Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về phương pháp tính và hạch toán thuế GTGT ở các doanh nghiệp

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu qua hình thức đánh thuế một lần vào
công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (từ là khi sản phẩm được đưa vào
lưu thông lần đầu). Như vậy, việc đánh thuế độc lập, một lần với độ dài của quá
trình sản xuất, khắc phục được hiện tặng đánh thuế trùng lắp trước đó. Tuy
nhiên, chính sách thuế này lại phát sinh nhược điểm là việc thu thuế bị chậm trễ
so với trước, vì chỉ khi sản phẩm được đưa vào khâu lưu thông lần đầu, Nhà
nước mới thu được thuế,
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thuế doanh thu vẫn còn nhược điểm nổi bật là
thuế thu chồng chéo, trùng lắp, Đến năm 1954, Chính phủ Pháp đã ban hành loại
thuế mới với tên gọi là thuế giá trị gia tăng “theo tiếng Pháp là TAXE SUR LA
VALEUR AJOUTÉE (được viết tắt là T.V.A). Lúc đầu TVA được ban hành để áp
dụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu thuế chồng chéo
qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp, với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ
khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu. Quá trình thống nhất hoá
Châu Âu được thúc đẩy vào những năm 50 đã có tác dụng thuận lợi để TVA được
triển khai nhanh chóng ở các nước khác. Đến năm 1966, trong xu hướng cải tiến hệ
thống thuế “đơn giản và hiện đại” chung ở Châu Âu, TVA được ban hành chính thức
để thay thế một số sắc thuế gián thu.
Từ năm 1978, theo yêu cầu điều hoà luật pháp của các nước thành viên
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), nước Pháp điều chỉnh lại luật tài chính,
trong đó có phần quan trọng liên quan đến TVA. Năm 1986, TVA ở Pháp được
áp dụng rộng rãi đối với tất cả các ngành, nghề sản xuất, lưu thông hàng hoá,
dịch vụ, nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: Bảo đảm số thu kịp thời,
thường xuyên cho ngân sách Nhà nước và khắc phục tình trạng thu thuế trùng
lắp của thuế doanh thu.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế TGGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng
rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Đến nay đã có
trên 100 nước áp dụng thuế TGGT, chủ yếu là các nước Châu Phi, Châu Mỹ La
Tinh, các nước trong khối Cộng đồng Châu Âu (EC) và một số nước Châu Á.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Về tên gọi, có nhiều nơi gọi là thuế trị giá gia tăng như Pháp, Anh, Thuỵ
Điển, Một số nước gọi là thuế hàng hoá và dịch vụ như Canada, Niu-Di-Lân, Ở
một số nước Phần Lan, Áo, Đức là thuế doanh thu và họ cho rằng đây không phải là
sắc thuế mới mà vẫn là thuế doanh thu, chỉ được thay đổi nội dung và biện pháp thu.
3. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam
Trong hệ thống thuế nước ta, loại thuế gián tiếp quan trọng nhất là thuế
doanh thu với tổng thu tương ứng khoảng 3-4% GDP mỗi năm. Nhưng thuế
doanh thu là một loại thuế phức tạp, có nhiều mức thuế suất khác nhau và biểu
hiện trong khoảng rộng trên cơ sở giá bao gồm cả thuể (trong đó có cả thuế nhập
khẩu). Do đó nó có một số tồn tại sau:
Thứ nhất, diện thu thuế bị thu hẹp và đánh thuế doanh thu với nhiều mức
thuế suất tuỳ theo nguồn doanh thu là một việc không thể thực hiện được, vì thế
cán bộ thu thuế phải dựa vào kinh nghiệm để xác định mức thuế dẫn tới hiện
tượng thương lượng thuế giữa cán bộ thuế và đối tượng nộp thuế, khó tránh khỏi
tiêu cực.
Thứ hai, cơ chế thuế này đòi hỏi lưu trữ hồ sơ đầy đủ, đây là một vấn đề
khó khăn với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Thứ ba, vì thuế chồng chéo nhiều khi tạo khả năng cho người sản xuất tiến
hành liên kết ngang dọc để tránh một số khâu chịu thuế, gây ra hiện tượng trốn
thuế.
Thứ tư, thuế doanh thu trên thực tế hầu như không thể loại bỏ hoàn toàn
yếu tố cấu thành trong giá hàng xuất khẩu nền trong khuyến khích xuất khẩu.
Mặt khác, về nhập khẩu, thuế doanh thu không được thu ngay khi hàng nhập vào
cửa khẩu có thể dẫn tới tình trạng thất thu thuế, nhất là đối với công ty tư nhân.
Những tồn tại của thuế doanh thu có thể được giải quyết căn bản bằng thuế
GTGT.
Thuế GTGT là thuế đánh trên giá tự tăng thêm, tức là đánh trên giá trị
chênh lệch giữa các khoản bán ra của một doanh nghiệp với khoản mua vào về
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chi phí vật chất và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác. Thuế GTGT đã khắc phục
được các nhược điểm của thuế doanh thu, cụ thể là:
Thứ nhất, thuế GTGT đánh vào tiêu thụ nên nó được thu ở mọi khâu của
quá trình sản xuất cho nên việc thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc nộp
thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu, lượng thuế thực thu sẽ tăng lên rất mạnh.
Thứ hai, về kỹ thuật tính toán, có thể tách thuế này ra khỏi giá thành hàng
xuất khẩu một cách dễ dàng và không những không phải hợp thuế GTGT ở khâu
xuất khẩu mà còn được thoái trả toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở các khâu trước
cho nên nó khuyến khích mạnh mẽ việc đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, bản chất thuế GTGT là mang tính trung lập về mặt kinh tế. Các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chỉ là khâu trung gian, thu thuế hộ Nhà nước
rồi nộp vào kho bạc Nhà nước. Chính vì thế mà thuế GTGT khắc phục được
nhược điểm là thuế đánh chồng lên thuế của thuế doanh thu, tạo nên mặt bằng
cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau, từ đó thúc đẩy các doanh
nghiệp tích cực tổ chức cơ cấu lại bộ máy quản lý và dây chuyền công nghệ.
Thứ tư, thuế GTGT có diện bao quát rộng, bao gồm hầu như toàn bộ các
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Vì vậy về lâu dài thuế GTGT
sẽ làm tăng thu ngân sách và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, việc áp dụng thuế GTGT sẽ giảm bớt mức thuế suất (bốn mức thuế
suất). Khuyến khích các doanh nghiệp giữ sổ sách kế toán tốt hơn, kích thích mạnh
mẽ việc sử dụng hoá đơn, tạo điều kiện cho việc kiểm tra và thanh tra tài chính. Mặt
khác khi triển khai áp dụng thuế GTGT sẽ góp phần đổi mới tư duy về cơ chế thu
nộp thuế (tự động kê khai, tự động nộp thuế, thực hiện kiểm tra sau) và cho phép nền
kinh tế nước ta nói chung tiếng nói với các nước trong khu vực và thế giới trong lĩnh
vực thuế.
4. Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế
Theo Điều 2 của Luật thuế GTGT: hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo Điều 3 của Luật thuế: tổ chức, cá nhân sản suất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế
GTGT. Đối tượng không chịu thuế GTGT gồm 26 loại hàng hoá, dịch vụ được quy
định rõ.
5. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là: số lượng hàng hoá, dịch vụ, giá tính thuế đơn vị và
thuế suất.
5.1. Giá tính thuế:
Đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, giá tính thuế GTGT là giá
bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế GTGT là
giá nhập khẩu (giá CIF) cộng với thuế nhập khẩu.
Một số quy định cụ thể:
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế GTGT là
giá bán của hàng hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả
từng kỳ.
- Đối với hoạt động gia tăng hàng hoá, giá tính thuế GTGT là giá gia
công.
- Các trường hợp khác như: hàng hoá mang trao đổi, biếu tặng, sử dụng
tiêu dùng nội bộ, giá tính thuế GTGT là giá tính thuế của hàng hoá cùng loại
tương đương, với hoạt động cho thuê tài sản giá tính thuế là số tiền thu từng kỳ.
- Giá tính thuế GTGT bao gồm cả khoản phụ thu, phối thu thêm mà cơ sở
kinh doanh không được hưởng.
5.2. Thuế suất
Thuế GTGT có 4 mức thuế suất là 0%, 5%, 10% và 20%. Trong đó:
- Mức thuế 0% đối với hàng xuẩt khẩu.
- Mức thuế suất 5% đối với các mặt hàng thiết yếu, hiện đang chịu thuế doanh
thu với thuế suất thấp như: nước, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh, thiết bị và
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dụng cụ y tế, giáo cụ để giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt,
chăn nuôi,
- Mức thuế suất 20% đối với hàng hoá, dịch vụ chưa khuyến khích tiêu
dùng hiện đang chịu thuế doanh thu với mức thuế suất cao như: vàng bạc, đá
quý, khách sạn, du lịch, ăn uống, đại lý tàu biển, môi giới,
- Mức thuế suất 10% đối với hàng hoá, dịch vụ khác.
6. Hoàn thuế GTGT
Các trường hợp được hoàn thuế GTGT:
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế, được xét hoàn thuế trong các trường hợp:
• Có số thuế đầu vào của các tháng trong quý thường xuyên lớn hơn số
thuế đầu ra phát sinh các tháng trong quý hoặc nếu có số kinh doanh.
• Xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc theo từng lần xuất khẩu với số
lượng lớn, nếu phát sinh số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được xét hoàn
thuế GTGT theo từng kỳ hoặc tháng.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế nếu có đầu tư, mua sắm tài sản cố định, có số thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ lớn được hoàn thuế như sau:
• Đối với cơ sở đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế nhưng chưa có phát sinh
doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư một năm trở
lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Trường hợp số thuế GTGT đầu
vào lớn thì được xét hoàn thuế từng quý.
• Đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu, nếu số thuế
GTGT đầu vào của tài sản đầu tư đã khấu trừ trong 3 tháng (kể từ tháng phát
sinh thuế) mà chưa được khấu trừ hết thì được hoàn lại số thuế chưa được khấu
trừ này.
Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải
thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa có quyền đề nghị cơ quan thuế hoàn thuế.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài ra cơ sở kinh doanh còn được hoàn thuế trong trường hợp có quyết
định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật: Quyết định của Bộ
trưởng Bộ Tài chính yêu cầu phải hoàn trả lại thuế cho cơ sở kinh doanh.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ HẠCH
TOÁN THUẾ GTGT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I. PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ GTGT
1. Phương pháp tính thuế GTGT
Từ khái niệm về giá trị gia tăng và TGTGT, các nhà kinh tế đã đưa ra 4
phương pháp cơ bản của việc tính thuế GTGT:
- Phương pháp cộng trực tiếp: theo phương pháp này thì thuế GTGT phải
nộp được tính bằng cách lấy thuế suất (t) nhân với giá trị tăng thêm được hiểu là
tiền công và lợi nhuận. Cụ thể:
Thuế GTGT phải nộp = t x (tiền công + lợi nhuận)
- Phương pháp cộng gián tiếp: theo phương pháp này thuế GTGT phải
nộp được tính căn cứ vào từng thành phần riêng biệt của giá trị tăng thêm.
Thuế GTGT phải nộp t x tiền công + t x lợi nhuận
- Phương pháp trừ trực tiếp: theo phương pháp này thuế GTGT phải nộp được
tính dựa trên cơ sở tính trị giá tăng thêm là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào,
cụ thể là:
Thuế GTGT phải nộp = t x (giá đầu ra - giá đầu vào)
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Phương pháp trừ gián tiếp: còn gọi là phương pháp hoá đơn hoặc
phương pháp khấu trừ. Theo phương pháp này, thuế GTGT phải nộp được xác
định trên cơ sở lấy thuế tính trên giá đầu ra trừ đi thuế tính trên giá đầu vào, cụ
thể:
Thuế GTGT phải nộp = (t x giá đầu ra) - (t x giá đầu vào)
Trong 4 phương pháp tính thuế GTGT nói trên thì 3 phương pháp đầu hầu
như chỉ tồn tại trên lý thuyết, ít được áp dụng trong thực tế. Riêng phương pháp
trừ gián tiếp (hay phương pháp khấu trừ) được áp dụng phổ biến vì việc tính
thuế phải nộp dựa vào hoá đơn - bằng chứng của nghiệp vụ kinh doanh - gắn
nghĩa vụ nộp thuế với nghiệp vụ kinh doanh của cơ sở cho nên có ưu điểm nổi
trội hơn hẳn những phương pháp khác về mặt kỹ thuật và luật pháp. Mặt khác
phương pháp tính thuế dựa vào hoá đơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự theo
dõi, kiểm tra của cơ quan quản lý, thu thuế và người ta có thể tính được nghĩa vụ
nộp thuế một cách kịp thời và tương đối chính xác cho một năm tài chính.
Ở nước ta, theo thông tư số 89/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành chi tiết
luật thuế giá trị giá tăng thì việc tính thuế giá trị gia tăng phải nộp được áp dụng
theo 2 phương pháp: phương pháp trừ gián tiếp (hay phương pháp khấu trừ) và
phương pháp trừ trực tiếp.
Theo phương pháp trừ:
Số thu GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Trong đó:
= x
Theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT:
= -
Trong đó:
= -
Việc tính thuế GTGT theo từng phương pháp được áp dụng đối với từng đối
tượng cụ thể: phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng đối với cơ sở kinh doanh đã
thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, mua bán hàng có hoá đơn, còn phương pháp
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tính trực tiếp trên giá trị gia tăng được áp dụng với cơ sở kinh doanh chưa thực hiện
đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn và các cơ sở kinh doanh mua bán vàng
bạc, đá quý.
2. Chứng từ kế toán:
Để thực hiện kế toán thuế GTGT các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chế
độ hoá đơn chứng từ theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính. Dưới đây là một
số hoá đơn, chứng từ có liên quan:
Hoá đơn giá trị gia tăng: Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng
“Hoá đơn giá trị gia tăng” do Bộ Tài chính phát hành (trừ trường hợp được dùng
chứng từ ghi giá thanh toán là giá có thuế GTGT). Khi lập hoá đơn bán hàng hoá,
dịch vụ cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định và ghi rõ: giá bán
(chưa thuế), các phụ thu và tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT và tổng giá
thanh toán.
Hoá đơn bán hàng: Do Bộ Tài chính phát hành, được sử dụng ở các cơ sở
kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và khi
lập hoá đơn cơ sở kinh doanh cũng phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và
ghi rõ giá bán, các phụ thu (nếu có) và tổng giá thanh toán.
Hoá đơn tự in, chứng từ đặc thù: Các hoá đơn này muốn được sử dụng
phải đăng ký với Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) và chỉ được sử dụng sau khi
được chấp thuận bằng văn bản. Loại hoá đơn này cũng phải đảm bảo phản ánh
đầy đủ các thông tin quy định của hoá đơn, chứng từ.
Với các chứng từ đặc thù như tem bưu điện, vé máy bay, vé sổ xố, giá
trên vé là giá đã có thuế GTGT.
Bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ: Trường hợp này được áp dụng đối với
cơ sở kinh doanh trực tiếp cung ứng, dịch vụ, hàng hoá cho người tiêu dùng
không thuộc diện phải lập hoá đơn bán hàng thì phải lập bảng kê bán lẻ hàng
hoá, dịch vụ theo mẫu quy định.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bảng kê thu mua nông sản, lâm sản, thuỷ sản của người trực tiếp sản xuất:
Trường hợp này được áp dụng đối với cơ sở sản xuất, chế biến mua hàng hoá là
các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản của sản xuất trực tiếp bán ra thì phải lập
“Bảng kê thu mua hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản của người sản xuất trực
tiếp” theo mẫu quy định.
II. HẠCH TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở CÁC DOANH
NGHIỆP
1. Hạch toán thuế GTGT đầu vào
1.1.Tài khoản sử dụng
Tài khoản 133 : Thuế GTGT được khấu trừ.
Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đã
khấu trừ và còn được khấu trừ.
Bên Nợ: Số thuế GTGT đầu vào đã được khấu trừ.
Bên Có: Số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ.
Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ.
Số thuế GTGT đầu vào đã hoàn lại.
Số dư Nợ: VAT còn được khấu trừ được hoàn trả nhưng ngân sách chưa
hoàn trả.
Tài khoản 133 có 2 tài khoản cấp 2:
TK 1331 - Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ.
TK 1332 - Thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định.
1.2. Nguyên tắc hạch toán TK 133:
- TK 133 chỉ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, không áp dụng đối với cơ sở kinh doanh
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và cơ sở kinh doanh
không thuộc diện chịu thuế GTGT.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì cơ sở
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và thuế
GTGT đầu vào không được khấu trừ.
- Trường hợp không thể hạch toán riêng được thì số thuế GTGT đầu vào
được hạch toán vào TK 133. Cuối kỳ kế toán phải xác định số thuế GTGT được
khấu trừ theo tỷ lệ % giữa doanh thu chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu bán
ra. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ được tính vào giá vốn của hàng
hoá bán ra trong kỳ. Nếu số thuế GTGT không được khấu trừ có giá trị lớn thì
tính vào giá vốn hàng bán ra trong kỳ tương ứng với doanh thu trong kỳ, số còn
lại được tính vào giá vốn của hàng hoá bán ra kỳ kế toán sau.
- Trường hợp cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ dùng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế
GTGT hoặc dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án,
hoặc dùng vào hoạt động văn hoá, phúc lợi mà được trang trải bằng các nguồn
kinh phí khác, thì số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ và không hạch
toán vào TK 133. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ được tính vào
giá trị của vật tư, hàng hoá, tài sản cố định, dịch vụ mua vào.
- Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được dùng hoá đơn, chứng từ
đặc biệt ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở kinh doanh căn cứ
vào giá hàng hoá, dịch vụ mua vào đã có thuế để xác định giá không có thuế từ
đó xác định thuế GTGT đầu vào.
Công thức:
=
= x
- Trường hợp cơ sở sản xuất, chế biến nguyên vật liệu là nông, lâm, thuỷ sản
chưa qua chế biến của người sản xuất trực tiếp bán ra không có hoá đơn, căn cứ
vào bảng kê thu mua hàng hoá nông sản, lâm sản, thuỷ sản tính ra số thuế GTGT
đầu vào theo tỷ lệ % tính trên giá trị hàng hoá mua vào theo quy định trong chế độ
thuế GTGT.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét