Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thực chất, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn
của các doanh nghiệp vào đối tợng tính giá thành nhất định. Về chất lợng, độ
lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu sau:
- Giá cả của t liêu sản xuất và thù lao của một lao động hao phí.
- Khối lợng t liệu sản xuất và lao động đã hao phí trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Vì vậy, chi phí ở các doanh nghiệp là một đại lợng vừa mang tính
khách quan vừa mang tính chủ quan.
1.2. Phân loại chi phí.
Chi phí sản xuất có nhiều loại, nên để tiện cho công tác quản lí và hạch
toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Việc phân loại chi
phí sản xuất giúp nhà quản trị dễ dàng hơn trong việc kiểm tra, phân tích quá
trình phát sinh chi phí và hình thành sản phẩm, tính toán phơng án sản xuất,
tiết kiệm chi phí một cách tốt nhất để hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Về mặt hạch toán chi phí sản xuất thờng đợc phân loại theo tiêu thức:
1.2.1.Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, những chi phí có cùng nội dung kinh tế đợc
sắp xếp chung vào một yếu tố chi phí. Mỗi yếu tố chi phí bao gồm những chi
phí có nội dung kinh tế không phân biệt chi phí đã phát sinh ở đâu, ở lĩnh vực
nào và mục đích sử dụng hoặc tác dụng của chi phí nh thế nào. Vì vậy, cách
phân loại này là cách phân loại chi phí theo yếu tố. Toàn bộ chi phí trong kỳ
đợc chia thành những yếu tố chi phí nh sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, nhiên liệu, vật liệu, thiết
bị mà doanh nghiệp đã dùng cho hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền lơng, tiền phụ cấp và các
khoản trích theo lơng nh: BHYT, BHXH, KPCĐ đợc tính vào chi phí sản xuất
theo tỉ lệ nhất định của công nhân sản xuất trong doanh nghiệp.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền trích khấu hao của
những TSCĐ dùng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp
phải trả cho các dịch vụ mua từ bên ngoài nh: tiền điện, tiền nớc, bu phí ,
phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền: là toàn bộ các chi phí khác bằng tiền mà doanh nghiệp
phải chi ra cho hoạt động sản xuất trong kỳ ngoài bốn yếu tố chi phí trên.
ý nghĩa: Theo tiêu thức này cho phép hiểu rõ về kết cấu, tỷ trọng của
từng loại chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bảng thuyết minh
báo cáo tài chính, là cơ sở để phân tích chi phí, đánh giá tình hình thực hiện
dự toán chi phí sản xuất, là cơ sở cho việc xây dựng cung ứng vật t, tiền vốn.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí
để chia thành các khoản mục chi phí khác nhau, những loại chi phí nào có
cùng mục đích công dụng thì đợc xếp chung vào một khoản mục, không phân
biệt chúng có nội dung kinh tế nh thế nào. Bởi vậy cách phân loại này còn
gọi là phân loại chi phí theo khoản mục. Toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ
đợc chia thành các khoản mục nh sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các chi phí về nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu đ ợc sử dụng trực tiếp để sản xuất sản
phẩm hay thực hiện công việc lao vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí phải trả cho công nhân trực
tiếp sản xuất sản phẩm nh tiền lơng, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH,
BHYT, KPCĐ trích theo tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm những chi phí dùng cho hoạt động
sản xuất chung ở các phân xởng, tổ đội sản xuất. Ngoài ra chi phí sản xuất
chung còn bao gồm:
+ Chi phí nhân viên quản lý phân xởng: phản ánh chi phí liên qua
và phải trả cho nhân viên phân xởng, tổ đội sản xuất nh: tiền lơng, tiền công,
các khoản phụ cấp, trích bảo hiểm cho nhân viên quản lý.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung nh: vật
liệu dùng để sửa chữa bảo dỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu
chung dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xởng, tổ đội.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất:phản ánh chi phí về dụng cụ dùng cho
nhu cầu sản xuất ở phân xởng, đội sản xuất nh:khuôn mẫu dụng cụ, dụng cụ
cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định:Bao gồm toàn bộ số tiền trích
khấu hao TSCĐ hữu hình và TSCĐvô hình, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở
các phân xởng tổ đội sản xuất nh:khấu hao máy móc, thiết bị sản xuất, phơng
tiện truyền dẫn, nhà xởng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài:phản ánh những chi phí bằng tiền về lao
vụ dịch vụ từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở phân x-
ởng, tổ đội sản xuất nh chi phí về tiền điện, nớc, điện thoại, chi phí sửa chữa
TSCĐ thuê ngoài.
+ Chi phí thuê bằng tiền khác: Bao gồm các chi phí bằng tiền khác
trừ các chi phí đã nêu ở trên, phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung ở phân x-
ởng, tổ đội sản xuất.
ý nghĩa: Theo cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho công việc
quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho việc kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
1.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất vơi số lợng sản phẩm
công việc lao vụ dịch vụ sản suất trong kỳ, chi phí sản xuất đợc chia thành
hai loại:
Chi bí khả biến (biến phí): Là những chi phí có sự thay đổi về lợng t-
ơng quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi khối lợng của sản phẩm sản xuất trong
kỳ. Thuộc loại chi phí này là chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công
trực tiếp.
Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí không thay đổi về lợng
số dù có sự thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất trong kỳ. Tuy
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhiên, nếu trong kỳ có sự thay đổi về khối lợng sản phẩm sản xuất thì chi phí
cố định trên một đơn vị sản phẩm sẽ biến động tơng quan tỷ lệ nghịch với
biến động của sản phẩm.
ý nghĩa: cách phân loại này có tác dụng lớn đối với quản trị kinh
doanh để phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định cần
thiết hạ giá thành sản phẩm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.4. Phân loại chi phí theo phơng pháp tổng hợp chi phí sản xuất.
Theo cách này chi phí sản xuất đợc chia thành hai loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản phẩm quan hệ trực tiếp với việc
sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định. Những chi phí này có
thể căn cứ vào số hiệu chứng từ ghi trực tiếp cho đối tợng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản
xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc, chi phí này kế toán cần phân bổ
cho nhiều loại đối tợng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
ý nghĩa: Cách phân loại này có ý nghĩa thuần tuý về mặt kỹ thuật hạch
toán, tính chính xác của chi phí tập hợp từng đối tợng phụ thuộc vào tính hợp
lý và khoa học của tiêu thức phân bổ chi phí đợc lựa chọn.
1.2.5. Phân loại chi phí theo yếu tố cấu thành chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành hai loại:
- Chi phí đơn nhất: Là chi phí do một yếu tố duy nhất cấu thành nh:
Chi phí nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lơng công nhân sản
xuất.
- Chi phí tổng hợp: Là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau
tập hợp lại theo cùng một công dụng nh chi phí sản xuất chung.
Tóm lại có nhiều cách thức khác nhau để phân loại chi phí. Mỗi cách
phân loại lại có ý nghĩa riêng, phục vụ cho từng yêu cầu quản lý và từng đối
tợng cung cấp thông tin cụ thể. Nhng chúng luôn bổ sung cho nhau nhằm
quản lý có hiệu quả nhất toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ doanh nghiệp.
II. Giá thành và phân loại giá thành
1. Giá thành sản phẩm và các chỉ tiêu về giá thành.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất l-
ợng hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý kinh tế tài chính của
doanh nghiệp. Việc tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật t, sử dụng hợp lý
vốn sản xuất Đều ảnh h ởng trực tiếp đến việc hạ giá thành. Do đó nhiệm
vụ của kế toán giá thành là phải vận dụng phơng pháp tính giá thành thích
hợp để tính giá theo đúng khoản mục quy định và đúng kỳ. Xác định giá
thành sản phẩm là biểu hiện toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và
lao động vật hoá có liên quan tới khối lợng sản phẩm lao vụ đã hoàn thành.
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để
đánh giá chất lợng của hoạt động sản xuất thì phải xem xét chi phí sản xuất
trong quan hệ thứ hai và là mặt cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh và
kết quả thu đợc. Đó chính là chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính theo khối lợng hoặc một
đơn vị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành. Giá thành sản
phẩm xác định cho từng loại sản phẩm,lao vụ dịch vụ cụ thể và chi phí tính
toán xác định cho những lao vụ đã hoàn thành, kết thúc toàn bộ quy trình sản
xuất (thành phẩm). Giá thành là một căn cứ quan trọng để định giá bán và
xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất, giá thành sản phẩm luôn
chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong đó là sản xuất đã chi ra và giá
trị sử dụng đã thu đợc cấu thành trong khối lợng sản phẩm, lao vụ đã hoàn
thành. Giá thành có hai chức năng chủ yếu đó là thớc đo bù đắp chi phí và
chức năng lập giá. Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành
một khối lợng sản phẩm, công việc phải đợc bù đắp bằng đúng số tiền về bán
sản phẩm, lao vụ. Tuy nhiên việc bù đắp các chi phí đầu t vào đó mới chỉ đảm
bảo quá trình tái sản xuất giản đơn, mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh
doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang
trải mọi chi phí đầu t vào quá trình sản xuất và phải có lãi. Vì vậy trong cơ
chế thị trờng giá bán sản phẩm không những phụ thuộc vào qui luật cung cầu,
vào sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng mà phải dựa trên giá
thành sản phẩm.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài hai chức năng quan trọng là bù đắp chi phí và xác định giá bán
sản phẩm. Giá thành còn giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp lập kế
hoạch kế hoạch kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và là cơ sở để đa ra các quyết định về đầu t.
2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại có một tác
dụng riêng. Do vậy để giúp cho công việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều
góc độ khác nhau, nhiều phạm vi tính toán khác nhau, kế toán cần phải phân
biệt các loại giá thành. Cụ thể có hai cách phân loại nh sau:
2.1 . Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo cách này giá thành đợc chia làm ba loại:
- Giá thành kế hoạch :Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi
phí sản xuất kế hoạch. Việc tính toán này là do bộ phận kế hoạch đảm nhiệm
và tiến hành trớc khi bắt đầu quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm.
- Giá thành định mức:Là quá trình đợc tính trên cơ sở định mức chi phí
hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm trớc khi quá trình sản xuất và chế
tạo sản phẩm. Giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi định
mức chi phí trong quá trình thực hiện kế hoạch.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu
chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ cũng nh sản lợng
thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán sau khi kết
thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, loại giá thành này là chỉ tiêu tổng
hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử
dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này giúp việc quản lý và giám sát chi phí, xác định đợc
các nguyên nhân vợt (hụt) định mức trong kỳ hạch toán từ đó đa ra cách điều
chỉnh cho phù hợp.
2.2 Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán
Theo cách phân loại này trong kế toán tài chính cần phân biệt hai loại
giá thành đó là giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giá thành sản xuất bao gồm các chi phí đã phát sinh trong quá trình sản xuất
chế tạo sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành đợc thể hiện:
Giá thành
sản xuất
=
Chi phí NVL
trực tiếp
+
Chi phí nhân
công trực tiếp
+
Chi phí sản
xuất chung
Giá thành sản xuất của sản phẩm đợc sử dụng để hạch toán thành phẩm
nhập kho và tính giá vốn hàng bán (trong trờng hợp bán thẳng cho khách
hàng không nhập kho) giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá vốn hàng
bán và mức lãi gộp trong kỳ ở các doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ là căn cứ để xác định mức lợi nhuận trớc thuế của
doanh nghiệp. Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ đợc tính toán xác định khi
sản phẩm, công việc, lao vụ đợc tiêu thụ. Bởi vậy giá thành toàn bộ đợc coi là
giá thành tiêu thụ.
+
= = += + +
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh doanh
(lãi lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Tuy nhiên doanh nghiệp hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi
phí bảo hiểm và chi phi số lợng cho từng loại mặt hàng, từng loại lao vụ dịch
vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật nghiên cứu.
Ngoài hai cách phân loại trên giá thành sản phẩm có thể phân chia thành: giá
thành cá biệt và giá thành xã hội.
11
Giá thành
toàn bộ
Giá thành
sản xuất
Chi phí
bán hàng
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3 . Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá
trình sản xuất. Một bên là yếu tố chi phí đầu vào và một bên là kết quả sản
xuất đầu ra. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật
thiết với nhau về phạm vi nội dung.Đây là hai mặt thống nhất của một quá
trình sản xuất tạo sản phẩm. Chính vì vậy mà chúng giống nhau về chất vì
đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã chi ra trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Tuy vậy do bộ phận sản xuất
giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành và chi phí sản xuất giữa các kỳ
cũng không đều nhau, chúng có sự khác nhau về lợng và thời gian cụ thể nh
sau:
Chi phí sản xuất luôn gắn liền với một kỳ nhất định(tháng ,quý ,năm) mà
không tính đến chi phí đó liên quan đến số sản phẩm đã hoàn thành hay cha.
Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm chi phí phải trả trong kỳ (thực tế phát
sinh trong kỳ) hoặc chi phí đã phát sinh ở kỳ sau nhng đã ghi nhận là chi phí
của kỳ này(chi phí trả trớc) và bao gồm một phần chi phí của kỳ trớc chuyển
sang(chi phí về sản phẩm dở dang đầu kỳ).
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện qua công
thức tính giá thành tổng quát nh sau:
Z = D
đầu kỳ
+ C - D
cuối kỳ
Trong đó:
Z: Tổng giá thành sản phẩm
D
đầu kỳ
:Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ.
C: Tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
D
cuối kỳ
:Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ .
4. Yêu cầu quản lý chi phí và giá thành sản phẩm
Phải quán triệt nguyên tắc tính đúng, tính đủ. Để quán triệt đợc
nguyên tắc này phải dựa vào văn bản của nhà nớc.
Xây dựng đợc hệ thống định mức tiêu hao các yếu tố chi phí trong quá
trình sản xuất và kinh doanh.
Xây dựng đợc dự toán chi phí cho các bộ phận.
Phân cấp hợp lý các bộ phận trong việc quản lý chi phí.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phải xây dựng đợc kế hoạch về tính giá thành, về hạ giá thành
III .Trình tự hạch toán và đối tợng hạch toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm
* Đối tợng của kế toán chi phí sản xuất.
Xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi
chịu chi phí. Còn xác định đối tợng tính giá thành là việc xác định giá thành
sản phẩm, giá bán sản phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính
toán giá thành đơn vị. Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là
khâu đầu tiên đối với kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành đơn vị ngay
cả khi chúng đồng nhất là một thì phải dựa vào các cơ sở sau đây:
1. Căn cứ vào tính chất sản xuất và đặc điểm của quy trình công
nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
Theo căn cứ này có thể xác định đói tợng tập hợp chi phí và tính giá
thành sản phẩm nh sau:
Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm giản đơn:
Thì đối tợng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản
xuất, hoặc có thể là nhóm sản phẩm. Đối tợng tính giá thành ở đây là từng
sản phẩm, từng công việc sản xuất hay đó là sản phẩm cuối cùng.
Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất sản phẩm phức tạp thì đối tợng
hạch toán chi phí sản phẩm có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế
biến, phân xởng sản xuất Còn đối t ợng tính giá thành là thành phẩm ở bớc chế
tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bớc chế tạo.
2.Căn cứ vào loại hình sản xuất.
Đối với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ thì đối tợng hạch
toán là các đơn đặt hàng riêng biệt hoặc từng chiếc sản phẩm còn đối tợng
tính giá là giá thành của từng đơn.
Đối với sản xuất hàng loạt và sản xuất với khối lợng lớn thì hoàn toàn
phụ thuộc vào quy trình sản xuất giản đơn hay phức tạp, mà đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết nhóm hay
từng giai đoạn công nghệ. Còn đối tợng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng
hay bán thành phẩm.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.Căn cứ vào yêu cầu và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh
Trình độ tổ chức quản lý có ý nghĩa hay có sự quyết định tới đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành của doanh nghiệp .
Nếu trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh mà cao, có thể đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau.
Nếu trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh mà thấp thì đối tợng hạch toán
chi phí và giá thành sản phẩm có thể bị hạn chế và thu hẹp
Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tợng hạch toán
chi phí sản xuất, và đơn vị tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn mang tính
định hớng cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm. Hay nói cách khác, việc xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
là khâu đầu tiên cần thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất. Nếu xác định
đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đúng đắn phù hợp với tổ chức đúng đắn
đợc công tác hạch toán chi phí từ khâu ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài
khoản ,định khoản vào sổ chi tiết theo đúng đối tợng hạch toán. Còn việc xác
định đợc giá thành đơn vị là căn cứ để mở các phiếu tính giá thành sản phẩm
tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm theo đúng đối tợng phục vụ cho quá
trình kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, tính toán
hiệu quả xác định thu nhập.
Mối quan hệ giữa đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá
thành có liên quan
Giữa đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó đợc thể hiện là chi phí sản xuất đã
tập hợp trong kỳ theo từng đối tợng là cơ sở và căn cứ để tính giá thành sản
phẩm, cho từng đối tợng tính giá thành có liên quan .
Trình tự tập hợp chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất nội
dung, mục đích khác nhau. Khi phát sinh trớc hết chi phí sản xuất đợc biểu
hiện theo yếu tố chi phí rồi mới đợc biểu hiện thành các khoản mục tính giá
thành.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét