Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Đầu tư phát triển khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

đó sản phẩm, hàng hoá tạo ra cho nền kinh tế tăng lên, sản xuất phát triển là
nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của
mọi thành viên trong xã hội.
1.1.3.2. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.
Sự tác động đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cung
và tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của hoạt động đầu tư
dù là tăng hay giảm dèu cùng một lức vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa
là yếu tố phá vỡ sự ổn định kinh tế của mỗi quốc gia.
Chẳng hạn, khi đầu tư tăng, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm cho
giá hàng hoá có liên quan tăng đến mức nào đó thì dẫn đến lạm phát sẽ làm
cho sản xuất bị đình trệ, thâm hút ngân sách, đời sống người lao động gặp
nhiều khó khăn Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên
quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển thu hút thêm lao động
giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội. Tương tự như vậy khi đầu tư giảm
cũng gây tác động hai mặt (theo chiều hướng ngược lại với tác động trên).
Vì vậy các nhà chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các
chính sách phù hợp nhằm hạn chế tác động xấu và phát huy các tác động
tích cực duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
1.1.3.3. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ
tăng trưởng mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 - 25% so
với GD tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước.
IC0R = vốn đầu tư . Mức tăng GDP.
Từ đó suy ra:
Mức tăng GDP = Vốn ĐT/ICOR
Nếu hệ số ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc
vào vốn đầu tư. Chỉ tiêu ICOR của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu
5
tố, thay đổi theo trình độ phát triển và cơ chế chính sách của mỗi quốc gia.
ở Việt Nam hệ số ICOR trong thời gian qua như sau:
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Hệ số ICOR 3,1 3,1 3,8 4,4 5,5 4,0
Nguồn: kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 2001
Hệ số ICOR của Việt Nam tăng dần đã chứng tỏ hiệu quả đầu tư còn
thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo đó cũng thấp tương ứng.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là
vấn đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng thêm
sản phẩm quốc dân dự kiến, ở nhiều nước đương đóng vai trò như một cái
huých ban đàu tạo đà cho sự cất cánh kinh tế.
1.1.3.4. Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư vừa làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật phát
triển, chiến lược phát triển kinh tế xã hội giữa các ngành, vùng và tạo điều
kiện phát huy lợi thế so sánh của ngành, vùng về tài nguyên, địa thế, kinh
tế, chính trị
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu
để tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo
ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp, bởi vì khu vực nông nghiệp
do những hạn chế về khả năng sinh học để đạt được độ tăng trưởng từ 5 -
6% là rất khó khăn. Như vậy chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng trên
toàn bộ nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam đã dần phù hợp hơn theo hướng giảm dần
tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp.
Về cơ cấu vùng kinh tế, đầu tư có tác dụng giải quyết sự mất cân đối
về phát triển, đưa vùng kinh tế kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo
6
nàn, lạc hậu bằng cách phát huy tối đa lợi thế so sánh của mỗi vùng, phát
triển mạnh những vùng khác phát triển . Nhìn chung, đầu tư chính là yếu tố
tác động mạnh nhất đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc tăng
giảm vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên cho từng vùng, ngành trong từng thời
kỳ.
1.1.3.5. Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học công nghệ
của đất nước.
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện
tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng khoa học công nghệ
của đất nước. Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công
nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo
UNIDO nếu chia quá trình phát triển công nghệ thành 7 giai đoạn thì Việt
Nam năm 1990 mới ở giai đoạn 1 và 1. Việt Nam là một trong 90 nước
kém nhất về khoa học công nghệ hiện nay. Với trình độ khoa học công
nghệ như vậy, quá trình CNH - HĐH của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó
khăn nếu không đề ra được một số chiến lược phát triển công nghệ nhanh
và vững chắc.
Chúng ta biết rằng có hai con đường để có công nghệ là: Tự nghiên
cứu phát minh và mua của nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập khẩu
thì đều cần vốn, mọi phương án công nghệ nếu không gắn với nguồn vốn
đầu tư đều không có tính khả thi.
1.2. Lý luận chung về KCN.
1.2.1. Định nghĩa về KCN:
Tuỳ điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh
tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại , hiện nay tên thế giới có hai mô hình
phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN.
7
- Định nghĩa 1: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản
xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn
phòng, nhà ở KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính -
kinh tế đặc biệt như KCN Bâthương mại Indonesia, các công viên công
nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
- Định nghĩa 2: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó
tập trung các doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ sản xuất công nghiệp,
không có dân cư sinh sống. Theo quan điểm này, ở một số nước như
Malaixia, Inđonnesia, Thái Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều KCN với
qui mô khác nhau.
- Theo quy chế KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao - ban hành
kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997, KCN là “khu tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có danh giới địa lý xác định, không
có dân cư sinh sống; do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định
thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất”. Như vậy trong
KCN ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa 2.
Trong đó:
+ Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
+ Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công
nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.
+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cáu hạ tầng
KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
1.2.2. Khái niệm ĐTPT KCN.
8
ĐTPT KCN là tổng thể các hoạt động về huy động và sử dụng các
nguồn lực nhằm xây dựng và phát triển các KCN trong phạm vi không gian
lãnh thổ và trong một thời kỳ nhất định, gắn với sự tác động tổng hợp của
các yếu tố tự nhiên, kinh tế , xã hội vùng. Đó là quá trình tiến hành xây
dựng và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cùng nhiều dự
án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong KCN, do cộng đồng các
chủ thể doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cùng tham gia các dự án ĐTPT theo cơ cấu hợp lý và quy hoạch thống
nhất. Hình thành và phát triển KCN là quá trình tập hợp nhiều dự án đầu tư
được thực hiện liên tục trong một thời gian dài, từ khi chuẩn bị dự án đầu
tư xây dựng hạ tầng đến khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình
hạ tầng đó, từ việc xác định và thu thút các dự án đầu tư sản xuất đến khi
các dự án này được vận hành với toàn diện tích của KCN được sử dụng, đạt
hiệu quả kinh tế xã hội như dự kiến.
1.2.3. Mục tiêu và đặc điểm của KCN:
1.2.3.1. Mục tiêu:
Sự hình thành và phát triển các KCN trên thế giới gắn liền với những
mục tiêu của các nước thành lập KCN và những mục tiêu của Nhà đầu tư
nước ngoài.
1.2.3.1.1. Mục tiêu của Nhà đầu tư nước ngoài :
- Giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng các yếu tố sản
xuất rẻ ở các nước đang phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nước phát triển, nhất
là đầu những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nước
đó. Khi tại các nước này, nguồn nhân công tiền lương thấp ngày một khan
hiếm, giá lao động, chi phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng, đã thúc đẩy các
công ty xuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển ngành công nghiệp
có hàm lượng lao động sống cao sang các bước đang phát triển. Thêm vào
9
đó, giá đất ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên
liệu, công nghiệp tiêu chuẩn hoá như ở cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện
không đòi hỏi trình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ ra
không còn hiệu quả do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập
khẩu từ bên ngoài ngày càng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ
trên thị trường thế giới. Điều này có thể giúp chúng ta lý giải vì sao các
công ty đa quốc gia lại thường đầu tư vào các ngnàh công nghiệp nhẹ, chế
biến, lắp ráp; như dệt, may mặc, điện tử, sản xuất kim khí hoá ở các KCN
của các nước đang phát triển.
- Tránh hàng rào thuế quan được Chính Phủ bảo hộ, mậu dịch của
các nước đang phát triển, tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế, nhất là
thuế và các ưu đãi khác của các nước này, nhằm tăng cường lợi ích của các
công ty xuyên quốc gia.
- Bảo vệ môi trường của các nước phát triển. Sự phát triển ở đầu tư
của các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nhiều phế thải
đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường không kiểm soát nổi ở các nước
phát triển, làm cho chi phí bảo vệ môi trường ngày càng tăng. Xu hướng
chung của các công ty xuyên quốc gia là muốn chuyển các ngành công
nghiệp này sang các nước đang phát triển để bảo vệ môi trường nước họ và
giảm chi phí sản xuất.
- Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triển lâu dài.
Khi đầu tư ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào KCN, các công ty tư bản
nước ngoài muốn mở rộng địa bàn hoạt động tạo chỗ đứng, chuẩn bị cho
những bước đi lâu dài trong chiến lược phát triển của họ. Đàu tư của các
nước phương Tây, Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông vào Trung Quốc là
điển hình của xu hướng đó.
1.2.3.1.2. Mục tiêu của nước thành lập.
10
Trong khi các Công ty tư bản nước ngoài tìm kiếm lợi ích của mình
thông qua các động cơ không cần che dấu đó, thì các nước tiếp nhận đầu tư
cũng cố gắng đạt được những mục tiêu chiến lược của mình thông qua việc
thành lập các KCN. ở đây khó có thể đề cập đến mục tiêu của từng nước
đang phát triển, bởi lẽ mỗi nước trong mỗi khu vực có những điều kiện và
mục tiêu phát triển riêng. Song nếu phân tích từ giác độ vĩ mô, có thể tóm
lại mục tiêu cơ bản và thống nhất của các nước này là như sau:
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Đây là mục tiêu quan trọng nhất
của KCN. Với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động theo qui chế riêng
trong môi trường đầu tư chung của cả nước, KCN trở thành công cụ hữu
hiệu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dể mở mang hoạt động sản xuất
kinh doanh trong khu vực và đạt tới tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của
cả nền kinh tế.
- Các nước chủ nhà, trong nhiều trường hợp, đã thông qua KCN như
một cầu nối trung gian để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các phần lãnh
thổ còn lại của đất nước.
- Mở rộng hoạt động ngoại thương: Thông qua việc thành lập KCN,
nước chủ nhà muốn đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước.
Đối với Việt Nam, là một nước đang phát triển thì việc lập ra các
KCN để thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, mở rộng
công nghiệp, xuất khẩu, từ đó tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
lớn là điều quan tâm nhất.
- Tạo công ăn việc làm:
Khuyến khích toàn dụng lao động là những mục tiêu quan trọng của
các nước đang phát triển. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự bùng nổi dân
số và tình trạng thất nghiệp đã làm cho bức tranh kinh tế của các nước ngày
càng trở nên ảm đạm. Trong khi các nước mời dành được độc lập dư thừa
sức lao động thì tình trạng thiếu người lao động, đặc biệt là các lao động
11
tiền lương thấp ở các nước tư bản phát triển, đặt các nước này trước sự lựa
chọn sử dụng nguồn lực lao động dồi dào trong đội quân thất nghiệp khồng
lồ ở các nước đang phát triển.
Mở mang KCN để tạo ra nhiều hơn chỗ làm việc là mục tiêu chung
của các nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu
thực hiện chiến lược lâu dài về toàn dụng lao động ở các nước đó.
- Du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản
lý của các công ty tư bản nước ngoài.
Vào những năm của thập kỷ 70 và 80 để tránh bị tụt hậu về kinh tế,
đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất
khẩu trên thế giới, các nước đang phát triển muốn mau chóng phát triển
khoa học kỹ thuật của mình, nâng cao trình độ kinh tế của đất nước. Xây
dựng KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tạo điều kiện nhập khẩu
kỹ thuật, công nghệ của các Công ty tư bản nước ngoài, học tập kinh
nghiệm quản lý kinh tế của họ là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nước từng
áp dụng.
- Làm cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế
giới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước.
Trước hết hàng tiêu dùng từ các KCN cung cấp cho thị trường nội
địa ở thành thị và nông thôn đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhập lậu
từ nước ngoài, đồng thời góp phần tăng sản xuất hàng xuất khẩu.
KCN cũng là một ngõ cửa khai thông nền kinh tế trong nước với nnè
kinh tế khu vực và thế giới.
Mặt khác, KCN là một bộ phận cấu thành của kinh tế trong nước, tạo
nên sức thu thút với Nhà đầu tư nước ngoài. Tạo ra năng lực sản xuất mới,
thu hút lao động trong nước vào làm việc ở các KCN, phát triển mối liên
kết với các doanh nghiệp trong nước nằm ngoài KCN thông qua các hợp
12
đồng gia công, cung cấp nguyên liệu giữa các xí nghiệp này là thực tế diễn
ra ở nhiều KCN.
Dù được thành lập trong những điều kiện khác nhau, với tính chất và
thời điểm khác nhau, những mục tiêu các KCN đều gắn liền với mục tiêu
phát triển kinh tế của từng quốc gia. Chính vì vậy, liều lượng và tính chất
ưu tiên đối với kti cụ thể của từng nước cũng rất khác nhau, thể hiện thông
qua ưu đãi mà Chính Phủ các nước này dành cho KCN. Thí dụ: trong khi
Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Philipin dường như đặt lên hàng đầu mục
tiêu xuất khẩu và tạo việc làm; Xrilânghiên cứu và ấn Độ chú trọng vào
việc thu thút đầu tư, thì Trung Quốc lại ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu thúc
đẩy, lôi kéo sự phát triển nền kinh tế khu vực ngoài KCN.
ở Việt Nam thu hoá vốn đầu tư nước ngoài, tăng nhanh xuất khẩu để
có thu nhập ngoại tệ, góp phần thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất
nước tạo công ăn việc làm cho người lao động là nhiệm vụ quan trọng nhất
của hoạt động đầu tư trực tiếp. Việc thành lập các KCN ở Việt Nam là biện
pháp tích cực để thực hiện mục tiêu chiến lược đó.
Song để có các KCN, điều cơ bản của các nước chủ nhà là phải gắn
mục tiêu của các KCN với mục tiêu của các Công ty xuyên quốc gia - đối
tượng chủ yếu của các KCN. Nói cách khác hai bên phải tìm được điểm
gặp nhau đó chính là lợi ích của các bên mà KCN là công cụ thực hiện.
Lợi ihcs đó chỉ có thể đạt được trong môi trường đầu tư do các nước chủ
nhà tạo ra để sẵn sàng đón nhận đầu tư của các công ty xuyên quốc gia.
1.2.3.2. Đặc điểm:
Hiện nah, các KCN được phát triển ở hầu hết ở tất cả các quốc gia,
đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về qui mô,
địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nói chung các
KCN có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
13
- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản
xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có
dân cư (gọi chung là doanh nghiệp KCN). KCN là nơi xây dựng để thu hút
các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị doanh nghiệp
dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp. Theo điều 6 Quy chế KCN,
TCSX, KCNC ban hành kèm Nghị định 36/CP thì doanh nghiệp KCN có
thể là các doanh nghiệp Việt Nam, thuộc mọi thành phần kinh tế doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên tham gia hợp đồng, hợp tác
kinh doanh, các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh
vực cụ thể sau: Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản
xuất gia công, lắp giáp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu
dùng ở trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ
thuật, quy trình công nghệ; nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ để
nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới; dịch vụ hỗ trợ sản
xuất công nghiệp.
- Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
đường xá; hệ thống điện nước, điện thoại. Thông thường việc phát triển cơ
sở hạ t ầng trong KCN do một công ty xã hội khác phát triển công suất hạ
tầng đảm nhiệm. ở Việt Nam Công ty này là các doanh nghiệp liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực
hiện. Các Công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu
hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
- Về tổ chức quản lý: Trên thực tế các KCN đều thành lập hệ thống
Ban quản lý KCN cấp tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp
thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh trong KCN. Ngoài ra tham gia vào quản lý tại các KCN còn có nhều
Bộ như: Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Xây dựng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét