
viên trong một công ty hay một tổ chức xây dựng và chia sẻ thông tin chứa trên các cơ
sở dữ liệu riêng theo phương pháp của World Wide Web của Internet, có nghĩa là sử
dụng ngôn ngữ phát triển siêu văn bản - HTML (HyperText Markup Language), giao
thức truyền siêu văn bản HTTP và giao thức TCP/IP.
Tính chất rất quan trọng của Intranet là phải có kế hoạch để bảo vệ thông tin nội bộ,
không cho phép những người không được phép truy nhập cơ sở dữ liệu của mình. Có
nhiều cách ngăn chặn như dùng mật khẩu, các biện pháp mã hoá hay bức tường lửa
(nhưng bức tường lửa rất khó ngăn chặn "người nhà"). Một biện pháp bảo vệ hữu

Xem chi tiết: Mạng không dây


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét