Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

183 Hoàn thiện công tác Kế toán tập hợp chi phí sửa chữa & tính giá thành dịch vụ sửa chữa ở Công ty Cổ phần vận tải ô tô Nam Định

thuần các loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục
đích gì. Tổng chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình
cung cấp (chi mua vật t, hàng hoá, tài sản cố định, ), chi tiêu cho quá trình sản xuất
(chi cho sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ, ), chi cho quá trình
tiêu thụ và quản lý (chi cho bán hàng, quản lý doanh nghiệp, ).
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.
Tổng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí
hoặc tiêu dùng cho quá trình sản xuất trong kỳ đó. Ngoài sự khác nhau về lợng, chi
phí và chi tiêu còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhng cha
đợc tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhâp kho cha đa vào sử dụng, )
hay có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha chi tiêu (chi phí trích
trớc). Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức
dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật
hạch toán chúng.
1.2) Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dụng kinh tế khác
nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau.
Vì vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí
sản xuất cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Tuỳ vào mục đích và yêu cầu
quản lý mà chi phí sản xuất đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy
nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thờng đợc phân theo các tiêu thức sau:
a) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng
nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc
phân theo nội dung và tính chất kinh tế. Theo cách phân loại này, những chi phí sản
xuất nào giống nhau về tính chất và nội dung kinh tế thì đợc xếp vào một yếu tố chi
phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu
và mục đích hoặc tác dụng của chi phí đó là gì. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi
5
là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ của
doanh nghiệp đợc chia thành các yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, sử dụng vào sản xuất - kinh
doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với
nhiên liệu, động lực).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất - kinh doanh trong
kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Phản ánh tổng số tiền lơng và phụ
cấp lơng phải trả công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
và phụ cấp lơng phải tra công nhân viên chức.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ
của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất - kinh doanh.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất - kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền cha
phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất - kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại này có tác dụng đối với việc xây dựng và phân tích định mức
vốn lu động và cho biết kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để đánh giá
tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố trên
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, cách phân loại này còn cung cấp
thông tin làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau.
b) Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí:
Mỗi chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công dụng nhất định
đối với hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này. những chi phí có cùng mục
đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nh thế nào, sẽ tạo
thành một khoản mục chi phí. Vì lẽ đó, cách phân loại này còn đợc gọi là phân loại
chi phí sản xuất theo khoản mục. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ tại đơn
vị đợc chia thành các khoản mục sau:
6
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm
hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ (không tính vào khoản mục này chi phí nguyên vật
liệu sử dụng vào mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất).
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp lơng và tiền
trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất (không tính vào khoản
mục này số tiền lơng, phụ cấp lơng và tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân
viên quản lý phân xởng, nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp).
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xởng
(trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp), chi phí sản xuất
chung gồm có:
+Chi phí nhân viên phân xởng
+Chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng chung cho hoạt động sản xuất của
phân xởng.
+Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng tại phân xởng.
+Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chung cho phân xởng.
+Chi phí bằng tiền khác phục vụ cho yêu cầu sản xuất chung ở phân xởng.
Ngoài ra, để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ thì theo quy định hiện
hành, giá thành sản phẩm bao gồm năm khoản mục :
- Ba khoản mục nêu trên: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
-Chi phí bán hàng: Là những chi phí mà doạnh nghiệp bỏ ra có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ nh chi phí nhân viên
bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo,
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí phát sinh có liên quan
chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra đợc cho
bất kỳ hoạt động nào, bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và
chi phí chung khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng có tác dụng phục vụ cho
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính
7
giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm cho
kỳ sau.
c) Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm
hoàn thành:
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để
đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại đợc phân
theo quan hệ với khối lợng sản phẩm hoàn thành. Theo cách phân loại này chi phí
sản xuất đợc chia làm hai loại:
- Chi phí khả biến (biến phí): Là những chi phí có sự thay đổi về lợng trong
quan hệ tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lợng sản phẩm (lao vụ, dịch vụ) sản
xuất (thực hiện) trong kỳ. Thuộc loại chi phí này có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
và chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí không thay đổi kể cả khi có sự
thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hay khối lợng sản phẩm (lao vụ, dịch
vụ) sản xuất (thực hiện) trong kỳ.
Nh vậy, chi phí khả biến tính cho một đơn vị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ là không
đổi nhng tổng chi phí khả biến thì thay đổi tỷ lệ thuận, còn tổng chi phí cố định thì
không đổi nhng chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ thì
biến đổi ngợc chiều với khối lợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong quản trị kinh doanh, giúp xác định
đợc điểm hoà vốn và đa ra các quyết định có tính chiến lợc để hạ thấp giá thành sản
phẩm, tăng khối lợng tiêu thụ và tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
d) Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và
mối quan hệ với đối tợng chịu chi phí:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp đợc chia thành hai
loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến việc sản
xuất ra một loại sản phẩm hoặc thực hiện một lao vụ, dịch vụ nào đó và có thể tính
trực tiếp cho từng đối tợng chịu phí.
8
- Chi phí gián tiếp: Là nhng chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất
nhiều loại sản phẩm, thực hiện nhiều lao vụ, dịch vụ và không thể ghi trực tiếp mà
phải phân bổ cho các đối tợng chịu phí theo tiêu thức phù hợp.
2) Giá thành sản phẩm:
2.1) Khái niệm:
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình tiêu tốn các chi phí
sản xuất. Kết thúc quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu đợc các sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành. Các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ này đợc sản xuất ra là để tiêu thụ
với mục đích thu đợc một khoản tiền mà sau khi bù đắp các chi phí sản xuất hình
thành nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đó doanh nghiệp vẫn có lãi.
Nh vậy, giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng sản phẩm
hoặc đơn vị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành. Hay giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh
nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Nh vậy, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất. Nó còn là căn cứ để xác định mức bù đắp những gì mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và là căn cứ để xây
dựng, để đánh giá hiệu quả của các biện pháp kinh tế kỹ thuật doanh nghiệp áp dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp cũng đợc phản ánh qua chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
2.2) Phân loại giá thành sản phẩm :
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán hoá giá thành cũng
nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ,
nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Nhng có hai cách phân loại giá thành chủ yếu
sau:
9
a) Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành:
Theo cách phân loại này, giá thành đợc chia làm ba loại:
- Giá thành kế hoạch:
Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế
hoạch và sản lợng kế hoạch. Việc tính toán giá thành kế hoạch đợc tiến hành trớc
khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện.
Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để so sánh, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ thấp giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức:
Giá thành định mức là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở các định mức chi
phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Giống nh giá thành kế hoạch,
giá thành định mức cũng đợc tính toán trớc khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là th-
ớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật t, lao động, tiền vốn trong
sản xuất.
- Giá thành thực tế:
Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ và sản phẩm thực tế đã sản xuất ra
trong kỳ. Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ có thể tính toán đợc
sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc áp dụng
các giải pháp kinh tế - tổ chức- kỹ thuật vào quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định
nguyên nhân vợt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế
hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
b) Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành sản phẩm đợc chia thành:
- Giá thành sản xuất (Giá thành công xởng):
10
Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất nh chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính
cho những sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm
đợc dùng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách
hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và
lãi gộp của doanh nghiệp sản xuất.
- Giá thành toàn bộ (Giá thành tiêu thụ):
Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng
thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hoàn
thành và đã đợc tiêu thụ. Chỉ khi nào sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đợc tiêu thụ thì mới
xác định đợc giá thành toàn bộ. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính
toán, xác định lãi trớc thuế lợi tức của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh doanh (lãi, lỗ)
của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
3) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không phải là hai khái niệm đồng nhất
nhau, nhng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng là hai mặt của quá trình sản
xuất, chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản
ánh mặt kết quả sản xuất.
Về chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm giống nhau, tức
là đều tiêu hao yếu tố lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra cho
hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành, sự tiết kiệm hay lãng phí về chi phí sản
xuất có ảnh hởng tực tiếp đến giá thành sản phẩm hạ hay tăng.
Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có những mặt khác nhau:
- Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất đinh, còn giá thành
sản phẩm lại gắn với khối lợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ.
- Về mặt lợng: Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm
hoàn thành, sản phẩm dở dang và sản phẩm hỏng mà không có chi phí sản xuất đã
phát sinh ở kỳ trớc và chi phí cha phát sinh ở kỳ này, còn giá thành sản phẩm chỉ
bao gồm các chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành, nó chứa cả một phần chi
11
phí sản xuất kỳ trớc chuyển sang (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ) mà không có chi
phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Ngoài ra giá thành sản phẩm còn có thể bao gồm một
phần chi phí thực tế đã phát sinh đợc phân bổ vào kỳ này (chi phí trả trớc) hoặc một
phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau nhng đã đợc ghi nhận là chi phí của kỳ này
(chi phí phải trả).
II) Hạch toán chi phí sản xuất :
1) Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Để thực hiện đợc mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất, doanh nghiệp phải thực
hiện nhiều biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp đó là phải tính đúng,
tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm. Trong khi đó, chi phí sản xuất của
doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau,
dùng để sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau theo quy trình công nghệ khác nhau.
Do đó, để tổ chức tốt công tác hạch tóan chi phí sản xuất thì công việc đầu tiên
là xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất cho phù hợp với điều kiện hiện tại
của doanh nghiệp và thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra. Khi xác định đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất cần dựa vào các cơ sở sau:
- Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ đang áp dụng tại doanh nghiệp.
- Loại hình sản xuất của doanh nghiệp.
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Nơi phát sinh chi phí.
- Trình độ nhân viên kế toán và yêu cầu quản lý của đơn vị.
Từ những căn cứ trên, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là:
- Sản phẩm hay bộ phận chi tiết sản phẩm
- Phân xởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
- Đơn đặt hàng
- Giai đoạn, bớc công nghệ hay toàn bộ quy trình công nghệ
Trên cơ sở đối tợng hạch toán chi phí sản xuất, kế toán lựa chọn phơng pháp
hạch toán chi phí sản xuất thích hợp. Các phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất th-
ờng đợc sử dụng là:
- Hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo bộ phận, chi tiết sản phẩm.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh chi phí hay theo phân xởng.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng - mỗi đơn đặt hàng là một đối t-
ợng hạch toán chi phí sản xuất.
- Hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ.
12
Mỗi phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất chỉ thích ứng với một loại đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất nên tên gọi của các phơng pháp này là biểu hiện đối tợng
mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
2) Hạch toán chi phí sản xuất :
2.1) Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a) Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Khái niệm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, đợc sử dụng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm. Đối với chi
phí nguyên vật liệu có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng
biệt (phân xởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, ) thì hạch toán
trực tiếp cho đối tợng đó. Trong trờng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên
quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí, không thể hạch toán riêng đợc thì phải tiến
hành phân bổ chi phí cho các đối tợng liên quan. Tiêu thức phân bổ thờng đợc sử
dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lợng, theo số lợng
sản phẩm, và phân bổ theo công thức sau:
Chi phí nguyên vật liệu phân
bổ cho từng đối tợng
=
Tổng chi phí vật liệu
cần phân bổ
x
Tỷ lệ (hay hệ số)
phân bổ
Trong đó:
Tỷ lệ (hay hệ số)
phân bổ
=
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tợng
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tợng
Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621-
"Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp". Tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng đối tợng
hạch toán chi phí. Nội dung của TK 621 nh sau:
- Bên Nợ: Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay thực
hiện lao vụ, dịch vụ.
- Bên Có: + Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng không hết
+ Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp.
TK621 cuối kỳ không có số d.
Phơng pháp hạch toán:

13
TK151,152,331,
111,112,411,311, TK621 TK154
TK152
Vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản
phẩm, tiến hành lao vụ, dịch vụ
Kết chuyển chi
phí nguyên vật
liệu trực tiếp
Vật liệu dùng không hết
nhập kho hay chuyển kỳ sau
TK1331
VAT được khấu
trừ (nếu có)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phư
ơng pháp kê khai thường xuyên
b) Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp
kiểm kê định kỳ:
Đặc điểm của phơng pháp kiểm kê định kỳ là không theo dõi sự biến động của
nguyên vật liệu một cách thờng xuyên liên tục mà cuối kỳ mới thực hiện kiểm kê và
xác định giá trị của hàng tồn kho. Từ đó xác định giá trị của nguyên vật liệu xuất
dùng trong kỳ theo công thức:
Giá trị nguyên vật
liệu xuất dùng
trong kỳ
=
Giá trị nguyên
vật liệu tồn đầu
kỳ
+
Giá trị nguyên
vật liệu nhập trong
kỳ
-
Giá trị nguyên
vật liệu tồn cuối
kỳ
Để phản ánh chi phí vật liệu đã xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện
lao vụ, dịch vụ, kế toán cũng sử dụng TK621 - "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp",
nhng các chi phí phản ánh trên tài khoản này không ghi theo từng chứng từ xuất
dùng nguyên vật liệu mà đợc ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán sau khi tiến hành
kiểm kê và xác định đợc giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đờng. Do đó, kết
cấu của TK621 trong trờng hợp này là:
- Bên Nợ: Giá trị nguyên vật liệu đã xuất dùng cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ.
- Bên Có: Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ
TK621 cuối kỳ không có số d và đợc mở theo từng đối tợng hạch toán chi phí.
Phơng pháp hạch toán :
14
Kết chuyển giá trị vật liệu cha
dùng đầu kỳ
TK111,112,
331,311,411,
.
TK611 TK621
TK631
TK151,152
Giá trị vật liệu
tăng trong kỳ
Giá trị vật liệu dùng
chế tạo sản phẩm
hay thực hiện dịchvụ
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Giá trị vật liệu chư
a dùng
VAT đư
ợc khấu
trừ (nếu
có)
TK1331

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét