Đề án môn học kiểm toán
1.3. Đặc trưng của từng loại hình kiểm toán được phân
chia theo bộ máy tổ chức.
1.3.1. Kiểm toán Nhà nước.
1.3.1.1. Khái niệm.
Sự hình thành, ra đời và phát triển của kiểm toán Nhà nước gắn liền với sự
hình thành, ra đời và phát triển của tài chính công mà chủ yếu là ngân sách
nhà nước, xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chi
tiêu ngân sách và công quỹ quốc gia từ phía Nhà nước.
Do vậy có thể hiểu: “ Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn
của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công”.
1.3.1.2. Đặc trưng của kiểm toán Nhà nước
Từ ngày 11 tháng 7 năm 1994, kiểm toán Nhà nước được chính thức thành
lập theo nghị định 70/CP của chính phủ với chức năng “xác định tính đúng
đắn của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước,
các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần
chúng, các tổ chức xã hội sử dụng ngân sách nhà nước cấp” (trích điều 1 của
nghị định 70/CP). Do vậy kiểm toán nhà nước có những đặc trưng như sau:
• Về cơ cấu tổ chức: Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về kiểm
tra tài chính nhà nước do quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật. Kiểm toán nhà nước được tổ chức và quản lý tập
trung thống nhất, gồm bộ máy điều hành, kiểm toán nhà nước chuyên
ngành, kiểm toán nhà nước khu vực và các đơn vị sự nghiệp.Đội ngũ
cán bộ, công chức kiểm toán viên( KTV) đều được đào tạo có hệ thống
trong đó cán bộ có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên chiếm tỷ lệ là
91,6%, đặc biệt đội ngũ KTV 100% đều tốt nghiệp đại học trở lên. Cán
bộ được tuyển dụng đều đảm bảo tiêu chuẩn về nghiệp vụ chuyên môn,
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
5
Đề án môn học kiểm toán
phẩm chất đạo đức, nhiệt tình, tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm
trong thực hiện nhiệm vụ. Nhiều cán bộ ngoài việc thực hiện tốt nhiệm
vụ còn dành thời gian theo học các lớp chuyên môn nghiệp vụ và các
kiến thức bổ trợ khác như ngoại ngữ, vi tính, theo học các khoá đào tạo
thạc sĩ, đại học bằng hai.
• Về đối tượng kiểm toán: Là tất cả các cơ quan nhà nước, các đơn vị
hành chính sự nghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần
chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp.
được chia làm hai loại:
- Loại 1: Các đối tượng bắt buộc kiểm toán – là các cơ quan nhà
nước và các đơn vị có sử dụng 50% vốn nhà nước trở lên
- Loại 2: Các đối tượng kiểm toán được lựa chọn- là các đối tượng
có sử dụng một phần ngân sách nhà nước.
• Về tiêu chí kiểm toán: Thực hiện theo 4 tiêu chí sau: tính chính xác, tính
tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu quả của đối tượng kiểm toán. Cụ thể
báo cáo kiểm toán của KTNN xác nhận về tính đúng đắn, trung thực
của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách, đánh giá tính tuân
thủ pháp luật, tính kinh tế , tính hiệu lực. tính hiêụ quả trong quản lý, sử
dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.( khoản 1 điều 9)
• Các lĩnh vực kiểm toán: Ngân sách, tài sản nhà nước, khu vực công
cộng, thuế, công trình công ích.
1.3.2. Kiểm toán độc lập
1.3.2.1.Khái niệm
Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác định của KTV chuyên nghiệp thuộc
các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu
kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức,
đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này.
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
6
Đề án môn học kiểm toán
1.3.2.2.Những đặc trưng của kiểm toán độc lập.
Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
Nước, các hoạt động đa dạng và nền kinh tế đòi hỏi phải có dịch vụ tốt. Để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, ngày 13/05/1991 Bộ Tài
Chính thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty Kiểm Toán Việt
Nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kinh tế và kiểm toán
(AASC) .
* Hình thức tổ chức của các công ty Kiểm Toán ở Việt Nam bị chi phối bởi
hình thức sở hữu công ty:
+Đối với các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước, tổ chức phụ
vào cơ chế quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trong đó
giám đốc - người đứng đầu công ty do cơ quan thành lập bổ nhiệm (Bộ Tài
Chính , UBNDTP). Các cấp quản lý bao gồm trưởng phòng, phó phòng.Trong
ban giám đốc có giám đốc và các phó giám đốc. Nếu công ty có chi nhánh
hoặc các đại diện ở các địa phương khác sẽ có giám đốc ,phó giám đốc chi
nhánh ,trưởng phòng, phó phòng tại chi nhánh và trưởng đại diện VP đại
diện. Cách thức tổ chức tại các công ty này theo chức danh và cơ cấu hành
chính. Số lượng các cấp quản lý phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu tài chính của
công ty. Số lượng các cấp quản lý phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức của
công ty. Trách nhiệm công việc và tổ chức hoạt động theo chức danh quản lý.
Ban giám đốc và kế toán trưởng thuộc biên chế của Nhà nước và là đại diện
chủ sở hữu của nhà nước tại công ty. Các nhân viên khác kể cả các cấp quản
lý đều có hợp đồng lao động với công ty.
+Đối với các công ty kiểm toán vốn nước ngoài: Các công ty này đều
thuộc các công ty kiểm toán quốc tế, do vậy về cơ cấu tài chính giống như các
công ty quốc tế. Tuy nhiên vì là công ty được thành lập theo luật đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam, thuộc hình thức công ty TNHH nên về tổ chức hành chính
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
7
Đề án môn học kiểm toán
ở các công ty này vẫn có chức danh Giám đốc và là đại diện pháp lý của công
ty về các vấn đề hành chính của các cơ quan chức năng cũng như trong các
hoạt động KT. Mặc dù vậy trong hoạt động điều hành của công ty sẽ theo hệ
thống quản lý của công ty mẹ.
+Đối với các công ty TNHH trong nước: hình thức sở hữu tư nhân,
Giám đốc công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có chứng chỉ
Kiểm toán viên và sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động
của công ty.
* Hoạt động của các tổ chức kiểm toán độc lập ởViệt Nam:
(1) Công ty kiểm toán 100% vốn nước ngoài chuyên phục vụ các
khách hàng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án quốc
tế. Khách hàng của nó là các khách hàng lớn, có công ty mẹ ở nước ngoài.
(2) Công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có khách hàng
đa dạng:
>doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
>dự án quốc tế
> doanh nghiệp nhà nước
>công ty TNHH
>công ty tư nhân
>công ty cổ phần
> công ty nà nước
* Lĩnh vực hoạt động của kiểm toán độc lập chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài
chính. Ngoài ra, theo yêu cầu cầu của khách hàng, kiểm toán độc lập còn có
thể thực hiện các cuộc kiểm toán, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch
vụ tư vấn tài chính khác.
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
8
Đề án môn học kiểm toán
1.3.3. Kiểm toán nội bộ
1.3.3.1. Khái niệm
Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuât phát từ những lý do khách
quan của nhu cầu quản lý, của bản thân các đơn vị và tổ chức kinh tế. Do vậy
kiểm toán nội bộ là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ trong phạm
vi đơn vị, phục vụ nhu cầu quản lý nội bộ đơn vị. (Giáo trình lý thuyết kiểm
toán)
1.3.3.2 Đặc trưng của kiểm toán nội bộ
Phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động của đơn vị ở tất
cả các cấp quản lý khác nhau. Kiểm toán nội bộ xem xét, đánh giá và báo cáo
về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ và những thông tin, tài liệu và
báo cáo kế toán, đưa ra những phân tích, kiến nghị, tư vấn mang tính chuyên
nghiệpđể các nhà quản lý có cơ sở tin cậy trong việc quản lý các hoạt động
của đơn vị, hướng tới hiệu quả, chất lượng và phù hợp với các quy tắc và chế
định của pháp luật. Lĩnh vục chính của kiểm toán nội bộ là kiểm tra hoạt
động, sau nữa là kiểm toán tuân thủ chứ không phải là kiểm toán báo cáo tài
chính doanh nghiệp.
Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cưỡng chế theo yêu cầu của lãnh
đạo, giám đốc (hội đồng quản trị) đối với các doanh nghiệp, đơn vị, hoạt động
dưới quyền.
Theo yêu cầu quản lý của thủ trưởng đơn vị, kiểm toán nội bộ là hoạt động
không thu phí với các đơn vị, bộ phận trực thuộc được kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ có mục đích là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn
thiện các hoạt động ở các đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu
quả sử dụng vốn và hiệu quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh và hoạt
động sản xuất, khắc phục những khâu yếu, giúp thủ trưởng đơn vị phát hiện,
ngăn chặn và xử lý các gian lận và sai sót trong hoạt động quản lý của đơn vị.
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
9
Đề án môn học kiểm toán
Tuy kiểm toán nội bộ được tổ chức độc lập với những bộ phận được kiểm tra,
nhưng kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị, không thể độc lập hoàn
toàn với đơn vị đó được. Vì vậy, các báo cáo của kiểm toán nội bộ dù được
chủ doanh nghiệp tin tưởng song không có giá trị pháp lý ở bên ngoài
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
10
Đề án môn học kiểm toán
Phần hai
Thực trạng hoạt động của ba loại hình kiểm toán trên tại
Việt Nam
2.1. Thực trạng của hoạt động kiểm toán Nhà nước.
Với chức năng của mình kiểm toán Nhà nước đã góp phần nâng cao chất
lượng, độ tin cậy của hệ thống tài chính kế toán,chỉ ra các sai phạm yếu kém
các sơ hở trong quản lý tài chính giúp Nhà nước,các đơn vị hiểu rõ hơn thực
trạng công tác quản lý tài chính, tuân thủ và chấp hành pháp luật, kỷ luật tổ
chức, sử dụng và bảo vệ nguồn lực quốc gia, nguồn vốn của nhà nước.Thông
tin và kết luận của KTV nhà nước đã cung cấp cho Chính phủ, Quốc hội được
dùng làm căn cứ ra các quyết định ở tầm vĩ mô và giám sát các hoạt động tài
chính, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, kết quả trên còn ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng yều cầu của
chính phủ và quốc hội. Kiểm toán chưa khẳng định một cách thật đầy đủ,
khách quan về mức độ tin cậy của số liệu kế toán. Điều này là do chất lượng
kiểm toán nhà nước còn có nhiều bất cập vì:
- Chưa có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn, sự phân công và
cơ chế phối hợp qiữa các vụ cơ quan chức năng của KTNN với KTNN
chuyên ngành và khu vực trong việc quản lý họat động kiểm toán từ khâu lập
kế hoạch kiểm toán đến khâu lập báo cáo kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm
toán và kiểm tra thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán, nhất là khâu khảo
sát, lập kế hoạch kiểm toán.
- Thiếu thông tin cần thiết để kiểm tra, soát xét chất lượng công tác khảo sát
lập kế hoạch kiểm toán. Chủ yếu dừng lại ở kiểm tra việc xác định thời gian
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
11
Đề án môn học kiểm toán
kiểm toán và lựa chọn đơn vị được kiểm toán, thiếu căn cứ để kiểm tra xem
xét về mục tiêu, nôi dung kiểm toán.
- Kiểm tra, kiếm soát chất lượng kiểm toán chủ yêú dựa trên dự thảo báo cáo
kiểm toán, chưa có đủ nhân lực và thông tin cần thiết để kiểm tra nguồn số
liệu, tài liệu làm căn cứ lập báo cáo kiểm toán.
- Trình tự,thủ tục tiến hành kiểm toán, soát xét còn rườm rà, trùng lắp, khâu
sau chưa có khả năng kiểm tra, loại bỏ sai sót ở khâu trước.
2.2. Thực trạng hoạt động kiểm toán độc lập
Trải qua 15 năm hoạt động và phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập đã đạt
được những thành công khá cơ bản và đáng khích lệ.
Một là: Nhận thức về vai trò, vị thế của kiểm toán độc lập ngày càng được
khẳng định trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Từ loại hình hoạt động chưa hề có ở Việt Nam, ngày nay kiểm toán độc lập đã
được xã hội thừa nhận như một nhu cầu tất yếu, góp phần duy trì và phát triển
nghề nghiệp kiểm tóan, kế toán Việt Nam.Hoạt động kiểm toán độc lập đã
góp phần tích cực trong việcđánh giá, kiểm tra, xác nhận tình trạng tài chính
của doanh nghiệp.
Hai là: Hoạt động kiểm toán độc lập đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư
thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy đầu tư, đặc biệt đầu tư từ nước ngoài.
Ba là: Đã hình thành đội ngũ KTV hành nghề chất lượng ngày càng nâng cao.
Từ năm 1994 đến nay, Bộ Tài chính tổ chức 11 kỳ thi tuyển KTV quốc gia, đã
công nhận và cấp chứng chỉ KTV cho 1234 người. Hiện trong số này có 120
người đạt trình độ quốc tế, có chứng chỉ KTV quốc tế, chiếm 10% KTV cả
nước. Theo thống kê năm 2006 có 868 người đang làm việc tại các công ty
kiểm toán, cung cấp 20 loại hình nghiệpvụ chuyên môn.
Bốn là: Kiểm toán phát triển nhanh cả về chất và lượng. Đến nay cả nước có
gần 100 công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán, trong đó có 3 công ty nhà
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
12
Đề án môn học kiểm toán
nước, 4 công ty có 100% vốn nước ngoài( là các công ty kiểm toán lớn của
thế giới), 16 công ty hợp danh, 14 công ty cổ phần, còn lại là các công ty
trách nhiệm hữu hạn. Nhà nước đã công nhận 87 công ty đủ điều kiện hành
nghề.
Năm là: Với tư cách là hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực tài chính, kiểm toán
độc lập đã góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường dịch vụ tài
chính, tiền tệ mở cửa và hội nhập.Tổng doanh thu của các công ty kiểm toán
hoạt động ở Việt Nam hàng năm đã tăng đáng kể, riêng năm 2005 đã đạt xấp
xỉ 550 tỷ đồng, tạo hàng nghìn chỗ làm việc cho các sinh viên mới tốt nghiệp.
Thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán đã hình thành, sẵn sàng gia nhập thị
trường khu vực và thế giới.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đã đạt được vẫn còn tồn tại những vấn
đề cần giải quyết như: Chất lượng của hoạt động kiểm toán độc lập, số lượng
và chất lượng của đội ngũ KTV, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh,
khong minh bạch trên thị trường dịch vụ tài chính kế toán, kiểm toán của Việt
Nam.
So với sự phát triển của nền kinh tế, với nhu cầu hiện nay thì số lượng KTV
chưa nhiều và chất lượng chưa đảm bảo và chưa đồng đều, chưa đáp ứng
được các yêu cầu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế . Không những
thế số lượng KTV có trình độ nghiệp vụ chuyển ngành nghề không ít. Điều
này làm cho đội ngũ KTV đã thiếu lại càng thiếu hơn cả về số lượng và chất
lượng.
2.3. Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ
Từ khi ban hành quyết định số 832- TC/QĐ-CĐKT ngày 28/10/1997, kiểm
toán nội bộ(KTNB) ở nước ta đã có sự phát triển nhất định, có những bước đi
thăng trầm với nhiều kết quả nhưng cũng không ít những khó khăn phức tạp
và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục. Thực tế thông qua khảo sát ở các tập
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
13
Đề án môn học kiểm toán
đoàn, tổng công ty lớn như Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Tổng công ty
hàng không, Tổng công ty điện lực, Tổng công ty Dầu khí, Tổng công ty xăng
dầu Việt Nam và một số những công ty độc lập khác thì những nhận thức
đánh giá và cách thức tổ chức KTNB có sự khác nhau. Các đơn vị đều biết vị
trí vai trò, tầm quan trọng của thông tin trong quá trình quản lý cũng như
KTNB. Tuy nhiên, một số đơn vị đã có tổ chức KTNB và hoạt động được một
số năm sau đó lại giải thể hoặc thu hẹp nội dung và phạm vi hoạt động( các
tổng công ty nêu ở trên đều đã thành lập phòng KTNB từ năm 1997- 1998,
nhưng đến nay nhiều đơn vị đã giải thể bộ phận này và ghép trở lại bộ phận
kiểm tra của phòng kế toán). Điều đó nói lên KTNB chưa định hình một cách
chắc chắn, cũng như chưa được thứa nhận một cách rộng rãi ở các đơn vị.
Thông qua khảo sát thực tiễn về KTNB ở nước ta, một điều thừa nhận rất phổ
biến hiện nay là KTNB hoàn toàn hình thành dựa trên nền tảng công tác kiểm
tra kế toán trước đây. Các quy định về KTNB cũng được dựa trên các quy
định về kiểm tra kế toán.
Những hạn chế cơ bản của KTNB ở các đơn vị hiện nay là:
Một là: nhiều đơn vị chưa nhận thức đúng đắn về KTNB cũng như chưa nhận
thấy rõ tính thiết thực, vai trò của KTNB, nên các đơn vị này chưa tập trung
tổ chức KTNB, chưa xác định rõ mô hình, cách thức tổ chức và hoạt động
hiệu quả.
Hai là: nội dung KTNB ở nhiều đơn vị chưa đi đúng vào bản chất, trọng tâm
và chưa đúng với nhiệm vụ và chức năng cơ bản của KTNB đó là kiểm toán
hoạt động với chức năng tư vấn là chủ yếu.
Ba là: hình thức và phạm vi kiểm toán nội bộ vẫn mang một thói quen như
kiểm tra kế toán. Vẫn chủ yếu thực hiện kiểm tra sau hoạt động xảy ra và chỉ
tập trung vào những bộ phận nội dung, chỉ tiêu chứa đựng nhiều sai phạm với
rủi ro cao.
Nguyễn Thị Bích Hồng - Kiểm toán 45b
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét