Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn: Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang doc

PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.Khái niệm và nhiệm vụ của kế toán tiền lương:
1. Khái niệm về lao động, tiền lương:
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi
các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của
xã hội. Trong một chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất không thể
tách rời khỏi lao động, lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, tính chất quyết định của lao
động con người đối với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội càng biểu
hiện rõ rệt. Lao động còn là phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và
sản xuất hàng hóa, là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động
tạo ra, nó là bộ phận của nguồn thu nhập, kết quả tài chính cuối cùng của hoạt
động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà
người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá
trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động.
2.Nhiệm vụ kế toán tiền lương:
Để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành quản lý hoạt
động của doanh nghiệp, kế toán tiền lương cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời,
đầy đủ, tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động,
tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.

Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền
lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp,
kiểm tra tình hình huy động lao động và sử dụng lao động. Phản ánh kịp thời
đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động.

Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình
hình chấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương

Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương
và các khoản liên quan khác vào chi phí sản xuất kinh doanh

Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng
đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ kế toán và hạch
toán lao động, tiền lương

Lập các báo cáo về lao động, tiền lương và các báo cáo khác thuộc
phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao
động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động,
tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm, vi
phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương.
II. Một số hình thức trả lương:
1.Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa dù thực hiện bất kì chế độ tiền lương nào,
muốn phát huy đầy đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của nó đối với sản xuất và đời
sống phải thực hiện đầy đủ những nguyên tắc sau:

Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động. Trả
lương bằng nhau cho lao động như nhau có nghĩa là khi quy định tiền lương,
tiền thưởng cho công nhân viên chức nhất thiết không được phân biệt giới
tính, tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi người đồng đều số lượng, chất
lượng mà họ đã cống hiến cho xã hội.

Bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc
độ tăng tiền lương bình quân trong toàn đơn vị và trong kỳ kế hoạch. Tiền
lương bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu do
nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời
gian tổn thất cho lao động, còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do
những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan
như: áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt
lao động và các quá trình sản xuất. Như vậy tốc độ tăng năng suất lao động rõ
ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.
Đây là nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền lương . Có như vậy mới tạo cơ
sở giảm giá thành, hạ giá cả, tăng tích lũy để tái sản xuất mở rộng.

Đảm bảo thu nhập tiền lương hợp lý giữa các ngành nghề khác nhau
trong nền kinh tế
Khi trả lương cho công nhân cầ

n chú ý các v ấ

n đề

sau:
 Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về
kỹ thuật khác nhau. Do đó đối với những người lao động làng nghề làm việc
trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật phức tạp phải trả lương cao hơn những
người lao động làm việc trong những ngành không có yêu cầu kỹ thuật cao.
 Tiền lương bình quân giữa các ngành có điều kiện lao động khác nhau
cần có sự chênh lệch khác nhau.Công nhân làm việc trong điều kiện nặng nhọc
có hại đến sức khỏe phải được trả lương cao hơn những người làm việc trong
điều kiện bình thường.
Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến
khích công nhân yên tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó,
sự khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầucủa việc phân phối sức lao
động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế.
Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện
khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần
được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu
hút được công nhân đến làm việc
 Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục tư tưởng cho
người lao động.
2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:
ZV kh = [ L đb * TL mindn * ( H cb + H pc ) + V vc ] * 12 tháng
Trong đó:
ZV kh: Tổng quỹ lương kế họach
L đb: lao động định biên
TL mindn: mức lương tối thiểu của doanh nghiệp lựa chọn trong khung
quy định
H cb: hệ số lương cấp bậc công viêc bình quân
H pc: hệ số các khoản phụ cấp lương bình quân được tính trong đơn giá
tiền lương
V vc: quỹ tiền lương của bộ máy gián tiếp mà số lao động này chưa
tính trong định mức lao động tổng hợp
Đơn giá tiền lương của doanh nghiệp được xây dựng theo 4 phương
pháp:
đổi):
+ Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm ( hoặc sản phẩm quy
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là tổng sản phẩm bằng hiện vật (kể cả sản phẩm quy đổi) thường
được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoặc một
số sản phẩm có thể quy đổi được
+ Đơn giá tiền lương tính trên doanh thu:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là doanh thu ( hoặc doanh số ) thường áp dụng đối với doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp
+ Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là tổng doanh thu trừ tổng chi không có lương, thường áp dụng đối
với các doanh nghiệp quản lý được tổng thu, tổng chi một cách chặt chẽ trên
cơ sở các định mức chi phí
+ Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận:
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là lợi nhuận, thường áp dụng đối với doanh nghiệp quản lý được
tổng thu, tổng chi và xác định lợi nhuận kế hoạch sát với thực tế thực hiện
V đg =
Z V kh


Z P kh
Trong đó:
Vđg: đơn giá tiền lương ( đồng/1000đồng )
Z V kh: tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch
Z P kh: lợi nhuận kế hoạch
* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:
V c = V kh + V pc + V bs + V tg
Trong đó:
Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch
Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương
Vpc: quỹ các khoản phụ cấp lương kế hoạch và các chế độ khác
( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định
Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh
nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm
Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt
quá số giờ làm thêm của bộ luật lao động quy định.
3. Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Hiện nay phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta đều áp dụng hình
thức trả lương theo sản phẩm. Trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương
căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất ra của mỗi người và đơn
giá lương sản phẩm để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức.
Sở dĩ như vậy là vì chế độ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp chưa
kiểm tra giám sát được chặt chẽ về sức lao động của mỗi người để đãi ngộ về
tiền lương một cách đúng đắn. Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình
thức căn bản để thực hiện quy luật phân phối theo lao động. Để quán triệt đầy
đủ hơn nữa nguyên nhân, nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng
lao động nghĩa là căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động của mỗi người sản
xuất. Ai làm nhiều, chất lượng sản phẩm tốt, được hưởng nhiều lương, ai làm
ít chất lượng sản phẩm xấu thì hưởng ít lương. Những người làm việc như
nhau thì phải được hưởng lương bằng nhau. Mặt khác chế độ trả lương theo
sản phẩm còn phải căn cứ vào số lượng lao động, chất lượng lao động kết tinh
trong từng sản phẩm của mỗi công nhân làm ra để trả lương cho họ, làm cho
quan hệ giữa tiền lương và năng suất lao động, giữa lao động và hưởng thụ có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
3.1. Tác dụng của hình thức trả lương theo sản phẩm:
- Làm cho mỗi người lao động vì lợi ích vật chất mà quan tâm đến
việc nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm hoàn thành
toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước. Vì hình thức lương sản phẩm căn
cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm của mỗi người sản xuất ra để
tính lương nên nó có tác dụng khuyến khích người công nhân tích cực sản
xuất, tận dụng thời gian làm việc tăng năng suất lao động. Hơn nữa chỉ những
sản phẩm tốt mới được trả lương cao nên người công nhân nào cũng cố gắng
sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt. Như vậy năng suất lao động tăng,
chất lượng sản phẩm bảo đảm thì giá thành sản phẩm sẽ hạ.
- Khuyến khích người công nhân quan tâm đến việc nâng cao
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học kĩ thuật hợp lý hóa sản xuất
và lao động. Tích cực sáng tạo và áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến.
Khi thực hiện trả lương theo sản phẩm, công nhân phải phấn đấu để thường
xuyên đạt và vượt mức các định mức lao động đề ra do đó họ không đơn thuần
dựa vào sự lao động hết sức mình, tận dụng thời gian làm việc mà phải cố
gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì
mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vững và áp dụng các phương pháp sản xuất
tiên tiến. Hơn nữa họ còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huy sáng kiến,cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Có như vậy thì sản phẩm làm ra sẽ tăng và
sức lao động sẽ giảm xuống. Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản
xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế. Khi áp dụng chế độ
tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi có sự chuẩn bị sản xuất nhất định. Phải
củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao động đảm
bảo cho quá trình sản xuất được cân đối hợp lý. Trong quá trình thực hiện do
năng suất lao động của công nhân tăng, nhiều vấn đề mới đặt ra cần giải quyết
như cung cấp nguyên vật liệu đúng quy cách, chất lượng, kịp thời gian. Kiểm
tra nghiệm thu được chính xác số lượng, chất lượng sản phẩm. Điều chỉnh lại
lao động trong dây chuyền sản xuất. Thống kê thanh toán tiền lương nhanh
chóng, chính xác, đúng kì hạn,…Các vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất tiền lương của công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và yêu cầu giải
quyết. Bất kì một hiện tượng nào vi phạm đến kỹ thuật công nghệ và chế độ
phục công tác, người công nhân không những tìm cách khắc phục kịp thời mà
còn tích cực đề phòng các khuyết điểm có thể xảy ra. Đồng thời, đấu tranh
chống hiện tượng tiêu cực, làm việc thiếu trách nhiệm trong cán bộ quản lí và
công nhân sản xuất.
- Củng cố và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tác phong thái độ lao động xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi
đua phát triển là do nhiệt tình yêu nước, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa và
trình độ văn hóa kỹ thuật của công nhân, do năng suất lao động được nâng cao
mà có. Muốn thi đua đạt được bền bỉ thường xuyên liên tục thì phải được bồi
dưỡng bằng vật chất mới có tác dụng. Trả lương theo sản phẩm là phương tiện
tốt để thực hiện yêu cầu đó. Động viên thi đua liên tục và mạnh mẽ đồng thời
áp dụng một cách đúng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm sẽ kết hợp chặt
chẽ được hai mặt khuyến khích bằng vật chất và động viên tinh thần để thúc
đẩy và phát triển sản xuất. Hai vấn đề này phải dựa vào nhau và thúc đẩy lẫn
nhau làm cho năng suất lao động ngày càng tăng và phong trào thi đua xã hội
chủ nghĩa ngày càng mở rộng và có chất lượng cao. Ngoài ra chế độ lương sản
phẩm còn góp phần bồi dưỡng giáo dục cho công nhân có hứng thú nhiệt tình
trong lao động _ có ý thức và trách nhiệm quan tâm đến việc của tập thể.
Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có
ý nghĩa kinh tế, chính trị quan trọng. Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích
cực sản xuất với chất lượng tốt và năng suất cao. Vừa tăng thu nhập cho cá
nhân người lao động vừa làm tăng hơn sản phẩm cho xã hội góp phần thay đổi
nền kinh tế cả nước.
3.2. Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm:
Muốn tổ chức trả lương theo sản phẩm xí nghiệp chuẩn bị các điều
kiện sau đây:
3.2.1. Công tác chuẩn bị sản xuất:
- Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc
chuẩn bị về nhân lực là vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng
trong quá trình sản xuất. Con người có quán triệt ý nghĩa tác dụng cúa chế độ
lương sản phẩm thì mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm
tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện chế độ lương sản phẩm. Để chuẩn bị
tốt yếu tố con người cần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng
làm bừa, làm ẩu. Thiếu chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây
hoang mang dao động trong công nhân. Phải giải thích giáo dục cho công
nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ thấy mục
tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chát lượng sản
phẩm, chi phí sản xuất. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho
các cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản
phẩm,…
- Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: kế hoạch sản xuất phải rõ ràng cụ
thể, phải tổ chức cung cấp đầy đủ thường xuyên nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị và phương tiện phòng hộ lao động để công nhân có thể sản xuất được
liên tục.
3.2.2. Xác định đơn giá lương sản phẩm:
Để thực hiện chế độ lương sàn phẩm cần xác định đơn giá lương
sản phẩm cho chính xác trên cơ sở xác định cấp bậc công việc và định mức lao
động chính xác.
Xác định cấp bậc công việc như ta đã biết đơn giá lương sản phẩm
được tính như sau:
Đơn giá sản phẩm =
M ứ

c lư ơng

cơ b

ản công nhân + phụ cấp
Mức sản lượng
Như vậy muốn có đơn giá hợp lý, chính xác phải xác định đúng đắn
cấp bậc công việc. Nếu cấp bậc công việc được đánh giá xác định cao hơn yêu
cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ cao hơn hoặc ngược lại nếu cấp bậc công việc được
đánh giá xác định thấp hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ thấp hơn. Do đó
nếu xí nghiệp chưa có cấp bậc công việc thì phải xây dựng cấp bậc công việc.
Nếu có rồi thì phải rà soát lại để kịp thời sữa đổi những cấp bậc công việc đã
lạc hậu.
O
Định mức lao động: là thước đo tiêu chuẩn về tiêu hao lao động,
đánh giá kết quả lao động và tính đơn giá sẽ sai và tiền lương của công nhân
sẽ tăng hoặc giảm không hợp lý. Do đó sẽ không khuyến khích công nhân tăng
năng suất lao động.
Định mức lao động để trả lương sản phẩm là mức lao động trung
bình tiên tiến_do đó phải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở xí
nghiệp đã được chấn chỉnh. Các mức lao động đang áp dụng ( nếu có )
phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lí không sát thực tế
sản xuất.
3.2.3. Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm:
Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương
theo đúng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S do đó
cần phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất
những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynh hướng chạy theo sản lượng
để tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và
yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn,
kịp thời.
sau:
Hình thức trả lương theo sản phẩm gồm nhiều chế độ trả lương như
C h

ế độ

t r ả lươ ng

s ả

n phẩ

m trực tiếp không h ạ

n c h

ế:
Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết
sản phẩm và theo đơn giá nhất định. Tiền lương của công nhân căn cứ vào số
lượng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả
lương. Bất kì trường hợp nào công nhân sản xuất hụt mức, đạt mức hoặc vượt
mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đều được trả lương nhất định
gọi là đơn giá sản phẩm. Như vậy tiền lương của công nhân sẽ tăng theo số
lượng sản phẩm sản xuất ra. Nếu sản xuất được nhiều sản phẩm thì được trả
nhiều lương và ngược lại sản xuất được ít sản phẩm thì được trả ít lương.
Đơn giá sản phẩm là cơ sở của chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực
tiếp không hạn chế. Khi xác định đơn giá sản phẩm người ta căn cứ vào hai
nhân tố: định mức lao động và mức lương cấp bậc công việc
Công thức tính đơn giá sản phẩm như sau:

Nếu công việc được định mức thời gian:
Đơn giá = Mức lương cấp bậc công viên * mức thời gian

Nếu công việc định mức sản lượng:
Mứ

c lương

cấp b

ậc công việc + Ph



cấp
Đơn giá =
Mức sản lượng
-12 -GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung
Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương tính trả cho ngừơi lao động
theo kết quả lao động _ khối lượng sản phẩm công việc và lao vụ đã hoàn
thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá
tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc lao vụ đó. Tiền lương theo
sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hoặc một tập thể người
lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất.
Tiền lương được lĩnh
=
trong tháng
Số lượng ( khối lượng )
*
công việc hoàn thành
Đơn giá
tiền lương
Khi tính đơn giá sản phẩm ta phải lấy mức lương cấp bậccông việc để
tính chú không lấy mức lương cấp bậc công nhân được giao làm công việc đó,
vì có những trường hợp lương cấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc
công việc được giao làm cho đơn giá sản phẩm thay đổi, sẽ phá vỡ tính thống
nhất của chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và tính hợp lý của quy luật phân
phối theo lao động.
Về định mức lao động, khi tính đơn giá ta phải xác định định mức của
công việc đó là mức thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác.
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế ) thích
hợp với những loại công việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và
nghiệm thu từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được. Tùy
theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất. Nếu những công việc mà người
công nhân có thể tiến hành sản xuất độc lập thì có thể quy định mức lao động
và tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng công nhân và trả
lương sản phẩm trực tiếp cho từng công nhân. Nếu công việc cần nhiều công
nhân phối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến
hành trả lương trực tiếp cho nhóm hoặc tổ sản xuất đó.
C h

ế độ

tiền lương tính theo s ả

n phẩ

m gián tiế p:
Chế độ lương này không áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà
chỉ áp dụng cho công nhân phục vụ sản xuất. Công việc của họ có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc đạt và vượt mức của công nhân chính hưởng lương theo sản
phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của
công nhân đứng máy. tiền lương của công nhân phục vụ được tính căn cứ vào
số lượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra. Những công nhân
sửa chữa máy nếu áp dụng lương sản phẩm gián tiếp cần phải quy định và
kiểm tra chặt chẽ việc nghiệm thu trong định kì sửa chữa máy, đề phòng hiện
tượng tiêu cực đồng tình với công nhân đứng máy chạy theo sản lượng, cho
máy chạy quá mức làm cho máy hỏng
Đơn giá sản phẩm gián tiếp được tính bằng cách lấy mức lương tháng
của công nhân phục vụ chia cho định mức sản xuất chung của công nhân đứng
máy do công nhân đó phục vụ
Mứ

c lươ

ng tháng củ

a công nhân phụ

c v




Đơn giá
=
Định mức sản xuất chung
Như vậy nếu những công nhân đứng máy trực tiếp sản xuất sản phẩm
càng nhiều, tiền lương của số công nhân phục vụ ngày càng nhiều và ngược lại
nếu những công nhân đứng máy sản xuất được ít sản phẩm thì tiền lương của
công nhân phục vụ ngày càng ít.
Tiền lương được lĩnh
trong tháng
Tiền lương được lĩnh của
= *
bộ phận trực tiếp
tỷ lệ
lương
gián tiếp
Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp cũng được tính cho từng người lao
động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận gián tiếp phục vụ sản
xuất hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản
xuất.
Khi thực hiện chế độ tiền lương này thường xảy ra hai trường hợp và
cách giải quyết như sau:

Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính
sản xuất ra sản phẩm hỏng, hàng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ
hưởng theo chế độ trả lương khi làm ra hàng hỏng, hàng xấu_xong vẫn đảm
bảo ít nhất bằng mức lương cấp bậc của người đó.

Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành định mức sản lượng thì
tiền lương của công nhân phục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián
tiếp mà theo lương cấp bậc của họ
Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gían tiếp có tác dụng làm cho công
nhân phục vụ quan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính mà họ phục vụ.
C h

ế độ

tiền lươ ng

s ả

n phẩ

m l ũ

y tiế n:
Chế độ tiền lương này được tính như sau:
Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm
lũy tiến thì được trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm sản xuất ra
vượt mức khởi điểm lũy tiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét