Tìm hiểu nhu cầu của cá nhân hay nhóm, tập thể thực hiện nhiệm vụ
công việc, nhà quản lý cũng cần chú ý một khía cạnh khác nữa là nhu cầu phản
ánh trạng thái chủ quan của con người, những mong muốn của con người trong
thời điểm đó và nhu cầu có khả năng điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành vi
của các cá nhân hay nhóm. Quá trình thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của họ
sẽ thúc đẩy những người thực hiện nhiệm vụ làm việc tích cực hơn, hiệu quả
hơn.
4.4. Các quy luật cơ bản của nhu cầu:
Khi sự thõa mãn nhu cầu tồn tại được bão hòa, chúng sẽ bị hạ thấp tới
mức chỉ còn là những điều kiện sống và điều kiện sống càng quen thuộc thì con
người càng ít chú ý tới.
Khi tìm hiểu nhu cầu của người lao động, nhà quản lý cần nắm được quy
luật tác động của nó. Theo W.H. Newman, quy luật tác động của nhu cầu là:
a. Khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì nó không còn là động lực
thúc đẩy hoạt động của con người nữa.
b. Ở hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu. Khi nhu cầu này
được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở nên bức thiết hơn. Con người không bao
giờ thỏa mãn đầy đủ cả. Sự mong muốn của con người là vô tận.
Nhà quản lý cần hiểu và nắm được quy luật vận động của nhu cầu để sử
dụng chúng phục vụ cho hoạt động quản lý tổ chức của mình. Điều này thể hiện
ở hai phạm vi:
- Ở phạm vi tổ chức do mình quản lý, nhà quản lý cần biết được ở mỗi cá
nhân và mỗi nhóm trong tổ chức, ở mỗi thời điểm có thể có nhiều nhu cầu cần
được thỏa mãn. Nhưng trong số các nhu cầu đó có một nhu cầu trở nên bức
thiết hơn mà chúng ta gọi là nhu cầu nỗi trội, việc thõa mãn nhu cầu này sẽ tạo
ra sự phấn khởi, an tâm và hứng thú trong hoạt động của những người dưới
quyền. Hiệu quả, chất lượng công việc của họ sẽ được nâng cao.
Để hiểu được các nhu cầu của những người dưới quyền, đặc biệt là nhu
cầu nỗi trội của họ thì nhà quản lý cần phải sâu sát, lắng nghe ý kiến, tâm tư
nguyện vọng của các thành viên trong tổ chức.
5
- Ở phạm vi xã hội, nhà quản lý nghiên cứu và nắm được nhu cầu của
người tiêu dùng sẽ biết được trong thời điểm hiện tại và trong thời gian đến cần
kinh doanh mặt hàng gì thì có thể tiêu thụ nhanh và có lãi trên thị trường tức là
biết được những nhu cầu nào đã và sắp bão hòa, nhu cầu nào mới xuất hiện và
chúng cần được thõa mãn.
Phần II: Mô tả một trường hợp xung đột trong đơn vị và nêu cách giải
quyết trường hợp xung đột đó.
NỘI DUNG
1. Khái niệm xung đột:
Xung đột trong tập thể, nhóm xảy ra khi:
- Trong tập thể, nhóm có khác biệt ý kiến, lợi ích, quan điểm, ý tưởng bất
đồng, mâu thuẫn.
- Khi các mâu thuẫn phá vỡ sự tác động qua lại bình thường, ảnh hưởng
đến việc đạt mục đích chung.
Ở đây cần xác định hai khái niệm cơ bản. Đó là khái niệm mâu thuẫn và
khái niệm xung đột. Mâu thuẫn là ở mức độ thấp và xung đột ở mức độ cao
hơn.
Phân tích về xung đột ta thấy có hai loại hình thức xung đột cơ bản:
- Xung đột thực: Hướng đến để đạt kết quả thực sự nào đó.
- Xung đột ảo: Không hướng đến để đạt kết quả thực sự nào. Đây là loại
xung đột khó giải quyết; muốn giải quyết phải nâng cao văn hóa, tạo không khí
tâm lý ấm áp.
2. Mô tả một trường hợp xung đột xảy ra trong đơn vị:
2.1. Diễn biến xung đột:
a. Xuất hiện tình huống xung đột: “Sáng thứ hai đầu tuần, có một người
đàn ông với vẻ mặt đằng đằng sát khí đến Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng
Điện lực miền Trung yêu cầu giải quyết vụ việc sinh viên của nhà trường đã dụ
6
dỗ con gái chưa đến tuổi vị thành niên của ông ta đưa đi đâu mấy ngày nay
chưa về. Yêu cầu nhà trường can thiệp với sinh viên trả lại ngay con gái cho
ông ta, nếu không ông ta sẽ kiện ra tòa án”.
b. Các bên ý thức tình huống xung đột: Lãnh đạo Phòng Đào tạo báo
cáo Ban giám hiệu nhà trường về tình huống xung đột có thể xảy ra căng thẳng
dẫn đến kiện cáo nếu không giải quyết tình huống mâu thuẩn giữa người đàn
ông là cha của cô gái đã bị sinh viên nhà trường dụ dỗ như lời người đàn ông
yêu cầu giải quyết.
Lãnh đạo nhà trường, giáo viên, cán bộ công chức trong trường lo lắng,
xôn xao.
c. Phân tích về xung đột: Đây là loại xung đột có thể là thực, có hành vi
phi đạo đức, vi phạm pháp luật của sinh viên nếu sự thực đúng như yêu cầu của
người đàn ông nọ.
3. Cách giải quyết trường hợp xung đột:
3.1. Nguyên tắc giải quyết:
Công tác giáo dục và quản lý học sinh sinh viên (HSSV) trong trường là
chức năng, nhiệm vụ của Phòng Công tác HSSV. Được thông báo của Ban
giám hiệu, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV đến Phòng Đào tạo mời người đàn
ông đó về Phòng Công tác HSSV để giải quyết.
3.2. Hướng giải quyết:
a. Tìm hiểu nguyên nhân:
Để tìm hiểu nguyên nhân, trước hết lãnh đạo Phòng Công tác HSSV mời
người đàn ông đó về Phòng Công tác HSSV, tìm hiểu ông ta tên gì, ở đâu, con
gái ông ta tên gì, chưa đến tuổi vị thành niên nhưng còn đi học phổ thông hay
làm gì, nếu còn học, học lớp mấy, trường nào, quen với thanh niên dẫn đi làm
sao biết thanh niên đó là sinh viên nhà trường, nếu là sinh viên nhà trường thì
tên gì, học lớp nào và đề nghị ông ta bình tĩnh trình bày cụ thể vấn đề, sự việc
diễn ra như thế nào, cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của lãnh đạo Phòng
Công tác HSSV (lãnh đạo Phòng Công tác HSSV ghi chép từng chi tiết của vấn
đề cụ thể).
7
Người đàn ông đó trình bày với lãnh đạo Phòng Công tác HSSV như sau:
“Ông ta tên là Kiều Văn A, hiện ở tại số nhà 113 đường Cửa Đại, Phường Cẩm
Châu, Thành phố Hội An, con gái tên là Kiều Thị B, hiện đang theo học lớp
11/3 Trường Trung học Phổ thông Bán công Nguyễn Trãi, Thành Phố Hội An.
Con gái ông ta có quen với một sinh viên của trường tên là Nguyễn Văn B, học
lớp K21Cn1. Sáng thứ bảy vừa qua, sinh viên Nguyễn Văn C đã dụ dỗ con gái
của ông ta đi qua đêm đến nay là thứ hai, đã hai đêm rồi chưa về, yêu cầu nhà
trường giải quyết nếu không sẽ làm đơn kiện ra tòa án”.
a. Giới hạn, phân tách những người tham gia vào xung đột:
Xung đột ở đây là mâu thuẩn giữa các đối tượng tham gia có thể phân
nhóm như sau:
Nhóm 1: Người đàn ông (cha cô gái) đại diện gia đình và cô gái.
Nhóm 2: Một em nam là sinh viên của nhà trường và đại diện nhà trường.
Nếu giới hạn lại ở đây thì chỉ còn hai đối tượng: Người đàn ông (cha cô
gái) và đại diện nhà trường.
b. Phân tích xung đột:
Nếu tình huống vấn đề đúng như khiếu nại, yêu cầu của người đàn ông
thì em sinh viên của nhà trường có hành vi phi đạo đức, vi phạm pháp luật sẽ
phải truy tố trước pháp luật đồng thời cũng phản ảnh thực trạng công tác giáo
dục và quản lý HSSV còn hạn chế, bất cập, chưa sâu sát đến HSSV về vấn đề
giáo dục thường thức pháp luật nên để HSSV vi phạm như vậy, tuy nhiên vấn
đề ở đây còn một số nguyên nhân mà lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cần phải
tìm hiểu thêm một số chi tiết quan trọng như sau:
1. Kiểm tra lại thông tin cá nhân của sinh viên (tên, lớp) có đúng như ông
ta cung cấp không. Nếu đúng, tìm hiểu thêm thông tin cá nhân của em về hộ
khẩu, gia đình, kết quả học tập, rèn luyện trên Website nhà trường và kiểm tra
lại sinh viên đó ngày hôm nay có học không.
2. Đặt vấn đề:
+ Vấn đề 1: Tại sao ông ta biết là em sinh viên Nguyễn Văn C dụ dỗ dẫn
con gái ông ta đi ?; liệu ông ta có biết dẫn đi đâu không ?
8
+ Vấn đề 2: Biết em sinh viên Nguyễn Văn C dẫn, tại sao để cho con gái
đi ?
+ Vấn đề 3: Tại sao ông ta không báo cáo Công an ?
c. Giải quyết:
+ Sau khi Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV kiểm tra thông tin cá nhân
sinh viên Nguyễn Văn C đúng tên và lớp như người đàn ông cung cấp; Nguyễn
Văn C là sinh viên năm cuối có kết quả học tập: Trung bình khá; kết quả rèn
luyện: khá; không có nợ đơn vị học trình trong khóa học; hiện nay đang về nhà
để chuẩn bị tuần sau thực tập sản xuất tại Điện lực Tam kỳ, Tỉnh Quảng Nam
(khả năng về từ thứ bảy là đúng vì thi xong học kỳ là thứ năm); lãnh đạo Phòng
Công tác HSSV thông báo ngay cho ông ta biết về kết quả học tập, rèn luyện
của sinh viên Nguyễn Văn C như vậy và tạm đưa ra kết luận chủ quan theo
bệnh nghề nghiệp:
“Với kết quả học tập, rèn luyện của em sinh viên Nguyễn Văn C như vậy,
khả năng dụ dỗ của em sinh viên này với con gái bác là khó có thể xảy ra”;
đồng thời Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng nêu ngay câu hỏi đặt từng vấn
đề như đã nêu trên:
+ Câu hỏi của vấn đề 1:
“Tại sao bác biết là em sinh viên Nguyễn Văn C dụ dỗ dẫn con gái bác
đi?, liệu bác có biết dẫn đi đâu không ?”.
Người đàn ông đó trả lời ngay “Thầy không tin hả, không tin thì tôi điện
thoại hỏi con gái tôi là biết ngay”.
Nói xong, người đàn ông đó rút điện thoại di động ra bấm.
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV không nêu tiếp vấn đề 2, 3 nữa mà nhạy
bén chuyển sang yêu cầu khác theo tình huống thay đổi bất ngờ:
“Bác bảo con gái bác chuyển điện thoại cho em Nguyễn Văn C có thầy
giáo cần gặp gấp”.
Người đàn ông thực hiện theo yêu cầu và Lãnh đạo Phòng Công tác
HSSV giải quyết tình huống bằng biện pháp quyền lực hành chính của mình
9
ngay sau khi người đàn ông giao điện thoại qua và bật loa điện thoại di động lên
cho người cha cùng nghe:
“Thầy là đây, có phải Em là Nguyễn Văn C, sinh viên lớp K21Cn1
không?”
“Vâng, em chào thầy”
“Em đã về nhà chưa ?, hiện nay em đang làm gì và ở đâu cùng với em
B”
“Dạ thưa thầy, em đã về nhà và có mời em gái kết nghĩa tên là Kiều Thị
B về nhà chơi và hiện đang dẫn em B lên Khu du lịch sinh thái Phú Ninh tham
quan”.
“Em đã xin phép bố mẹ em B chưa, em có biết việc em dẫn em B đi như
vậy là làm gia đình em B lo lắng, bố em B hiện nay đang đến trường khiếu nại
là em dụ dỗ con gái chưa đủ tuổi thành niên đi khỏi nhà 2 đêm rồi không ?,
Việc làm của em nếu bị khiếu nại, tố cáo sẽ dẫn đến em bị đình chỉ thực tập để
giải quyết vấn đề vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của em không?”.
Câu hỏi không được trả lời mà có giọng nữ:
“Thầy cho em gặp ba em”
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV chuyển ngay điện thoại cho người đàn
ông và nghe cô gái nói với bố qua loa điện thoại vẫn được mở một điều hết sức
bất ngờ:
“Ba hả, ông có về đi không, ông mà không về, ông mà khiếu nại, kiện
tụng là tui đi luôn không về đó, tui nhảy xuống hồ Phú Ninh chừ đây!”
Điện thoại bị cắt luôn.
Người đàn ông từ trạng thái đằng đằng sát khí khi mới vào trường đến
bây giờ trông thật thảm hại, vô cùng tội cho một người cha.
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV đề nghị người cha tiếp tục gọi lại cho
con gái nhưng máy đầu kia tắt nguồn.
Người lãnh đạo Phòng Công tác HSSV với kinh nghiệm sư phạm nhiều
năm trong công tác giảng dạy chuyên môn cũng như công tác giáo dục và quản
lý HSSV, đã phân tích cho người cha biết: Sự việc không đến nỗi trầm trọng,
10
con gái ông ta chưa đến mức độ hư hỏng vì tin rằng em sinh viên C của nhà
trường có tình cảm trong sáng, anh khuyên người cha an tâm về nhà và hứa con
gái ông ta sẽ về nhà ngay trong chiều hôm nay đồng thời cũng yêu cầu ông ta
với trách nhiệm, nghĩa vụ của một người cha trong gia đình cần phải giáo dục
đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng cho con
cái trong nhà một cách mềm dẽo nhưng nghiêm khắc, không nuông chiều thái
quá, không dễ dãi buông lỏng bằng tình bạn, tình anh em kết nghĩa để rồi dẫn
đến hư hỏng, khổ cả đời con lẫn nỗi buồn không bao giờ vơi của người làm cha
mẹ khi con cái trót dại lầm lỡ; gia đình phải có trách nhiệm cùng với nhà trường
giáo dục con cái, có trách nhiệm và tạo điều kiện cho con cái thực hiện ước mơ
lành mạnh, ước mơ học tập đến nơi đến chốn để xây dựng tương lai thoát
nghèo, thoát khổ và có nhiều biện pháp ngăn ngừa những thói hư, tật xấu như
hành động của con ông ta xảy ra vừa rồi.
Thực hiện lời hứa với ông Kiều văn A, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV
đã liên lạc với phụ huynh của em C qua số điện nhà (Thông tin trong hồ sơ sinh
viên), trao đổi sự việc xảy ra cùng phụ huynh em C, yêu cầu phụ huynh em C
liên lạc với em C, B và bảo em C chở em B về gấp trong chiều hôm nay cũng
như em C phải có mặt tại Phòng Công tác HSSV để tường thuật, kiểm điểm sự
việc xảy ra đã ảnh hưởng đến uy tín nhà trường, nếu không thực hiện nghiêm
túc, nhà trường tạm đình chỉ thực tập để làm rõ.
Tiếp tục sau đó, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng kịp thời báo cáo
kết quả giải quyết sự việc với Ban giám hiệu và thông báo cho Phòng Đào tạo,
giáo viên, cán bộ công chức biết để tránh dư luận xôn xao, tam sao thất bản xảy
ra, ảnh hưởng chung môi trường sư phạm nhà trường.
Bằng các biện pháp giáo dục và bằng quyền lực hành chính, lãnh đạo
Phòng Công tác HSSV đã giải quyết thỏa mãn mâu thuẩn, không để xung đột
xảy ra.
(Ghi chú: Câu chuyện về trường hợp xung đột trên là có thực tế tại
trường, chỉ không ghi rõ họ tên thật của các đối tượng)
11
NỘI DUNG
1. Thân thế Lê Quý Đôn:
Lê Quý Đôn (1726 – 1781) Nhà văn hóa lớn Việt Nam dưới thời Hậu Lê.
Thuở nhỏ, ông có tên là Lê Danh Phương, đến năm 1743 sau khi đỗ giải nguyên
Trường Sơn Nam thì đổi thành Lê Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường,
quê làng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay là
huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Lê Quý Đôn xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời, thân phụ là
Lê Phú Thứ làm quan Triều Lê. Thuở nhỏ Lê Quý Đôn nỗi tiếng thông minh, có
trí nhớ phi thường, người đương thời xem ông là thần đồng. Nhiều sách chép
tiểu sử của ông có ghi: Năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã
học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 17 tuổi (1743),
ông đỗ giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Năm 1752, Lê Quý Đôn
được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng
Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê
Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thị độc tòa Hàn lâm, rồi giữ chức tư nghiệp
Quốc tử giám. Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều
vua Lê Hiển Tông, thái thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm
Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống
lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ. Trong
dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là
Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý
Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy
tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ
những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ.
Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không
được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
12
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được
phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc sử kiêm chức Tư nghiệp Quốc
Tử Giám. Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân
năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ Đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được
đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong
tước Nghĩa Phái Hầu. Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.
3. Tác phẩm:
Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho
hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn,
chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn: “Làm thơ có 3 điểm chính: một là
tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động
vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng
kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần đại để không ngoài ba điểm
ấy”.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm
quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có
thể kể ra như sau: Lịch sử-địa lý: Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử
(gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng
loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao
quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu
mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội
Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763. Kiến văn tiểu lục (12
quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam
từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các
13
vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục
tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ
văn, sách vở Bách khoa thư: Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm
xong vào năm 1773, lúc ông 47 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ
nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa
học, văn học sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn
nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội Vân đài loại ngữ là bộ sách
đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một
bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.
Thơ, văn: Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc
khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời Lý-Trần đến đời Lê. Quế Đường
thi tập; Quế Đường văn tập; Quế Đường di tập; Phú Lê Quý Đôn
Triết học, lý số: Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép
lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
Kim Cang kinh chú giải; Thư kinh diễn nghĩa; Dịch kinh phu thuyết; Thái Ất
quái vận; Thái Ất dị giản lục
4. Giai thoại về Lê Quý Đôn: Chữ Đại (大) hay chữ Thái (太)?
Tương truyền thuở nhỏ, một hôm cậu bé cởi truồng đi tắm với các bạn.
Có một vị quan Thượng thư đồng liêu với cha (là Lê Trọng Thứ) tới thăm, hỏi
đường đến nhà. Cậu liền đứng dạng chân và dang tay ra bảo quan Thượng:
Nếu ông biết được cháu đang ra dấu chữ gì, cháu sẽ chỉ nhà cho ông.
Quan Thượng cũng tha thứ cho sự nghịch ngợm của tuổi trẻ nên bỏ đi. Cậu cười
ầm lên và bảo với các bạn:
Ông ấy làm quan to mà không biết chữ các bạn ơi!. Quan Thượng bực
mình quay lại nói: Trẻ con đừng hỗn láo. Mày mới học lỏm được chữ Đại (大)
mà đã dám đi trêu chọc người rồi.
Cậu càng cười to hơn: Thế thì ông không biết chữ thật! Có cái chấm ở
dưới nữa thì là chữ Thái (大) chứ sao lại chữ Đại!
Rắn đầu rắn cổ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét