Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Tăng nguồn thu ngân sách cho sự phát triển kinh tế của Thành phố Thanh Hoá trong giai đoạn 2001- 2010

Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
b. Trên quan điểm phân cấp quản lý:
Các hoạt động tài chính có thể và cần được nghiên cứu theo các cấp
quản lý khác nhau. Ta có thể dễ dàng thấy sự tồn tại hai cấp hoạt động tài
chính là tài chính Trung ương và tài chính các địa phương. Trong hệ thống
tài chính các địa phương ta thấy sự phân cấp tài chính của các cấp chính
quyền: Tài chính tỉnh, thành phố, tài chính quận, huyện, phường, xã. Chủ thể
quản lý tài chính của tất cả các cấp là Bộ Tài chính, Sở Tài chính (các tỉnh,
thành phố), phòng tài chính các quận huyện, ban tài chính phường, xã. Thể
hiện tập trung nhất trong khâu ngân sách chính quyền các cấp. Các khoản thu
chi ngân sách của chính quyền các cấp. Các khoản thu chi ngân sách của
chính quyền các cấp được hình thành trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước
năm 1998 và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội các địa phương có định
hướng của Nhà nước.
Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo 3 nguyên tắc sau:
- Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương
được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi một cách cụ thể.
- Thực hiện việc phân bổ hợp lý từ ngân sách cấp trên cho ngân sách
cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa
phương. Số bổ sung này là khoản thu ngân sách của cấp dưới.
- Không dùng ngân sách của cấp này để chu cho nhiệm vụ của cấp
khác, trừ trường hợp đặc biệt của chính phủ hoặc sự uỷ quyền của cơ quan
quản lý Nhà nước cấp trên cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân
sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi đó.
1.2. Hệ thống tài chính đô thị.
a. Khái niệm và nội dung
Hệ thống tài chính của các đô thị là một bộ phận cấu thành của hệ
thống tài chính của cả nước. Hiện nay Nhà nước chưa phân định rõ luồng tài
chính- ngân sách đô thị và nông thôn do vậy ngân sách và tài chính đô thị
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 5
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
chưa có cơ chế chính sách, cơ chế quản lý riêng mà vẫn áp dụng cơ chế
chính sách tài chính chung trong cả nước
Ngân sách đô thị là một bộ phận của ngân sách địa phương và phụ
thuộc vào ngân sách địa phương. Để phát triển và quản lý đô thị, tăng cường
ngân sách địa phương là cần thiết và tất yếu. Trong phân tích kinh tế, có thể
coi ngân sách địa phương và ngân sách đô thị là hợp nhất. Sự phân cấp ngân
sách tạo nên tính độc lập tương đối về quyền hạn thu chi của mỗi cấp chính
quyền và là điều kiện để thực hiện tốt công tác quản lý ngân sách.
Trong các đô thị, việc hình thành ngân sách của chính quyền có sự
khác nhau tùy thuộc vào vai trò, vị trí của đô thị trong nền kinh tế quốc dân.
Các đô thị còn có 2 tổ chức quản lý thu ngân sách và quản lý kho bạc đước
tổ chức theo ngành dọc từ bộ tài chính xuống gồm:
+ Chi cục thuế tỉnh, Chi cục thuế thành phố, quận, thị xã.
+ Chi cục kho bạc, chi nhánh kho bạc thành phố, quận, thị xã.
Để hình thành ngân sách của mình, các cấp chính quyền địa phương
đều có ba nguồn thu chủ yếu: Thuế địa phương và các loại phí, nguồn thu từ
hàng hóa công cộng, trợ cấp của chính phủ. Kết quả của hoạt động thu đó tạo
nên ngân sách chung của địa phương.
b. Những đặc điểm cơ bản:
Tài chính đô thị là quá trình vận động liên tục phát sinh, phát triển của
các nguồn tài chính làm thay đổi các mối quan hệ tiền tệ có liên quan chặt
chẽ với hệ thống chính sách cơ chế quản lý để duy trì hoạt động thường
xuyên và quá trình đô thị hóa ở đô thị.
Hoạt động tài chính có quan hệ với tất cả các hoạt động của đô thị.
Mục tiêu của hoạt động tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng nguồn thu
để chi tiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thích phát triển kinh
tế, dịch vụ, văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sức khỏe, giảm ô
nhiễm môi trường, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chống chi phí
không cần thiết, chống lãng phí
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 6
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Tuy nhiên tài chính đô thị chỉ hoạt động hiệu quả khi quá trình tạo
nguồn thông qua quá trình cấp phát thanh toán và hạch toán kinh tế với bộ
máy và những nhà quản lý xây dựng đô thị giỏi, tác nghiệp quản lý phù hợp,
hệ thống luật lệ và quy chế xây dựng đô thị theo quy hoạch.
c. Vai trò của chính quyền đô thị trong việc quản lý tài chính đô thị ở các
nước trên thế giới và ở Việt Nam.
Các nước trên thế giới: Các nước phát triển thì nền tài chính đô thị giữ
vị trí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Chính quyền đô thị có vai
trò tự chủ trong việc quản lý riêng biệt nền tài chính đó. Tức là chính quyền
thành phố đó ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật của nhà nước thì
họ có quyền đưa ra những quy định riêng của thành phố trong việc tăng
nguồn thu cho ngân sách. Vì thế nền tài chính của họ tạo thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Ngoài ra các đô thị đó có chính sách rất thông thoáng trong việc
tăng nguồn thu từ các khoản thuế. Họ không đề cao tăng nguồn thu từ thuế
mà tăng nguồn thu từ các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, vệ sinh môi
trường, văn hóa, du lịch bằng cách cho tư nhân tham gia. Các nguồn thu đó
mang lại cho phát triển đô thị của họ đang sống. Tạo ấn tượng tốt cho người
dân đô thị và người nước ngoài. Ví dụ như Trung Quốc- Một nước cùng đi
theo con đường XHCN giống Việt Nam. Nhưng họ lại phát triển kinh tế theo
hướng đi riêng của họ, tiếp thu những cái mới, cái tốt của các nước đã phát
triển áp dụng cho sự phát triển của mình. Các đặc khu kinh tế là một ví dụ
điển hình, có nền tài chính rất lớn và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, thu hút lượng
lớn nguồn đầu tư từ nước ngoài Các đặc khu ấy được ví như một nhà nước
riêng biệt.
Ở Việt Nam, tài chính đô thị cũng có vai trò quan trọng trong công
cuộc CNH- HĐH đất nước. Nguồn tài chính này chiếm 60% tổng thu ngân
sách Nhà nước. Tuy nhiên trong hệ thống tài chính quốc gia chưa hình thành
hệ thống tài chính đô thị được quản lý riêng biệt. Tài chính đô thị là bộ phận
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 7
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia. Nền tài chính của các thành phố
rất nhỏ so với nhu cầu của sự phát triển, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng.
Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính đô thị Việt Nam đó là:
• Xác định rõ hệ thống, tầm quan trọng của từng khâu trong hệ
thống, cơ chế hoạt động, những yếu kém trong cơ chế, nguyên
nhân, cách khắc phục.
• Quản lý cái gì? Quản lý nguồn thu, chi như thế nào.
• Quản lý như thế nào? thu đủ, chi đúng, chi có hiệu quả, chống
tham nhũng.
• Ai quản lý? Vấn đề cán bộ?
Đội ngũ cán bộ tài chính làm việc trong các cơ quan tài chính của Việt
Nam được đào tạo tư sơ cấp đến trình độ đại học ở trong nước, nước ngoài
với những chuyên ngành khác nhau: Tài chính, ngân hàng tín dụng, kế toán
Nhìn chung về số lượng tương đối đông đủ nhưng về chất lượng còn thiếu
nhiều cán bộ có kinh nghiệm quản lý theo cơ chế mới nhất là đối với lĩnh
vực tài chính đô thị và nghiệp vụ phát triển đô thị.
Chưa phân biệt được đặc thù của tài chính đô thị trong chế độ tài
chính dẫn đến các quy định trong quản lý tài chính chi phối cản trở quá trình
đô thị hoá. Về hình thức tài chính đô thị có vẻ tập trung cao độ nhưng thực
chất lại bị phân tán chia cắt tách biệt với công việc cụ thể về xây dựng đô thị.
Tài chính đô thị thuộc phạm trù kinh tế nhưng lại được tổ chức quản lý
kiểu hành chính làm mất năng động của các cấp quản lý đô thị, làm chậm tốc
độ đô thị hoá. Cơ chế cấp phát vốn và kinh phí còn mang nặng tính bao cấp.
Qúa coi trọng việc chế độ cấp phát vốn Nhà nước, xem nhẹ khả năng tự hoạt
động và cung cấp các dịch vụ đô thị. Một nguyên tắc cơ bản trong hạch toán
kinh tế là phải thu hồi vốn bỏ ra để hoạt động thì các nhà quản lý lại bỏ qua,
để rồi đến tình trạng thu tiền thuê nhà không đủ sửa chữa, thu tiền nước sinh
hoạt thấp hơn giá thành, cuối cùng là thiếu nước, thiếu nhà, thiếu trường
học
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 8
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Các nguồn tài chính khác để xây dựng đô thị chưa có biện pháp khai
thác triệt để. Nguồn tài chính của các khu vực dân cư, của khu vực nước
ngoài gần như bị thả nổi. Nhiều gia đình có tiền muốn xây nhà nhưng không
được thực hiện được. Quản lý Nhà nước ở đô thị bị chia ra thành nhiều
ngành dọc cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra tài chính. Giữa các
cấp các ngành chưa phối hợp chặt chẽ dẫn đến có những quyết định chồng
chéo nhau.
Ngoài các thành phố Trung ương như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ có những nguồn tài chính tương
đối vững mạnh. Còn các đô thị loại II, III, IV,V thì ngân sách nhỏ, không tự
chủ được nguồn tài chính mà chủ yếu vẫn là các nguồn tài chính từ ngân
sách Trung ương cấp. Là nước XHCN nên chúng ta phát triển kinh tế gắn
liền với công bằng xã hội. Tức là chúng ta phát triển hài hoà các yếu tố với
nhau. Vì vậy nguồn tài chính các đô thị nói chung ở Việt Nam chưa được
quan tâm đúng mức với vai trò của nó. Hy vọng trong một tương lai không
xa các cấp chính quyền nhận thức và thực hiện các chính sách để tăng nguồn
thu của đô thị. Chú trọng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng các nguồn thu.
Như vậy chính quyền đô thị mới thể hiện được vai trò rất quan trọng của
mình.
II. Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính
Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trong
phạm vi nền tài chính quốc gia và trên địa bàn đô thị họ quản lý. Tài chính
của mỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ
máy quản lý đô thị. Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ
sở công việc và điều kiện tài chính bao gồm:
- Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là sự
phân quyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công bằng và chính xác.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 9
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Phân chia nguồn thu: Ai nhận nguồn vốn nào? Phải làm gì khi thu
chi không cân bằng? Là những điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền thực
hiện nhiệm vụ của mình.
Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trợ cung cấp các dịch vụ của Chính
phủ: Tài chính liên cấp. Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là
người cung cấp các dịch vụ trong phạm vi đô thị của mình;
Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thị
duy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sinh môi trường, giao
thông, bệnh viện, cảnh sát, Trong nền kinh tế thị trường, các chính quyền
đô thị chỉ nên giới hạn vào cung cấp các dịch vụ cho dân cư đô thị của mình.
Để sản xuất có hiệu quả các cấp các ngành cần xác định rõ sản xuất cái gì,
cho ai, bao nhiêu và chất lượng thế nào?
Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà các
doanh nghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dục
công, văn hoá xã hội, trật tự an toàn xã hội
III. Quan hệ của các cấp chính quyền qua hệ thống tài chính
a. Sự tồn tại khách quan của các mối quan hệ
Vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền đô thị diễn ra trong
phạm vi nền tài chính quốc gia và trên địa bàn đô thị họ quản lý. Tài chính
của mỗi cấp thể hiện sức mạnh quyền hạn, trách nhiệm của cấp đó trong bộ
máy quản lý đô thị. Những mối quan hệ cơ bản về tài chính nảy sinh trên cơ
sở công việc và điều kiện tài chính bao gồm:
 Phân chia trách nhiệm: Ai làm gì? ai chi khoản gì? thực chất là
sự phân quyền mà các cấp chính quyền luôn đòi hỏi sự công
bằng và chính xác.
 Phân chia nguồn thu: Ai nhận nguồn vốn nào? Phải làm gì khi
thu chi không cân bằng? Là những điều kiện cơ bản để các cấp
chính quyền thực hiện nhiệm vụ của mình.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 10
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
 Bình đẳng trong vay mượn và hỗ trơ cung cấp các dịch vụ của
Chính phủ:Tài chính liên cấp.
Chính quyền đô thị vừa là người điều tiết vừa là người cung cấp các
dịch vụ trong phạm vi đô thị của mình.
Những loại dịch vụ cấp thành phố cung cấp bao gồm: Đường sá đô thị
duy tu bảo dưỡng đường sá, chiếu sáng đô thị, vệ sing môi trường, giao
thông, bệnh viện, cảnh sát, Trong nền kinh tế thị trường, các chính quyền
đô thị chỉ nên giới hạn vào cung cấp các dịch vụ cho dân cư đô thị của mình.
Để sản xuất có hiệu quả các cấp các ngành cần xác định rõ sản xuất cái gì,
cho ai, bao nhiêu và chất lượng thế nào?
Chính quyền đô thị phải cung cấp các dịch vụ có tính xã hội mà các doanh
nghiệp tư nhân không muốn cung cấp như y tế cộng động, giáo dục công,
văn hoá xã hội, trật tự an toàn xã hội
IV. Các nội dung thu của ngân sách đô thị từ trong nước
4.1. Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngân sách đô thị, hay ngân sách của thành phố, thị xã, thị trấn, được
hình thành theo luật ngân sách Nhà nước năm 1998. Cũng giống như ngân
sách các địa phương, ngân sách đô thị hình thành dựa vào nhiệm vụ quản lý
Nhà nước về hành chính kinh tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên chế
độ định mức chi tiêu và chính sách để lại nguồn thu cho các đô thị để thiết
lập và chấp hành ngân sách. Các nguồn thu của ngân sách cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương bao gồm:
• Các khoản thu được giữ lại 100%:
- Tiền thuê chênh lệch giá đất
- Tền thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước
- Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn quận, huyện không
kể lệ phí trước bạ nhà đất
- Thu tiền từ hoạt động sổ xố kiến thiết
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 11
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước
ngoài trực tiếp cho tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật.
- Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu nhập khác nộp
vào ngân sách tỉnh theo quy định của chính phủ
- Các khoản huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của chính
phủ(các loại quỹ phát triển nhà ở)
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh, thành phố
- Thu kết dư ngân sách ngân sách cấp tỉnh, thành phố
- Bổ sung từ ngân sách trung ương (tài trợ của chính phủ)
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
• Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách Trung
ương và ngân sách cấp tỉnh, thành phố:
- Thuế giá trị gia tăng (VAT) không kể VAT của hàng hoá
nhập khẩu
- Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập
doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành
- Thuế thu nhập (đối với người có thu nhập cao)
- Thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài
- Thu sử dụng vốn ngân sách
• Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách quận, phường:
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thực chất là chênh lệch
giá đất
- Thuế nhà đất
- Tiền sử dụng đất
• Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách huyện, xã:
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 12
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp(cho thị trấn, xã tối thiểu là
20%)
- Thuế tài nguyên
- Lệ phí trước bạ nhà đất
- Thuế tiêu thụ đặc biệt (kinh doanh vàng mã; vũ trường,
karaoke, massage )
4.2. Ngân sách cấp thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận
* Các khoản thu này được giữ lại 100%.
- Thu ngoài quốc doanh: Đó là các khoản thu từ thuế và lệ phí đối với
các công ty, doanh nghiệp, các tiểu thương, tiểu chủ không thuộc sở hữu Nhà
nước.
- Thuế môn bài: Không gồm thuế môn bài thu từ các hộ gia đình, các
nhà kinh doanh nhỏ ở thị trấn, xã.
- Thuế sát sinh: Thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn.
- Lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh quản lý.
- Thu kết dư ngân sách cấp thành phố: Đó là những khoản chi còn dư
được tổng kết vào cuối năm.
- Bổ sung từ ngân sách tỉnh: Là những khoản trợ cấp ngân sách tỉnh cho
thành phố, thị xã, huyện, xã.
- Các khoản thu khác theo quy định của nhà nước: Thuế tắc nghẽn giao
thông, thuế ô nhiễm môi trường… cũng là những nguồn thu quan trọng,
đồng thời góp phần khắc phục các vấn đề về giao thông và cải thiện môi
trường.
* Các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách thành phố thuộc tỉnh.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Là chênh lệch giá của đất trong quá
trình chuyển quyền sử dụng. Thuế có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng
đất, nên người sử dụng phải cân nhắc khi chuyển quyền sử dụng đất.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 13
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Thuế đất ở: đất xây dựng các công trình sử dụng vào các mục đích phi
nông nghiệp. Căn cứ để tính thuế là diện tích và khả năng thu nhập của các
công trình. Nếu đất đô thị chỉ để ở thì đất phụ thuộc vào vị trí từng loại phố,
tuỳ loại đô thị, thuế đất ở đô thị cao hơn thuế đất nông nghiệp từ 2 đến 32
lần. Đất ven đô, ven trục giao thông chính có mức thuế cao hơn từ 1,5 đến
2,5 lần thuế đất nông nghiệp vào loại cao nhất trong vùng.
- Tiền thuê đất: Là khoản thu điều tiết vào thu nhập do sử dụng đất
mang lại. Tiền thuê đất phải lớn hơn thuế đất một khoản bằng lợi nhuận của
người có tài sản cho thuê. Các đơn vị không được nhà nước giao đất phải đi
thuê đất để xây dựng nhà xưởng để hoạt động.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (cho thị trấn, xã tối là 20%): Thực hiện
điều tiết đối với đất được sử dụng vào sản xuất nông nhiệp. Căn cứ để tính
thuế là diện tích và chất lượng kinh tế đất. Thuế suất được tính bằng kg
thóc/sào/năm. Thực tế thường quy đổi thành tiền để đơn giản khâu thu nộp.
- Tiền sử dụng đất: Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sủ dụng
ổn định lâu dài, người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước.
- Thuế tài nguyên: Đánh vào các chủ thể sử dụng tài nguyên khoáng sản
hoặc người trực tiếp khai thác.
- Lệ phí trước bạ nhà đất: Là khoản tiền mà người mua đất hoăc mua
nhà phải nộp thay người bán cho chi cục thuế.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt kinh doanh hàng mã, vũ trường, karaoke,
massage….
- Nguồn thu từ hàng hoá công cộng.
Chính quyền địa phương có nhiệm vụ cung cấp một số hàng hoá dịch
vụ, dịnh vụ giao thông, bảo vệ của cảnh sát, phòng cháy chữa cháy, công
viên và thoát nước… Tuy nhiên trong một số các điều kiện nhất định thì việc
cung cấp hàng hoá của chính quyền địa phương đạt hiệu quả cao.
Khoa Kinh tế môi trường & Đô thị 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét