Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
- Kế hoạch Marketing chiến lược phát triển những mục tiêu và chiến lược
Marketing rộng lớn trên cơ sở phân tích tình hình hiện tại của thị trường và cơ
hội.
- Kế hoạch Marketing chiến thuật vạch ra các chiến thật Marketing cụ thể
cho một thời kỳ bao gồm quảng cáo, đẩy mạnh kinh doanh, định giá, kênh, dịch
vụ.
Xây dựng hệ thống Marketing-Mix:
Marketing là một nội dung chủ chốt trong quá trình quản trị Marketing, đó
là tập hợp các công cụ mà công ty sử dụng để theo đuổi mục tiêu của mình trên
thị trường đã chọn. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng hoá, các công cụ
Marketing được xem xét bao gồm 4P:
- Giá cả: gồm chính sách và thông lệ áp dụng cho giảm giá, trợ cấp, các
thời hạn thanh toán và thời hạn tín dụng.
- Sản phẩm: Gồm các thuộc tính của hàng hoá hay dịch vụ cung cấp cho
người mua kể cả chuỗi sản phẩm và chất lượng của chúng, tên nhãn hiệu, …
- Địa điểm: Gồm nơi mà các sản phẩm của hãng được chào bán cho đến tận
tay khách hàng tiềm năng và các kênh phân phối.
- Khuyếch trương: Gồm quảng cáo, bán hàng và thúc đẩy bán hàng, dịch vụ
sau bán hàng…
3. Phân loại chiến lược Marketing.
Việc ra quyết định chiến lược phụ thuộc vào kết quả phân tích và các yếu
tố môi trường, bên cạnh đó thì khả năng tư duy chiến lược và nghệ thuật quản trị
của người ra quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướng đúng đắn từ
chiến lược đã chọn. Trên thực tế, có thể phân loại các chiến lược Marketing theo
các nhóm sau:
- Theo đoạn thị trường:
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 4
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Chiến lược Marketing không phân biệt giữa các đoạn thị trường là việc
tối thiểu hoá nhưng khác biệt trong chính sách áp dụng giữa các đoạn thị trường
nhăm tận dụng lợi thế theo quy mô trên thị trường khá đồng nhất.
+ Chiến lược Marketing phân biệt triển khai các chính sách Marketing-Mix
khác nhau trên các đoạn thị trường khác nhau khi lựa chọn khai thác nhiều đoạn
thị trường.
+ Chiến lược Marketing tập trung là tập trung toàn bộ nỗ lực trên toàn bộ
thị trườngduy nhất đã lựa chọn.
- Theo chu kỳ sống sản phẩm
+Trong giai đoạn mới tung sản phẩm ra thị trường (giai đoạn giới thiệu sản
phẩm) có thể áp dụng chiến lược: Hớt váng sữa nhanh, hớt váng sữa từ từ, thâm
nhập ồ ạt, thâm nhập từ từ.
+ Trong giai đoạn tăng trưởng có thể áp dụng các chiến lược: Cải tiến chất
lượng sản phẩm, mẫu mã, đặc tính sản phẩm, tấn công đoạn thị trường mới…
+ Trong giai đoạn bão hoà có thể áp dụng chiến lược: Mở rộng thị trường
để tăng khối lượng bán, thay đổi một vài chính sách Marketing-Mix…
+ Trong giai đoạn suy thoái dựa trên kết quả phân tích nguyên nhân dẫn
đến suy thoái có thể lựa chọn chiến lược thích hợp nhất trong các chiến lược
sau: Duy trì mức đầu tư hiện tại khi chưa rõ tình hình thị trường, giảm đầu tư
một cách chọn lọc và rút khỏi các đoạn thị trường không hiệu quả…
- Theo vị thế cạnh tranh:
+ Nếu là người dẫn đầu trong cạnh tranh có thể áp dụng chiến lược: Mở
rộng toàn bộ thị trường, mở rộng thị trường
+ Nếu có sức mạnh trong cạnh tranh nhưng chưa dẫn đầu thị trường có thể
áp dụng những định hướng sau: thực hiện theo sau doanh nghiệp thủ lĩnh thị
trường, chủ động tấn công…
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 5
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Nếu doanh nghiệp yếu trong cạnh tranh có thể áp dụng chiến lược sau:
theo sau các đối thủ mạnh, khai thác khoảng trống thị trường…
Tóm lại, để vận dụng các chiến lược trên, cần dựa trên sự phân tích môi
trường kinh doanh thật khách quan. Chiến lược được lựa chọn cần phải được cụ
thể hoá thành các kế hoạch và chương trình hành động.
4. Hệ thống Marketing – Mix và ảnh hưởng của hệ thống Marketing –
Mix đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
4.1. Chính sách sản phẩm và ảnh hưởng của chính sách sản phẩm đến
hoạt động của Công ty.
4.1.1. Chính sách sản phẩm
Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử
dụng hoặc tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mong muốn hoặc nhu cầu.
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của Marketing – Mix.
Chiến lược sản phẩm đòi hỏi phải đưa ra những quyết định hài hoà về danh mục
sản phẩm, chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu,…
4.1.2. Phạm vi ảnh hưởng của chính sách sản phẩm đến kết quả hoạt động
của Công ty.
- Chính sách đưa một sản phẩm mới vào thị trường hoặc loại bỏ một sản
phẩm cũ ra khỏi thị trường gắn với chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Giai đoạn thâm nhập thị trường với các đặc trưng nổi bật là sản phẩm
mới thâm nhập, chi phí kinh doanh và giá thành cao. Vì vậy phải xây dựng chính
sách tổng thể và đặc biệt là chính sách Marketing nhằm kích thích cầu.
+ Giai đoạn tăng trưởng có đặc trưng là doanh thu và lợi nhuận lớn và xuất
hiện cạnh tranh và cường độ cạnh tranh tăng dần. Thích hợp với giai đoạn này là
chính sách cải tiến và khác biệt hoá sản phẩm, triển khai tìm kiếm thị trường
mới cũng như tập trung vào quảng cáo mở rộng.
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 6
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Giai đoạn chín muồi thì sản phẩm đã trở nên quen thuộc trên thị trường,
sản lượng ổn định, xuất hiện nhiêu đối thủ cạnh tranh, cường độ cạnh tranh gay
gắt với tính chất cạnh tranh phức tạp. Vì vậy, cần phải chú ý tới những yêu cầu
mới của khách hàng.
+ Giai đoạn bão hoà và tàn lụi thể hiên sản lượng tiêu thụ đã băt đầu chững
lại và giảm, cạnh tranh quyết liệt hơn. Các nhà hoạch định cần có chính sách tìm
thời điểm chấm dứt sản phẩm trên thị trường, giải quyết tốt các dịch vụ sửa
chữa, thay thế sau khi loại bỏ sản phẩm mới ra thị trường.
Thông qua đó để giảm rủi ro chủa việc đưa sản phẩm và thị trường và loại
bỏ sản phẩm yếu kém.
- Chính sách hình thành sản phẩm mới và khác biệt hoá sản phẩm( chính
sách phát triển sản phẩm)
+ Chính sách phát triển sản phẩm đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với các bộ
phận có liên quan như kỹ thuật, sản xuất, Marketing
+ Sự khác biệt sản phẩm và hình thức của nó có mối quan hệ ngược trở lại
với kiểu chiên lược mà doanh nghiệp đang cố gắng theo đuổi.
- Chính sách bao gói: là nguyên tắc, phương pháp và giải pháp nhăm lựa
chọn vật liệu , tạo mẫu
4.2. Chính sách giá
4.2.1. Một số yếu tố làm căn cứ cho việc định giá.
- Sự tác động của nhu cầu: Các công ty cung ứng sản phẩm đều hiểu rõ nhu
cầu là luôn biến động( ví dụ: vào mùa đông thì nhu cầu về tủ lạnh là yếu, nhu
cầu ở nông thôn khác thành thị). Những yếu tố ảnh hưởng tới độ co giãn cầu:
+ Giá trị độc đáo: người mua ít nhậy cảm với giá hơn khi sản phẩm càng
độc đáo.
+ Mức độ biết đến sản phẩm thay thế: người mua ít nhậy cảm với giá hơn
khi họ ít biết đến sản phẩm thay thế.
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 7
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Sự khó so sánh: người mua ít nhậy cảm với giá hơn khi họ không dễ dàng
so sánh chất lượng của sản phẩm thây thế.
+ Chất lượng: người mua ít nhậy cảm với giá hơn khi sản phẩm được xem
có chất lượng tốt hơn, sang trọng hơn.
- Sự tác động của chi phí: nhu cầu là yếu tố chủ yếu xác định giá trần của
giá mà công ty có thể tính cho sản phẩm của mình, còn giá thành thì quyế định
giá sàn.
- Sự tác động của cạnh tranh: Công ty phải so sánh giá thành của mình với
giá của các đối thủ cạnh tranh để biết mình đang ở thế có lợi hay bất lợi về chi
phí. Phải biết giá cả của các đối thủ cạnh tranh và mua thiết bị của các đối thủ
cạnh tranh để nghiên cứu.
4.2.2. Các phương pháp định giá:
- Định giá bằng chi phí cộng thêm: bằng các cộng thêm lợi nhuận vào chi
phí sản xuất.
- Định giá thông qua phân tích hoà vốn: Công ty phải định giá sao cho tổng
doanh thu bằng tổng chi phí.
- Định giá theo giá trị nhận thức của người mua: dựa trên nhận thức của
người mua về giá trị chứ không phải chi phí của người bán.
- Định giá theo giá trị: Công ty định giá sản phẩm ở mức người mua nghĩ
rằng sản phẩm của công ty xứng đáng như vậy và nó luôn chủ trương là giá phải
đẩm bảo hời cho người tiêu dùng.
- Định giá dựa vào cạnh tranh: căn cứ vào giá của đối thủ cạnh tranh để
định giá bằng hoặc gần đối thủ. Phương pháp này hay được dùng trong điều kiên
một công ty gia nhập thị trường độc quyền bán.
- Định giá đấu thầu: Công trên cơ sở phán đoán khả năng đối thủ cạnh
tranh để định giá thấp hơn. Phương pháp này được sử dụng trong bán hàng
chuyên nghiệp.
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 8
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
4.2.3. Chính sách giá cả với sản phẩm mới, thị trường mới.
Sản phẩm mới là sản phẩm xuất hiện đầu tiên trên thị trường nào đó. Đối
với sản phẩm mới, chính sách giá cả thăm dò thường dựa trên cơ sở giá thành và
lợi nhuận ước tính.
Nếu doanh nghiệp cung cấp sản phẩm không đồng nhất thì khi tính chất
đồng nhất càng cao, tính chất cạnh tranh càng mạnh. Doanh nghiệp cần kết hợp
với các chính sách khác như chính sách bao gói, nhãn hiệu hàng hoá, quảng cáo,
chính sách giá cả đối với khách hàng quen truyền thống…
4.2.4. Chính sách định giá phân biệt
Các công ty thường hay đổi giá cơ bản của mình cho phù hợp với những
điểm khác biệt của khách hàng, sản phẩm, địa phương và những vấn đề
khác.Việc xác định phân biệt xẩy ra khi một công ty bán một sản phẩm hoặc
dịch vụ với hai hay nhiều giá không phản ánh chênh lệch về chi phí theo tỷ lệ.
Việc phân biệt giá có một số hình thức:
- Phân biệt giá cấp 1(phân biệt giá hoàn hảo):Công ty đặt cho mỗi người
mua một sản phẩm một mức giá khác nhau.
- Phân biệt giá cấp 2: Công ty đặt giá khác nhau cho lượng bán khác nhau
- Phân biệt giá cấp 3: Thị trường tổng thể được chia thành một số thị trường
nhỏ, mỗi thị trường chứa một số người mua, những người này sẽ cùng bị đặt
một giá.
Để phân biệt giá thành công cần có một số điều kiện:
+ Thị trường có thể phân khúc được và khúc thị trường đó phải có nhu cầu
với cường độ co giãn khác nhau.
+ Các đối thủ cạnh tranh không có khả năng bán rẻ hơn ở khúc thị trường
giá cao hơn.
+ Phân biệt giá không gây sự bất bình và khó chịu trong khách hàng.
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 9
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Chi phí cho việc phân khúc, theo dõi, giám sát thị trường không vượt quá
số tiền thu thêm được do phân biệt giá.
4.3. Chính sách phân phối.
4.3.1. Các loại kênh phân phối.
Kênh Marketing có thể được xem như những tập hợp các tổ chức phụ thuộc
lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có để sử
dụng hoặc tiêu dùng.
- Kênh không cấp( kênh trực tiếp): gồm người bán hàng trực tiếp cho khách
hàng cuối cùng như: bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, bán hàng qua cửa
hàng giới thiệu sản phẩm…
- Kênh một cấp có một người trung gian như một người bán lẻ
- Kênh hai cấp có hai người trung gian: đại lý hoặc người bán buôn và
người bán lẻ.
4.3.2. Những quyết định trong phân phối:
- Quyết định về việc thiết kế và lựa chọn kênh: bao gồm các quyết định về
số cấp trong kênh, số lượng các tổ chức trung gian ở mỗi cấp, lựa chọn các tổ
chức trung gian. Việc thết lập lên những cơ chế giám sát, kiểm soát và thúc đẩy
mỗi bộ phận trong toàn bộ dây truyền cũng rất quan trọng. Việc thiết kế
Marketing chịu ảnh hưởng một số yếu tố:
+ Đặc điểm của khách hàng: khách hàng phân tán mà thường xuyên mua số
lượng nhỏ thì sử dụng kênh nhiều cấp và ngược lại khách hàng mua số lường
lớn và tập trung thì dùng kênh ít cấp.
+ Đặc điểm của sản phẩm: nếu sản phẩm không thể dự chữ lâu hoặc dễ
hỏng, dễ vỡ thì dùng kênh ít cấp.
4.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn phần tử cấu thành chủ yếu cua
Marketing-Mix. Những ngưòi làm Marketing phải biết cách sử dụng quảng cáo,
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 10
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
kích thích tiêu thụ, Marketing trực tiếp, quan hệ quần chúng và bán hàng trực
tiếp để thông báo đến khách hàng mục tiêu tồn tại và giá trị của sản phẩm.
4.4.1. Quảng cáo
- Quảng cáo là hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm (dịch vụ) của doanh
nghiệp cho khách hàng, làm cho khách hàng chú ý đến, quen biết, có thiện cảm
và ngày càng có nhiều thiện cảm hơn đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Như
vậy, mục đích của quảng cáo là thu hút, lôi cuốn khách hàng bằng các biện pháp
giới thiệu, truyền tin thích hợp. Chính sách quảng cáo của một thời kỳ kinh
doanh chiến lược gắn với chu kỳ sống của sản phẩm, thực trạng và dự báo thị
trường, vị trí của doanh nghiệp, mục tiêu cụ thể của quảng cáo…
- Đối tượng của quảng cáo có thể là doanh nghiệp, có thể là sản phẩm của
doanh nghiệp. Cả hai đối tượng trên đều cần được quảng cáo và có sự tác động
hỗ chợ lãn nhau, trong đó, thông thường quảng cáo thì doanh nghiệp tiến hành
thường xuyên, tác động lâu dài đến khách hàng, quảng cáo sản phẩm gắn với
thời kì trước và trong khi đang sản xuất và cung cấp mọt loại sản phẩm nào đó.
- Ngân sách quảng cáo phải dược xác định theo phương pháp thích hợp:
+ Theo tỷ lệ cố định trên doanh thu của kỳ đã qua.
+ Theo tỷ lệ không cố định cố định, thậm chí có thể tăng tỷ lệ dành cho
ngân sách quảng cáo trong trường hợp doanh thu giảm.
+ Theo mục tiêu quảng cáo thông qua việc xác định mục tiêu quảng cáo và
thực hiện mục tiêu quảng cáo.
- Các phương tiện quảng cáo hiện nay rất phong phú, đa dạng, nên phải
xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm mà lựa chọn và kết hợp các phương tiện
khác nhau như báo chí, phát thanh, truyền hình, hội chợ, triển lãm…Tuỳ thuộc
từng loại phương tiện quảng cáo đặt ra vấn đề lựa chọn thời điểm và địa điểm
quảng cáo thích hợp.
- Các yêu cầu quan trọng nhất đặt ra cho quảng cáo là:
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 11
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
+ Dung lượng quảng cáo phải cao: thì thông tin quảng cáo phải ngắn gọn,
cụ thể, rõ ràng
+ Tính nghệ thuật phải cao nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng.
Muốn vậy, các thông tin cần truyền đạt hấp dẫn, gây được sự chú ý của khách
hàng.
+ Thông tin phải đảo bảo độ tin cậy cao sẽ làm tăng tính hiệu quả của
quảng cáo.
- Đánh giá hoạt động quảng cáo thông qua việc xác định kết quả mà hoạt
động quảng cáo mang lại. Mặt khác, tiến hành hoạt động quảng cáo phát sinh
chi phí rất lớn nên xác định chi phí knh doanh cho hoạt động quảng cáo cũng là
một vấn đề quan trọng cần phải chú ý tới.
4.4.2. Các hoạt động xúc tiến bán hàng
- Các chính sách thúc đẩy bán hàng
+ Thúc đẩy tiêu dùng: mẫu thử sản phẩm được nhân viên bán hàng, các trò
vui chơi có thưởng, quà tặng…
+ Thúc đẩy bán hàng: trình bày hàng hoá, giá đỡ, panô, áp phích, ánh sáng,
âm thanh,…
+ Thúc đẩy dịch vụ: tăng cường dịch vụ bán hàng, dịch vụ sau bán hàng,
các dịch vụ kèm theo…
- Trang bị nơi bán hàng
Phải đảm bảo đủ diện tích, thoáng mát và đủ độ sáng, phù hợp với hình
thức tổ chức bán hàng. Trang thiết bị tạo dáng bên ngoài phải tạo được dáng vẻ
riêng của doanh nghiệp, trang thiết bị bên trong của hàng phải tạo cho khách
hàng cảm giác thoải mái, dễ chịu, có tác dụng kích thích tò mò…
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 12
Chuyªn ®Ò thùc tËp Hoμng Anh
TuÊn
- Tổ chức bán hàng
Thái độ phục vụ khách hàng là nhân tố đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối
với việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả công tác bán hàng. Các nhân viên phục
vụ không chạy theo doanh thu trước mắt mà phải tận tuỵ phục vụ khách hàng,
sẵn sàng cung cấp cho họ mội thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp, cũng
như thu thập lại mọi thông tin để phản hồi lại cho bộ phận thiết kế và sản xuất
sản phẩm.
Một số nguyên tắc trình bày, xắp xếp hàng hoá trong cửa hàng:
+ Nguyên tắc tiện lợi: Hàng hoá phải được trình bày dễ nhìn, dễ thấy, dễ
tiếp xúc.
+ Nguyên tắc ưu tiên: Những hàng hoá được ưu tiên phải được trình bày ở
những chỗ tiện lợi nhất. Trong điều kiện bình thường hàng hoá được ưu tiên là
hàng hoá đem lại doanh thu cao, hàng hoá đang mốt.
+ Nguyên tắc đảm bảo hàng: Hàng hoá cần được thay đổi vị trí thường
xuyên giữa các ngày khác nhau thậm chí giữa các thời điểm khác nhau. Sở dĩ
như vậy là vì mỗi nhóm khách hàng có cầu hàng hoá khác nhau và nhóm khách
hàng theo lứa tuổi…
+ Nguyên tắc hợp lý: Trong cửa hàng phải bố trí đường vận động của
khách hàng hợp lý, đảm bảo sự di chuyển thuận lợi và mọi khách hàng đều có
thể đi khắp cửa hàng và ngắm nhìn được mọi loại hàng hoá bày bán.
Trong hàng loạt các chính sách trên, cần phải chỉ rõ ra được giải pháp xúc
tiến nào làchủ đạo và phải phù hợp với chiến lược Marketing chung của doanh
nghiệp.
4.4.3. Vai trò của dịch vụ khách hàng
- Thực chất của dịch vụ khách hàng là hướng các hoạt động của doanh
nghiệp dịch vụ vào khách hàng, đó là quá trình phân tích, tìm hiểu và giải quyết
mối quan hệ giữa tổ chức dịch vụ và khách hàng mục tiêu. Khách hàng ngày
ViÖn ®h më hμ néi k9 qt2 13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét