Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Một số ý kiến về phương hướng công tác phát triển kiểm toán ở nước ta hiện nay

- Thứ nhất góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về
nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nớc ,thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của
pháp luật.
- Thứ hai kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nớc chống thất
thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nớc.
- Thứ ba cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản lý
ngân sách nhà nớc sát thực và có hiệu quả hơn. Một trong những vấn đề quan
trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nớc và
công quỹ quốc gia trong việc quản lý điều tiết nền kinh tế là dự toán ngân sách
nhà nớc.
Thông qua việc kiêm tra tài chính. Kiểm toán nhà nớc đã chỉ ra những bất
họp lý trong việc xác định những chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nớc, góp phần tạo
lập cơ sở, căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nớc cho những năm sau,
nhằm thu đúng thu đủ, chống thất thu cho ngân sách nhà nớc. Đồng thời kiến nghị
việc phân bổ ngân sách nhà nớc cho các ngành, các địa phơng một cách hợp lý.
Ngoài ra ngành kiểm toán nhà nớc đã góp phần đánh giá một cách sát thực tình
hình tài chính của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nớc làm căn cứ cải
tiến quản lý doanh nghiệp, điều chỉnh các chính sách kinh tế, sắp xếp lại các
doanh nghiệp nhà nớc cùng với việc huy động vốn đầu t phát triển.
-Thứ t thông qua hoạt động kiểm toán, kiểm toán nhà nớc đã đề xuất, kiến
nghi nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế tài chính và
ngân sách nhà nớc ở các cơ quan, đơn vị trung ơng và địa phơng.

III. Những thành quả kiểm toán nhà nớc trong những năm
xây dựng và trởng thành.
Đối với mọi quốc gia trên thế giới có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trờng đều có một đặc điểm chung nhất là hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế
đợc coi là một thiết chế để duy trì sự công bằng và tạo niềm tin cậy trong các quan
hệ kinh tế xã hội trong điều kiện cạnh tranh. Một nền kinh tế thi trờng phát triển
lành mạnh có sức cạnh tranh và hiệu quả cao.
Cách đây hơn 6 năm mgày 11/7/1994. Kiểm toán nhà nớc chính thức đợc
thành lập trên cơ sở nghị định 70/CP của chính phủ. Theo đó:
Kiểm toán nhà nớc là cơ quan thuộc chính phủ và là cơ quan kiểm tra tài
chính công của nớc công hoà XHCN việt nam thực hiện việc kiểm toán đối với các
cơ quan nhà nớc các cấp, các đơn vị có nhiệm vụ thu chi ngân sách nhà nớc và các
tổ chức , đơn vị có quản lý, sử dụng công quỹ và tài sản nhà nớc.
Kiểm toán nhà nớc ra đời là một yêu cầu thị trờng tất yếu của xu thế đổi
mới , là sự đòi hỏi khách quan của cơ chế thi trờng trong công cuộc xây dựng nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một cơ quan mới, trớc đó cha có
một tổ chức tiền thân , cha có một tiền lệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nớc nên
trong buổi đầu kiểm toán nhà nơc không gặp ít khó khăn từ cơ sở vật chất kỹ
thuật, tổ chức con ngời đến công tác chuyên môn, cơ sở pháp lý cho hoạt động .
Trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nớc, đến nay bộ máy tổ
chức của ngành đã đi vào thế ổn định và tiếp tục phát triển, từ chỗ ban đầu (1994)
chỉ có hơn 30 ngời đến nay kiểm toán nhà nớc có hơn 500 cán bộ công nhân viên,
trongg đó hơn 400 ngời là kiểm toán viên. Tuy còn thiếu nhiều so với nhiệm vụ
lâu dài của ngành nhng số cán bộ hiện có đã đáp ứng đợc nhiệm vụ trong giai
đoạn đầu thành lập.
Nhìn chung đội ngũ cán bộ đều đợc đào tạo có hệ thống, số tốt nghiệp trở
nên 88%, riêng kiểm toán viên 100% đều đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài
chính kiểm toán và một số chuyên ngành kĩ thuật khác. Nhìn lại những năm qua
kiểm toán nhà nớc đã có bớc phát triển đáng kể trong việc triển khai kế hoạch
kiểm toán hàng năm với quy mô và chất lợng năm sau cao hơn năm trớc.
Kiểm toán là một nghề mới ở nớc ta, do đó kiểm toán viên nhà nớc nhìn
chung cha đợc đào tạo một cách có hệ thống và bài bảng. Vì vậy công tác đào tạo,
bồi dỡng kiến thức nghiệp vụ kiểm toán đã đợc đặc biệt coi trọng.
Sáu năm qua kiểm toán đã thu đợc một số kết quả nhất định trong lĩnh vực
hợp tác quốc tế. Tháng 4 năm 1996,kiểm toán nhà nớc đã ra nhập tổ chức quốc tế
các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) vào tháng 11 năm 1997 trở thành thành
viên của tổ chứccác cơ quan kiểm toán tối cao Châu á (ASOSAI) ngoài ra kiểm
toán nhà nớc còn mở rộng quan hệ hợp tác song phơng và đa phơng với các cơ
quan kiểm toán tối cao của nhiều nớc trên thế giới. Bớc đầu đã thực hiện có kết
quả những dự án do ngân sách phát triển Châu á(ADB).
Ngày nay ngành kiểm toán đã trở thành một ngành có thế mạnh, có tổ chức
chặt chẽ giữa các khâu, các bộ phận với nhau, một ngành mạnh trong cơ quan
kiểm tra của nhà nớc.
Phần II: thực trạng và một số ý kiến nhằm hoàn thiện
hệ thống kiểm toán.

I . Thực trạng hệ thống kiểm toán nớc ta hiện nay.
Đối tợng kiểm toán của cơ quan kiểm toán Nhà nớc là nền tài chính công,
các đơn vị có liên quan đến quá trình quản lý sử dụng ngân sách Nhà nớc và các
tài sản cùng công quỹ quốc gia.
Để thực thi quyền chức năng và trách nhiệm của mình, kiểm toán Nhà nớc
phải tiên hành 3 loại hình kiểm toán:
- Kiểm toán báo cáo tài chính.
- Kiểm toán tuân thủ.
- Kiểm toán hoạt động.
Để cho kiểm toán hoạt động đúng với bản chất và hoạt động có hiệu quả,
phải chú trọng tới chất lợng kiểm toán. Chất lợng kiểm toán là thớc đo về tính hiệu
quả của hoạt động kiểm toán. Chất lợng kiểm toán đợc thể hiện bằng việc đa ra lời
nhận xét đúng đắn và trung thực hợp lý, hợp pháp các thông tin đợc kiểm toán
nhằm phục vụ cho công tác quản lý và điều hành ngân sách Nhà nớc của các cấp
chính quyền, các doanh nghiệp quản trị doanh nghiệp đối với các nhà quản lý, các
hoạt động đầu t tài chính và các quan hệ giao dịch kinh tế khác.
Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Vai trò quản lý của Nhà nớc giữ đúng định hớng phát triển của nền
kinh tế theo mục tiêu quan điểm và đờng lối của đảng, phát huy nhiều mặt tích
cực, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực vốn có của cơ
chế thị trờng. Trong những năm qua, nền kinh tế nớc ta đã thoát ra khỏi khủng
hoảng và đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể.
Tuy nhiên, những mặt trái của cơ chế thị trờng cũng ngày càng bộc lộ rõ nét
và gây ảnh hởng không nhỏ, thâm chí có một số biểu hiện đáng lo ngại về kinh tế -
xã hội. Mặc dù, chúng ta có nhiều cố gắng ngăn chặn và xử lý song tình trạng
buôn lậu, tham nhũng, hoạt động kinh doanh trái pháp luật, trốn thuế, gây thất
thoát ngân sách và tài sản Nhà nớc ngày càng lớn và phổ biến ở nhiều nơi.
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều nguyên nhân:
- Đó là, khi đi vào kinh tế thị trờng chúng ta quá chậm và cha tập trung
đúng mức cần thiết cho việc hình thành và tăng năng lực hệ thống kiểm toán. bao
gồm, kiểm toán Nhà nớc , kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ ở các đơn vị kinh
tế cơ sở, trớc hết là doanh nghiệp Nhà nớc. Qua kinh nghiệm thực tế cho chúng ta
thấy, ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển đều cần có hệ thống kiểm toán
mạnh. Có thể nói đây là một công cụ đắc lực không thể thiếu đợc để quản lý kinh
tế của mỗi quốc gia. Hơn nữa, ở nớc ta cho đến nay hệ thống đó mới hoạt động
theo những văn bản pháp quy dới luật cho nên cơ sở và tính pháp lý còn rất hạn
chế. Mặc dù, trong 5 năm qua đã có nhiều cố gắng, song đến nay hệ thống kiểm
toán Nhà nớc mới có khoảng 450 kiểm toán viên, trình độ quản lý Nhà nớc, quản
lý tài chính, đặc biệt là nghiệp vụ chuyên môn của kiểm toán còn nhiều mặt hạn
chế. Do vậy, hoạt động kiểm toán mới triển khai bớc đầu ở một số ngành, địa ph-
ơng và doanh nghiệp trọng điểm.
- Bộ máy quản lý tài chính, bảo vệ phát luật đợc tổ chức rất đồ sộ, nhiều
khâu nhiều cấp rất hệ thống, từ Trung ơng đến địa phơng biên chế lớn, song cha đ-
ợc quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, hoạt động còn chồng chéo cha có sự
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan với nhau nói chung và hệ thống kiểm toán nói
riêng.
Tình trạng vi phạm phát luật nh tham nhũng làm thất thoát hàng tỷ đồng, tài
sản của doanh nghiệp, của Nhà nớc dới nhiều hình thức vẫn cứ xảy ra và ngày
càng nhiều vụ việc mang tính chất phổ biến và nghiêm trọng, thậm chí có vụ mang
tính tập thể có tổ chức cả trong và ngoài doanh nghiệp.
Rõ ràng chí xét về mặt quản lý tài chính, ngân sách Nhà nớc ở nhiều doanh
nghiệp Nhà nớc có thể kết luận là: Công tác này, lâu nay bị buông lỏng, bộ máy
quản lý cấp trên và trong doanh nghiệp vô cùng đồ sộ nhng kém hiệu lực và hiệu
quả, không thể xác định đợc trách nhiệm về khâu nào, cấp nào, cơ quan tổ chức
nào. Trong khi đó sự tác động của hệ thống kiểm toán còn quá mỏng manh và hụt
hẫng, rất xa so với nhu cầu công tác kiểm toán đối với các doanh nghiệp, cơ quan,
đơn vị sự nghiệp đứng trên góc độ phát luật. Những sai sót, gian lận và sự vi phạm
các văn bản phát luật của đối tợng kiểm toán, tuỳ mức độ nặng nhẹ, tuỳ nguyên
nhân chủ quan hay khách quan, kiểm toán viên và đoàn thể kiểm toán có sự phân
tích đánh giá và kết luận. Có thể nêu ra một số dấu hiệu chủ yếu của việc không
tuân thủ các quy phạm pháp luật.
1. Những dấu hiệu sai phạm trong khâu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất
kinh doanh.
- Tổ chức cơ quan, đơn vị không đúng với quy định của các văn bản quy
phạm pháp luật về thành lập và vi phạm điều lệ quy chế về tổ chức và hoạt động
của đơn vị.
- Tổ chức quản lý và hạch toán tuỳ tiện không tuân theo 1 mô hình nhất
quán và chặt chẽ, phân cấp hạch toán và tổ chức bộ máy kiểm toán tuỳ tiện, không
phù hợp với quy định của pháp lệnh kiểm toán thống kê và chế độ kiểm toán hiện
hành.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các công chức và viên chức lãnh đạo và
kiểm toán trởng trái các quy định của luật pháp. Tuyển dụng công chức, cán bộ và
viên chức không tuân theo 1 trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn cho phép.
- Phát triển các hoạt động một cách tự phát không theo chức năng nhiệm vụ.
Liên doanh, liên kết không có cơ sở pháp lý và luân chức hợp lý, hợp pháp dẫn đến
rối loạn trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh gây thiệt hại về nguồn
nhân lực.
2. Những dấu hiệu sai phạm về các hoạt động kinh tế.
- Tiến hành các hoạt động vụ lợi trái quy định pháp luật ngoài vi phạm thẩm
quyền.
- Vi phạm các chế định của pháp lệnh hợp đồngkt, đặc biệt là trong quan hệ
thầu, ký kết hợp đồng kinh tế. Gian lận khi tiến hành các thủ tục hợp đồng. Vận
dụng sai nguyên tắc các chế định về giá cả.
- Gian lận và man trá trong thủ tục đấu thầu.
- Vi phạm các chế định luật pháp về quản lý sử dụng tài sản vật t, nhân lực,
tiền vốn trong triển khai các hoạt động kinh tế.
- Không làm hoặc làm sai các quy định về kiểm kê, đặc biệt là việc kiểm kê
hình thức. Không có quy trách nhiệm vật chất trong biên bản kiểm kê và không có
quyết định xử lý kiểm kê.
- Sử dụng một cách vô nguyên tắc thiếu hiệu quả các khoản chi phí tiếp thị,
lợi dụng để biển thủ các khoản kinh phí dành cho tiếp thị, ký kết hợp đồng kinh tế.
- Vi phạm các quy định luật pháp và các quy định nội ngành, nội bộ về
quản lý và điều hành đơn vị về mặt kinh tế.
3. Những dấu hiệu sai phạm về xử lý các quan hệ tài chính, các quan hệ lợi
ích.
- Không có quy tắc chuẩn mực hoặc vi phạm các chế định luật pháp khi xử
lý các quan hệ tài chính dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, gặp đâu làm đó, làm rối loạn
các quan hệ tài chính, đặc biệt là khâu giải quyết công nợ thanh toán và tất nhiên
là sự gây nên sự căng thẳng về quan hệ tài chính, hạn chế, thậm chí triệt tiêu hiệu
quả các hoạt động kinh tế tài chính.
- Trốn, lậu thuế, đặc biệt là những đơn vị trốn lậu thế kéo dài.
- Vi phạm các quy tắc và quy định chế độ tián dụng, xâm hại lợi ích của
ngân hàng, của ngời cho vay, làm thất thoát tài sản khi cho vay, cho tạm ứng, vi
phạm các chế định luật pháp, về lãi suất, tiền vay, tiền gửi. Về kế ớc nhận vốn của
ngời góp vốn.
- Vi phạm các chế định pháp luật khác về thị trờng vốn, các giao dịch cổ
phiếu, trái phiếu và các quy định luật pháp về thị trờng chứng khoán nói chung.
- Vi phạm luật hoặc các quy định về chống độc quyền, gian lận trong thơng
mại.
- Đầu cơ, trục lợi trong hoạt động kinh tế và sản xuất - kinh doanh.
- Vi phạm các quy định về luật thơng mại, luật bản quyền hoặc các công ớc
quốc tế mà chính phủ đã cam kết thực hiện.
4. Những dấu hiệu sai phạm về công tác tài chính.
- Không thực thi các quy định về bảo toàn tồn phát triển nguồn vốn trong
quy định của biên bản giao nhận vốn.
- Vi phạm các cam kếttài chính trong khế ớc vay vốn, góp vốn nhận nợ.
- Vi phạm các quy định về tài chính trong hợp đồng kinh tế, cả trong hợp
đồng tập thể giữa thủ trởng và ngời lao động.
- Vi phạm các quy định về phân chia lợi nhuận, chia cổ tức khi phân phối
lợi nhuận hoặc sử dụng các quỹ khi giải quyết quan hệ lợi ích với các bên liên
quan.
- Vi phạm về phân cấp quản lý vốn, điều hoà chu chuyển vốn, thanh toán
trong nội bộ.
- - Vi phạm các quy định về các nguyên tắc quản lý nguồn vốn chủ sơ hữu,
nguồn đi vay, phần vốn góp và các quỹ của đơn vị.
- áp dụng sai các quy tắc về luật pháp về định giá tài sản, làm thất thuát,
xâm hại nguồn tài chínhcủa đơn vị.
- Dùng công quỹ để hối lộ, để vụ lợi, để che dấu các hoạt động bất minh.
5. Những dấu hiệu vi phạm về kiểm toán.
- Vi phạm các nguyên tắc về tổ chức kiểm toán, bao gồm cả tổ chức bộ máy
và tổ chức công tác kiểm toán nhất là về phân cấp hạch toán.
- Vi phạm về khâu hạch toán ban đầu, đặc biệt là sử dụng lu hành các chứng
từ kiểm toán bất hợp pháp, không hợp lệ.
- Vi phạm chế độ tài khoản , làm rối loạn khâu hạch toán đặc biệt nghiêm
trọng là chủ tâm gây nhiễu khi thiết kế sơ đồ hạch toán và vi phạm các nguyên tắc
ghi sổ, che dấu các quan hệ tài chính bất minh.
- Vi phạm nguyên tắc định giá, nguyên tắc bảo toàn vốn, nguyên tắc phản
ánh trung thực khách quan các tài sản của đơn vị. Cố ý sử dụng sai tỷ giá hối đoái
để vụ lợi bất chính.
- Vi phạm nguyên tắc hạch toán kiểm toán chỉ dùng đồng Việt Nam.
- Hạch toán sai doanh thu, chi phí, thu nhập.
- Xuyên tác kết quả sản xuất kinh doanh, biến lãi thành lỗ và ngợc lại.
- Lên báo cáo tài chính sai quy tắc kiểm toán, gian lận khi lên các chỉ tiêu
tổng hợp, xuyên tạc thực trạng tài chính của đơn vị.
- Không duy trì, hoặc có ý không duy trì sự hạch toán liên tục, đúng kỳ, vi
phạm, quy định về lập báo cáo kiểm toán.
- Vi phạm quy định bảo quản, lu trữ hồ sơ kiểm toán. cố tình che dấu, làm
thất lạc hoặc huỷ hoại tài liệu, hồ sơ kiểm toán.
- Không điều chỉnh sổ sách theo quyết định kiểm kê, theo quyết định của
các đoàn kiểm tra, kiểm toán có thẩm quyền.
Những tồn tại yếu kém của ngành còn đợc thể hiện trong nhiều mặt. Song
những gì ngành đóng góp cho việc quản lý nguồn lực tài chính của đơn vị, tổ chức,
quốc gia nó đợc thể hiện qua 1 số u nhợc điểm sau:
Ưu điểm:
Thông quan kiểm toán kiểm toán Nhà nớc đã phát hiện và kiến nghị tăng
thu, tiết kiệm chi cho ngân sách Nhà nớc. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là qua
kiểm toán đã giúp đỡ các đơn vị thấy đợc thực trạng tình hình tài chính nhiều yếu
kém, sơ hở trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh. Những số liệu kiểm toán
còn cung cấp cho cơ quan quản lý và sử dụng nguồn nhân lực NSNN trong từng
địa phơng và đơn vị cung cấp thông tin xác thực cho cơ quan quản lý Nhà nớc về
thực trạng thu chi, điều hành và quyết toán NSNN nó cũng là 1 trong những căn
cứ để Quốc hội xem xét quyết định phân bổ và phê chuẩn quyết toán NSNN, đồng
thời giúp chính phủ hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp tăng cờng quản
lý vĩ mô nền kinh tế.
Bên cạnh các chức năng chuyên biệt của kiểm toán, kiểm toán còn tực hiện
một chức năng quan trọng khách là phát hiện và cảnh báo các nguy cơ nổ ra ọt
cuộc khủng hoảng kinh tế. Thông qua kiểm toán để có biện pháp ngăn chặn, hạn
chế mức thiệt hại thấp nhất.
Thông qua kiểm toán còn phát hiện ra các vụ tham nhũng, tham ô ngân sách
Nhà nớc, trốn thuế, tệ nạn buôn lậu, làm thất thoát ngân sách Nhà nớc.
Có thể khẳng định một cách nghiêm túc kiểm toán Nhà nớc là cơ quan
quyết định trong bộ máy tổ chức quyền lực quan trong của Nhà nớc nó là tích cực
giúp cho Quốc hội chính phủ có những cơ sở để hoạch định chính sách phát triển
lâu dài của nền kinh tế.
Nhợc điểm:
Song những mặt tích cực của kiểm toán nó vẫn còn tồn tại những hạn chế
cần có biên pháp khắc phục, nhng hiệu lực kiểm toán còn hạn chế, cha đủ mạnh để
đi sâu làm rõ sai phạm trong quản lý điều hành phân phối và sử dụng NSNN. Vi
phạm hoạt động trong kiểm toán Nhà nớc còn hạn hẹp, chất lợng kiểm toán cha
cao, mới chỉ dừng lại ở việc xem xét, xử lý những vấn đề riêng lẻ của từng đối t-
ợng kiểm toán mà cha đi sâu vào phân tích tổnghợp, đội ngũ kiểm toán viên nhìn
chung có phẩm chất tốt, cần cù, chịu khó trong công việc nhng trình độ cha tơng
xứng với đòi hỏi nhiệm vụ đợc giao. Nó đã xuất hiện 1 vài hiện tợng cá biệt phản
ảnh sự thiết trong sáng trong công việc và sinh hoạt, đã xuất hiện việc che dấu
những vụ làm ăn phí pháp không trung thực với kết quả kiểm tra phản ánh không
đúng thực té tổ chức nhiều khâu làm cho công việc tiến hành đồ sộ qua nhiêu bớc
gây mất nhiều thời gian tiền của trong việc thực thi công việc. Nhiều khi còn tạo
kẽ hở cho bạn trốn thuế, việc tham nhũng, buôn lậu, làm ăn bất chính.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét