- Công nghiệp - thủ công ngoài quốc doanh gồm các doanh nghiệp thuộc
quyền sở hữu của gia đình, cá nhân và các tổ chức kinh tế khác. Doanh nghiệp
ngoài quốc doanh không đợc nhà nớc đầu t nhng đợc khuyến khích tự đầu t lấy, đ-
ợc ngân hàng cho vay vốn, đợc phép tham gia liên doanh trong nớc và nớc ngoài
để thu hút vốn. Các loại doanh nghiệp này có thể cũng đợc nhà nớc trợ giúp vốn
khi tiến hành sản xuất kinh doanh những mặt hàng nằm trong mục tiêu chiến lợc
của nhà nớc. Mọi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đều thuộc quyền quyết
định của cá nhân, t nhân. nhà nớc không có quyền can thiệp sâu vào nội bộ của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thuộc loại kinh doanh này vì mục tiêu lợi nhuận
là chính.
- Công nghiệp - thủ công quốc doanh gồm các doanh nghiệp mà Nhà nớc là
chủ đầu t, là chủ của tài sản do đó nhà nớc có quyền quyết định phơng hớng kinh
doanh, quyết định biên chế, quyết định việc thành lập, tồn tại và giải thể doanh
nghiệp. Ban giám đốc và các thành viên trong doanh nghiệp là những ngời thay
mặt cho Nhà nớc có quyền sử dụng các tài sản của doanh nghiệp để tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh với mục tiêu sinh lợi nhuận và thực hiện những nhiệm
vụ nhà nớc giao cho trên cơ sở đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
1.1.2. Tầm quan trọng của công nghiệp - thủ công quốc doanh đối với
nền kinh tế.
Thể hiện trên các mặt sau :
Sản xuất ra hàng hoá dịch vụ công nghiệp - thủ công phục vụ cho toàn xã
hội. Đây là lĩnh vực sinh lời thấp nhất, nhng rất cần thiết đối với các thành phần
kinh tế khác.
- Hoạt động sản xuất những dụng cụ, phơng tiện phục vụ cho an ninh quốc
phòng của đất nớc. Đợc Nhà nớc đầu t vốn và những hoạt động này, phục vụ cho
mục tiêu của nhà nớc là chính.
- Hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - thủ công mũi nhọn nh ngành công
nghiệp - thủ công có công nghệ kỹ thuật hiện đaị, ngành khai thác thế mạnh về tài
nguyên của đất nớc. Có khả năng đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nớc, và các
công nghiệp - thủ công chủ yếu nh: công nghiệp - thủ công chế biến lơng thực,
công nghiệp - thủ công năng lợng, những ngành này giúp Nhà nớc ổn định đợc
nền kinh tế, tránh đợc những biến động lớn.
5
- Các hoạt động còn lại cảu công nghiệp - thủ công quốc doanh kinh doanh
vì mục tiêu lợi nhuận là chính và có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các thành phần
kinh tế. Vì vậy có thể nói rằng công nghiệp - thủ công quốc doanh ở nớc
CHDCND Lào hiện nay bao gồm tất cả các doanh nghiệp công nghiệp - thủ công
quốc doanh trong phạm vi cả nớc, gồm các loại hình: doanh nghiệp công nghiệp
Nhà nớc thuần tuý và doanh nghiệp mang tính chất Nhà nớc hoạt động trên tất cả
các lĩnh vực công nghiệp - thủ công khác nhau.
Công nghiệp quốc doanh của Lào thực sự đợc bắt đầu xây dựng từ những
năm 1975 - 1980 trên cơ sở một nền công nghiệp yếu kém và lạc hiệu do chế độ
cũ để lại. Trong những năm đầu xây dựng đất nớc, Nhà nớc đã đầu t một khối lợng
tiền rất lớn vào công nghiệp quốc doanh, khiến cho nó nhanh chóng phát triển
chiếm lĩnh toàn bộ ngành công nghiệp. Do vậy, trong giai đoạn này công nghiệp
quốc doanh đã chiếm một tỷ trọng rất lớn trong ngành công nghiệp về giá trị sản l-
ợng, vốn, sử dụng lao động, tài nguyên Sau Đại hội VI của Đảng, các thành phần
kinh tế khác đợc phép tự do hoạt động trở lại, công nghiệp quốc doanh không
chiếm tỷ trọng lớn nh trớc nữa. Nội bộ công nghiệp quốc doanh đã có rất nhiều
thay đổi trong những năm trở lại đây.
1.2. Đặc điểm của công nghiệp - thủ công ở chdcnd
lào
Trong giai đoạn hiện nay công nghiệp quốc doanh ở CHDCND Lào có
các đặc trng chủ yếu sau đây:
- Xét về ngời đứng ra thành lập và chủ sở hữu phần vốn đầu t có ban đầu thì
công nghiệp quốc doanh gồm các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế quốc
doanh, trên cơ sở đó các cấp chính quyền nhà nớc từ cơ sở tới trung ơng là chủ sở
hữu và đang có quyền quản lý đối với hoạt động của các doanh nghiệp này.
- Các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh phân bố rộng khắp, rải rác
trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động sản xuất công nghiệp.
- Trong lĩnh vực công nghiệp các doanh nghiệp quốc doanh đang nắm giữ
phần quyết định lực lợng sản xuất xã hội. Nó khai thác phần quan trọng nhất tài
nguyên quốc gia và chiếm hữu các t liệu sản xuất cơ bản, cơ cấu kinh tế hạ tầng
trong nền kinh tế. Cụ thể các doanh nghiệp này đã quản lý và sử dụng 2/3 tổng số
6
tài sản xã hội, thu hút trên 90% tổng số lao động có trình độ kỹ thuật tay nghề cao
trong ngành.
- Các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh cũng sử dụng đại bộ phận
nguồn vốn đang hoạt động vào sản xuất và nó cũng là nguồn cung cấp 70 - 80%
nguồn thu công nghiệp cho ngân sách quốc gia.
Tuy nhiên ngoài những đặc trng trên, công nghiệp quốc doanh còn có nhiều
nhợc điểm nh:
- Công nghiệp quốc doanh bố trí còn thiếu tập trung, thiếu mũi nhọn nên
cha thực sự chi phối đợc thị trờng và nền kinh tế.
- Quy mô các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh đại bộ phận là nhỏ.
Trình độ trang bị kỹ thuật, máy móc thiết bị cũ kỹ, công nghệ kinh doanh, sản
xuất lạc hiệu xa so với thế giới, ít có khả năng cạnh tranh trên thị trờng nhất là với
hàng hoá nhập ngoại.
- Phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh thiếu vốn, làm ăn
không có lãi, khó khăn trong việc duy trì sản xuất kinh doanh.
- D thừa lao động, thiếu việc làm nghiêm trọng, ngoài một số doanh nghiệp
thích nghi đợc với cơ chế mới có tới 2/3 doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, một
bộ phận khác cha tìm đợc hớng đi thích hợp.
- Xét về chất lợng hoạt động đợc đo bằng các tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế,
nhất là hiệu quả của đồng vốn sử dụng hoặc năng suất lao động thì nhìn chung
công nghiệp quốc doanh còn thấp so với các thành phần kinh tế khác không phải
là sở hữu nhà nớc. Đây là nhợc điểm lớn nhất có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế
nớc ta.
- Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu lực. Trình độ của
cán bộ quản lý đại bộ phận còn thấp, cha có kiến thức đầy đủ về kinh tế thị trờng,
lúng túng trong xử lý, thiếu năng động trong hoạt động và quản lý một nền kinh tế
thị trờng.
1.3. Vai trò của công nghiệp - thủ công và tình hình
phát triển của nó ở CHDCND Lào.
7
Nền kinh tế của bất kỳ nớc nào cũng bao gồm nhiều ngành kinh tế: công
nghiệp - thủ công, nông nghiệp, giao thông vận tải, thơng mại, xây dựng Mỗi
ngành đều có một vị trí và vai trò nhất định trong đó ở nớc CHDCND Lào những
năm trớc kinh tế còn kém phát triển, sản xuất nhỏ và vừa là chủ yếu, lao động thủ
công là chủ yếu và phổ biến nhất.
Nhiều thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất ở nhiều ngành kinh tế khác
nhau với những vai trò và các chức năng nhất định. Vì vậy công nghiệp - thủ công
ngoài quốc doanh và công nghiệp - thủ công quốc doanh đều có vai trò rất quan
trọng đợc thể hiện ở các mặt sau đây:
a. - Công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp quốc doanh có vai trò
cực kỳ quan trọng, to lớn trong ngành công nghiệp - thủ công nói riêng và toàn bộ
nền kinh tế quốc dân nói chung. Nó tạo ra nhiều sản phẩm xã hội trớc mắt là tạo ra
các công cụ để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; khai thác, chế biến đợc nhiều
nông lâm sản, thực phẩm; sản xuất đợc một khối lợng lớn hàng tiêu dùng đáp ứng
phần lớn các nhu cầu của xã hội, đặc biệt là mặt hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo,
kỹ thuật cao đã đợc đa đi xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể.
- Sản xuất công nghiệp - thủ công ngoài quốc doanh có khả năng tạo ra
nhiều mặt hàng từ đơn giản đến phức tạp phục vụ cho tiêu dùng của nhân dân và
xuất khẩu, góp phần thực hiện các chơng trình kinh tế lớn của Đảng và Nhà nớc.
- Cơ sở vật chất trong công nghiệp - thủ công quốc doanh còn nghèo nàn,
lạc hiệu, sản xuất cha đủ mạnh. Do đó công nghiệp ngoài quốc doanh có thể đáp
ứng kịp thời nhiều nhu cầu tại chỗ về sản xuất và đời sống mà công nghiệp quốc
doanh không thể bao quát hết.
b. Vai trò của công nghiệp - thủ công quốc doanh.
+ Công nghiệp - thủ công ngoài quốc doanh có vai trò chủ đạo và nâng cao
trình độ kỹ thuật sản xuất cả ngành vì:
Sự phát triển kỹ thuật sản xuất của các ngành phụ thuộc vào khả năng của
ngành công nghiệp trong việc cung cấp trang thiết bị kỹ thuật, nên sự phát triển kỹ
thuật, sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh không thể vợt quá khả năng
cung ứng các phơng tiện kỹ thuật của công nghiệp.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh còn trực tiếp hớng dẫn nhu cầu trang bị
kỹ thuật cho các ngành. Thực chất sự hớng dẫn này là xuất phát từ lợi ích, hiệu
8
quả của công nghiệp - thủ công thông qua giá cả vật t, kỹ thuật cung ứng cho các
ngành kinh tế quốc dân mà hớng dẫn việc sử dụng các phơng tiện kỹ thuật của các
ngành này. Do việc cung ứng theo chiều hớng tích cực của công nghiệp quốc
doanh đã đa lại việc đổi mới đúng hớng trình độ kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế,
không để cho vai trò chủ đạo của công nghiệp - thủ công quốc doanh phát huy một
cách tiêu cực, vì lợi ích cục bộ mà kìm hãm sự phát triển kỹ thuật của các ngành
phụ thuộc mình.
Công nghiệp - thủ công là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế
hàng hoá. Mở rộng thị trờng, thay đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ công nghiệp -
thủ công cũng nh trong cả nớc. Công nghiệp - thủ công quốc doanh phát triển sẽ
thúc đẩy công nghiệp - thủ công phát triển đồng thời mở ra một thị trờng, một bộ
phận chủ lực của nền sản xuất hàng hoá, nó cũng tạo ra sự thay đổi cơ cấu trong
công nghiệp và cả nền kinh tế.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh với vai trò tiên phong của mình kéo
theo sự phát triển của công nghiệp đã tác động vào quá trình thị trờng hoá các
ngành và các vùng sản xuất - xã hội của đất nớc.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh cùng với công nghiệp thủ công ngoài
quốc doanh góp phần đảm bảo kỹ thuật và nâng cao hiệu quả của việc xuất khẩu
các loại hàng hoá của tất cả các ngành ra ngoài phạm vi quốc gia nhằm mở rộng
thị trờng.
+ Công nghiệp - thủ công quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp cũng nh toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp - thủ công quốc doanh còn là nhân tố chủ yếu góp phần giải quyết
nhiều nhiệm vụ cơ bản có tính chất mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội đó
là:
- Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho ngời lao động.
- Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội.
- Góp phần xoá bỏ sự đối lập, khác biệt giữa thành thị và nông thôn bằng
việc tạo ra các đô thị mới hay thâm nhập vào các vùng nông, lâm, ng nghiệp để
làm thay đổi dần bộ mặt nông thôn.
- Cung cấp các sản phẩm hàng hoá đa dạng với chất lợng cao phục vụ đời
sống nhân dân và xuất khẩu.
9
- Thông qua sự phát triển của mình về quy mô và phân bố hợp lý lực lợng
sản xuất. công nghiệp - thủ công quốc doanh sẽ góp phần làm cho dân c đợc phân
bố đồng đều và hợp lý giữa các miền của toàn quốc.
+ Công nghiệp - thủ công quốc doanh là bộ phận tồn tại khách quan, nó thể
hiện sự tham gia hoạt động kinh tế của Nhà nớc bình đẳng với các thành phần kinh
tế khác, đồng thời do vai trò to lớn của công nghiệp - thủ công quốc doanh Nhà n-
ớc có thể có những chính sách điều tiết công nghiệp - thủ công quốc doanh để phát
huy ảnh hởng tới ngành công nghiệp - thủ công cũng nh toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
+ Công nghiệp - thủ công quốc doanh thờng xuyên tác động vào quá trình
phát triển của các ngành trong nội bộ công nghiệp - thủ công cũng nh cả nền kinh
tế với t cách là hình mẫu về sử dụng t liệu sản xuất tiên tiến hiện đại, về phơng
pháp quản lý mới và ý thức tổ chức lao động. Trớc hết, công nghiệp - thủ công
quốc doanh với u thế hơn hẳn của mình so với các thành phần kinh tế khác về vốn,
trang thiết bị kỹ thuật, lao động, sự hỗ trợ của Nhà nớc, tham gia vào bất cứ lĩnh
vực kinh doanh nào, từ những lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn lớn tới
vùng có công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại hay là vùng khó khăn khác mà nhất thời
các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cha tham gia vào. Vì vậy có thể nói rằng
công nghiệp - thủ công quốc doanh có vai trò dẫn đờng không chỉ đối với nội bộ
ngành công nghiệp mà còn đối với tất cả các ngành của nền kinh tế quốc doanh.
+ Công nghiệp - thủ công quốc doanh có nhiệm vụ nắm vững ngành công
nghiệp - thủ công then chốt sản xuất ra những sản phẩm có chất lợng cao nhằm
đảm bảo cho nhu cầu xã hội.
10
1.4. Thực trạng phát triển công nghiệp - thủ công ở
CHDCND Lào giai đoạn 1985 - 1989.
Từ sau khi hoà bình lập lại đến năm 1986, đây là thời kỳ công nghiệp - thủ
công quốc doanh Nhà nớc đợc coi trọng nhất. Đảng và Nhà nớc Lào thực hiện xây
dựng nền công nghiệp vững mạnh gắn liền với từng bớc phát triển nền kinh tế
quốc dân. Cùng với điều kiện đó thì công nghiệp - thủ công có mức phát triển.
Ngoài ra các ngành kinh tế khác cũng phát triển đồng đều. Đến năm 1989 đất nớc
Lào bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trờng, kinh tế nhiều thành phần, cải tổ về mọi
mặt, các thành phần kinh tế đợc tự do hoạt động theo đờng lối chính sách của
Đảng và Nhà nớc đề ra. Tuy nhiên Đảng và Nhà nớc cũng xác định rằng công
nghiệp - thủ công quốc doanh là một bộ phận quan trọng chủ đạo trong chiến lợc
phát triển nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên Lào chuyển sang cơ chế thị trờng nhiều
thành phần kinh tế trong bối cảnh các đơn vị sản xuất ở Lào phải chịu ảnh hởng rất
nặng nề của thời kỳ bao cấp, nền kinh tế của Lào đang ở tình trạng bị suy thoái.
Các khoản bao cấp nh ngày xa bị cắt hẳn. Tuy nhiên Đảng và Nhà nớc phải bao
cấp cho công nghiệp - thủ công quốc doanh , cấp vật t, vật liệu, cung cấp vốn cho
công nghiệp. Công nghiệp - thủ công ngày càng giảm về số lợng các cơ sở và về
chất lợng hoạt động.
Tuy nhiên Đảng cách mạng Lào vẫn xác định công nghiệp quốc doanh là bộ
phận kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong chiến lợc phát triển kinh tế lâu dài của đất
nớc.
Nhng trong những năm đầu đổi mới, một số cơ sở công nghiệp quốc doanh
đã không thích nghi đợc với cơ chế thị trờng, hoạt động kinh doanh thua lỗ, dẫn
tới giải thể, chỉ có một số ít hoạt động có hiệu quả, làm cho nhiều ngời nghi ngờ
về vai trò chủ đạo của công nghiệp quốc doanh. Để khắc phục tình trạng này đồng
thời giúp công nghiệp quốc doanh hoàn thành tốt vai trò của nó trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Hội nghị đại biểu toàn quốc đã thống nhất
quan điểm của Đảng đối với công nghiệp quốc doanh trong những năm tới nh sau:
- Tiếp tục chấn chỉnh và xây dựng khu vực công nghiệp quốc doanh hoạt
động có hiệu quả, đảm bảo đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế là một việc hết
sức quan trọng và cấp bách. Vai trò đó thể hiện ở chỗ mở đờng và hỗ trợ các thành
phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là
11
một công cụ có sức mạnh vật chất để nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị
trờng theo định hớng của Đảng đã đề ra.
- Tập trung xây dựng doanh nghiệp Nhà nớc ở những ngành, những lĩnh
vực, những khâu cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, các ngành công nghiệp mũi nhọn
nh điện, xi măng để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Giảm bớt những
doanh nghiệp không cần giữ hình thức quốc doanh, củng cố, mở rộng và xây dựng
mới những doanh nghiệp Nhà nớc cần thiết.
- Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nớc để vừa
bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng, vừa
bảo đảm việc kiểm soát của Nhà nớc.
- Để thu hút thêm vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy
doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu quả cần thực hiện những hình thức cổ phần
hoá có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh, trong đó sở
hữu Nhà nớc chiếm tỉ lệ cổ phần chi phối.
- Hoàn thiện và áp dụng rộng rãi các hình thức khoán trong doanh nghiệp
Nhà nớc.
- Nhà nớc hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bớc vững chắc, phù hợp
với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các
tổng công ty theo hớng tổ chức các tập đoàn kinh doanh, khắc phục tính chất hành
chính trung gian.
- Xoá bỏ dần chế độ bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt
giữa quốc doanh trung ơng và quốc doanh địa phơng.
- Cơ quan Nhà nớc các ngành, các cấp phải chăm lo giúp đỡ doanh nghiệp
Nhà nớc làm ăn có hiệu quả, nhất là giúp đỡ xử lý các vấn đề về vốn, công nghệ,
thị trờng và đào tạo cán bộ. Đối với các doanh nghiệp phục vụ lợi ích chung về
kinh tế xã hội nhng mức sinh lợi trực tiếp thấp hoặc bị thua lỗ nhà nớc có chính
sách u đãi hợp lý.
Nh vậy, trong nền kinh tế thị trờng có nhiều thành phần kinh tế cùng tham
gia cạnh tranh, Nhà nớc CHDCND Lào vẫn rất coi trọng công nghiệp quốc doanh.
Những quan điểm, biện pháp trên đây là nhằm giúp công nghiệp quốc doanh
nhanh chóng chuyển đổi phù hợp với cơ chế mới, để có thể phát triển giữ vững vai
trò chỉ đạo của mình trớc mắt cũng nh lâu dài.
12
Chơng II
Hệ thống chỉ tiêu và phơng pháp thống kê sử dụng trong
phân tích tình hình phát triển công nghiệp
2.1 Nguyên tắc chủ yếu xác định hệ thống chỉ tiêu trong
phân tích.
Việc phân tích tình hình phát triển ngành công nghiệp hết sức quan trọng
cho nên chúng ta không chỉ có phân tích chung những số liệu tổng hợp vì việc
phân tích nh vậy chỉ cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về sự tăng trởng của
công nghiệp, nó không cho ta thấy rằng tại sao ngành công nghiệp - thủ công lại
có sự tăng trởng hay giảm sút, đâu là nguyên nhân chính tiến dần tới tình hình đó.
Nếu chúng ta muốn biết đợc những điều này, chúng ta có thể tiến hành phân tích
chi tiết theo nhiều góc độ khác nhau. Ngoài ra việc phân tích chi tiết cho ta thấy rõ
đợc tình hình phát triển, tỷ trọng của từng bộ phận trong ngành công nghiệp, điều
đó sẽ tạo điều kiện giúp Nhà nớc có đợc chính sách vĩ mô hợp lý, đầy đủ để điều
tiết cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp.
Để đáp ứng đợc những yêu cấu trên, khi xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê
đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quản triệt
các nguyên tắc chủ yếu sau :
- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh phải đợc quy định
thống nhất; có hớng dẫn cho các doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế quốc
dân về phơng pháp tính toán đảm bảo yêu cầu:
+ Khái niệm nội dung tính toán phải thông nhất từ chi tiết đến tổng hợp.
+ Phạm vi tính toán phải đợc quy định rõ ràng bao gồm cả phạm vi
không gian và thời gian.
+ Đơn vị tính toán phải thống nhất
Việc thống nhất phơng pháp tính toán nhằm đảm bảo việc so sánh
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo không gian và thời
gian. Việc tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống phải phù hợp với trình độ của cán
13
bộ, điều kiện hạch toán và thu thập số liệu của các doanh nghiệp và phải phù hợp
với SNA.
- Phải đảm bảo tính hệ thống, điều đó có nghĩa la:
+ Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đợc
phân tổ và sắp xếp một cách khoa học. Điều này liên quan đến việc chuẩn hoá
thông tin.
+ Phải bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu; các chỉ tiêu tổng hợp và
các chỉ tiêu bộ phận phản ánh từng mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và từng nhân tố.
- Hệ thống chỉ tiêu cần gọn (ít chỉ tiêu) và từng chỉ tiêu cần có nội dung rõ
ràng, dễ thu thập thông tin đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện về nhân
lực, tài lực và vật lực của doanh nghiệp.
- Phải có tính ổn định cao (đợc sử dụng trong thời gian dài), đồng thời
phải có tính linh hoạt. Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu cần thờng xuyên đợc hoàn thiện
(có thể thay đổi, bổ sung hoặc giảm bớt) theo sự phảt triển của yêu cầu quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
- Phải quy định các hình thức thu thập thông tin (qua báo cáo thống kê định
kỳ hoặc qua điều tra thống kê, hoăc kết hợp cả hai hình thức) phù hợp với yêu cầu
quản lý, phù hợp với điều kiện và trình độ cán bộ làm cộng tác thống kê ở các
doạnh nghiệp để có thể tính toán đợc các chỉ tiêu trong hệ thống với độ chinh xác
cao, phục vụ tốt cho yêu cầu công tác quản lý của các doanh nghiệp.
- Đáp ứng yêu cầu đúng với đối tợng cần cung cấp thông tin nhằm đảm bảo
tác dụng thiết thực trong công tác quản lý.
Để phân tích chỉ tiết nội bộ công nghiệp ta có thể phải tiến hành phân tổ
công nghiệp tùy thuộc vào các nhu cầu phân tích khác nhau.
2.2. Phân tổ công nghiệp -thủ công quốc doanh ở
CHDCND Lào
a. Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm ta có thể chia công nghiệp
thành 2 nhóm đó là:
- Nhóm sản xuất t liệu sản xuất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét