Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên của hiệu trưởng các trường THPT huyện thuộc TP Cần Thơ





đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như: còn
mang tính hình thức chưa đi sâu vào chất lượng, GV chưa chủ động được về thời
gian, chế độ và điều kiện bồi dưỡng chưa phù hợp…Muốn công tác này đạt hiệu
quả cao cần có những thay đổi được định hướng từ nghiên cứu thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu để thiết lập cơ sở lý luận c
ho đề tài.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng
NVSP cho GV của Hiệu trưởng các trường TH
PT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện
nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài để làm cơ sở lý luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.
1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng công tác quản l
ý
hoạt động bồi dưỡng NVSP của Hiệu trưởng các trường THPT thuộc địa bàn nghiên
cứu.
6.2.
2. Phương pháp toán thống kê
Dùng để xử lý các kết quả nghiên cứu thu thập từ các phương pháp trên.
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP
cho GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt của
TP. Cần Thơ hiện na
y, cụ thể là: Trường THPT Thạnh An, Trường THPT Bán công
Thạnh An, Trường THPT Thốt Nốt, Trường THPT Bán công Thốt Nốt và Trường
THPT Trung An.






Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV THPT trong nước
1.1.1.1. Sơ lược hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV trong nước
Từ năm 1993, Bộ GD - ĐT tổ chức các chương trình BDTX theo chu kỳ 3
năm cho GV THPT. Bộ GD - ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ
BDTX 1993 - 1996; chu kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ BDTX 2001- 2004.
Tháng 5/2006 Bộ GD - ĐT đã sớm
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV dạy
lớp 10 theo CT – SGK mới theo quy trình 2 cấp: Bộ GD-ĐT giao cho các trường
(khoa) ĐHSP trực tiếp bồi dưỡng GV cốt cán các môn học của các địa phương và
các Sở GD - ĐT sử dụng đội ngũ GV cốt cán các môn học tổ chức bồi dưỡng cho
tất cả GV thực hiện CT – SGK mới.
Về nội dung bồi dưỡng GV, ngoài việc nắm vững CT – SG
K, còn chú ý bồi
dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và sử dụng
thiết bị dạy học, phương pháp dạy các bài học có thí nghiệm, thực hành. Tuy nhiên,
trong đánh giá tình hình thực hiện phân ban THPT trong năm đầu triển khai đại trà
của Viện Chiến lược và Chương trình GD khi nhận định về các điều kiện thực hiện
dạy học phân hóa, phần chất lượng bồi dưỡng G
V có nêu: “còn một số bất cập
trong công tác bồi dưỡng GV như nội dung tập huấn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu
của GV; phân phối chưa hợp lý giữa thời gian bồi dưỡng kiến thức chuyên môn với
thời gian giải quyết các thủ tục hành chính; một số GV cốt cán đi tập huấn về nhìn
chung chưa đủ năng lực để giải đáp đầy đủ các khúc mắc cho đồng nghiệp”[6,tr 34].
Ngày 8-10-2007, tại Kiên Giang, các Đại b
iểu GD của các tỉnh, thành
ĐBSCL đã tập trung thảo luận nhiều biện pháp triển khai sâu rộng cuộc vận động
“hai không”do Bộ GD- ĐT phát động. Trong đó, đổi mới phương pháp giảng dạy,
nâng chất đội ngũ GV được xem là khâu đột phá…Trước tình hình này, các địa




phương đã tìm lối đi cho riêng mình: Tỉnh Tiền Giang thực hiện chuẩn hóa GV theo
lộ trình: năm nay, sở yêu cầu GV bậc THPT ở Tiền Giang phải có chứng chỉ A tin
học. Năm sau, tỉnh sẽ tiếp tục yêu cầu bằng B ngoại ngữ, bên cạnh các giải pháp
chuẩn hóa toàn diện GV. Cần thơ, Cà Mau, Đồng Tháp khẩn trương bồi dưỡng giáo
viên theo hướng ưu tiên đào tạo vượt chuẩn, đào tạo GV sau đại học dù việc học
gặp không ít khó khăn. Bến Tre đang xâ
y dựng kế hoạch đào tạo sau đại học cho
cán bộ, GV. Củng cố toàn diện các trường THPT, nâng chất đội ngũ GV gắn với cải
cách GD theo hướng hiện đại. An Giang đào tạo theo hướng: GV phải có bản lĩnh tu
dưỡng để tự “chấn chỉnh” bản thân [11].
1.1.1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động
bồi dưỡng
NVSP cho GV
Từ năm 1975 đề tài này chưa được quan tâm nghiên cứu có hệ thống. Rãi rác
có một vài nghiên cứu khoa học và một số bài viết liên quan đến công tác bồi dưỡng
GV:
Năm 1996, đề tài khoa học cấp Nhà nước “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ
nhân lực trong điều kiện mới” có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội
ngũ nhân lực, trong đó có bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV.
Năm
1997, tác giả Nguyễn Trí, Vụ GV - Bộ GD - ĐT có đề cập đến vấn đề
tự học trong đào tạo, bồi dưỡng GV.
Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức
hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông” Tạp chí Phát triển Giáo
dục số 1.
Năm
2001, Nguyễn Thị Tươi, trường ĐHSP Qui Nhơn với bài viết “Về công
tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV THPT”.
Năm 2002, trong Tạp Chí GD, tháng 11/2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến
vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”
Trong những năm gần đây thì có thể kể đến:
Đề tài Khoa học Công nghệ do Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng GV
(Viện Khoa học GD Việt Nam) thực hiện tr
ong ba năm đã tiến hành khảo sát thực




trạng đội ngũ GV, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nêu những vấn đề xây
dựng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu giai đoạn đổi mới hiện nay theo hướng: Cần đa
dạng hoá việc bồi dưỡng GV, coi trọng nhu cầu và hứng thú của người học, kết hợp
chặt chẽ với yêu cầu đổi mới GD; coi việc bồi dưỡng GV là trọng tâm, có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả và chất lượng GD. Để thực hiện đư
ợc
điều này, cần có những chế độ và chính sách hợp lý đối với GV, có đầy đủ kinh phí.
Tổ chức tốt công tác thanh tra chuyên môn GD và công tác quản lý GD, trước hết là
ban hành chính sách đối với GV, xem xét lại thang lương ngành GD, chính sách thu
hút GV công tác ở vùng có khó khăn, tăng kinh phí bồi dưỡng GV
“Phát triển chuyên môn - nghiệp vụ cho giảng viên đại học trong thời đại thông
tin” của tác giả Lưu X
uân Mới, Học viện Quản lý GD trong Tạp chí Khoa học GD,
số 23 tháng 8/2007 đã đề cập đến việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho người
GV thời hiện đại như là tất yếu khách quan và là chìa khóa then chốt để cải tiến chất
lượng dạy đại học và có xác định đến một số kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của GV
[32, tr. 41- 44].
Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV THPT hiện nay” ở
tạp chí GD
số 176 đã đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác
đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay, có đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng
đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý
nhiều đến các kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng
huy động c
ác nguồn lực từ phía GV. Cần bồi dưỡng cho Hiệu trưởng năng lực thiết
kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực
nhận biết, hiểu đối tượng GD và kỹ năng cơ bản trong sử dụng công CNTT trong
quản lý chuyên môn [29, tr. 15-16].
Trong chuyên đề báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện quyết định số 09/2005/QĐ
– TTg ngày 11/01/2005 của chính phủ về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và
CBQL GD giai đoạn 2005 – 2010” của Sở GD – ĐT TP. Cần Thơ vào
tháng 02/ 2008. Trong phần giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV, CBQL GD, có đề xuất: việc xây dựng quy hoạch, hoàn thiện




mạng lưới, xác định rõ quy mô, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo cần gắn với hoạt
động bồi dưỡng GV ở các cấp học, bậc học [12, tr. 35].
Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý GD của Võ Hoàng
Chương với đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
NVSP GV THCS huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” đã đề xuất các giải pháp: công
tác bồi dưỡng G
V cần tiến hành một cách có hệ thống, bắt đầu từ đội ngũ GV hiện
có và bằng chính đội ngũ này làm cho nó tự thân vận động theo mục tiêu đã định
với sự hỗ trợ bằng một hệ thống biện pháp đồng bộ từ việc triển khai có hiệu quả
chương trình BDTX, chỉ đạo hiệu quả việc thực hiện đổi mới phương pháp, tự bồi
dưỡng, tổng kết đưa vào ứng dụng thực tiễn các sáng kiến kinh nghiệm. Gắn việc
bồi dưỡng với phong trào thi GV giỏi các cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra GV.
Chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp và nâ
ng chuẩn GV. Có kế hoạch cụ thể sử
dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ việc dạy. Đồng thời với những
biện pháp trên là sự đổi mới thực sự công tác quản l
ý về chế độ, chính sách đãi ngộ
GV trong tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng [18].
Dự án phát triển GV THPT và TCCN đã tiến hành đề tài “Một số kết quả về
khảo sát thực trạng hoạt động nghề nghiệp và đánh giá GV THPT”có nhận định:
nhìn chung phần lớn GV chưa nhận thức đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của người
GV. Chỉ có 5,6% GV nhận thức đư
ợc 4 nhiệm vụ là dạy học, GD HS, giữ gìn phẩm
chất nhà giáo và phát triển chuyên môn nhưng không nêu được nhiệm vụ phối hợp
với các lực lượng trong và ngoài nhà trường và các chức năng XH khác. Còn đến
1/4 GV chỉ nắm được chương trình khối mình đang dạy. Hiểu biết về đặc điểm tâm
sinh lý của HS THPT rất hạn chế, có đến 1/5 không biết và đa phần GV chỉ có một
ý kiến về từng đặc điểm
riêng lẻ. Điều này sẽ là rào cản khi GV xử lý các tình
huống dạy học và GD HS. Về nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp, chuyên
môn nghiệp vụ thì hầu hết GV đều đánh giá cao về các kỹ năng rút ra được qua dự
giờ, các tri thức cần thiết từ đọc sách, tài liệu. Các kỹ năng cần hoàn thiện cho GV
chiếm tỉ lệ cao nhất bao gồm 2 nhóm kỹ năng: kỹ năng lập kế hoạch tự bồi dưỡng,
kỹ năng dạy học hướng và
o người học, kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động học




của HS, kỹ năng hình thành năng lực tự đánh giá cho HS. Đối với các GVCN là kỹ
năng GD HS cá biệt, kỹ năng nghiên cứu tìm hiểu HS, tổ chức các hoạt động GD
ngoài giờ lên lớp và kỹ năng vận dụng đặc điểm tâm sinh lý HS vào tổ chức hoạt
động. Kế đến là các kỹ năng phối hợp các lực lượng khác trong GD HS và sau cùng
là các kỹ năng tự bồi dưỡng. Hình thức GV bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phổ biến
nhất là tự học qua sách; trao đổi với đồng nghiệp; dự giờ…[8, tr. 56-59].
1.1.
2. Một số tài liệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV ở nước
ngoài
 Thái lan
Từ bồi dưỡng tập trung chuyển sang đào tạo – bồi dưỡng dựa vào nhà
trường. Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp GV đương
nhiệm thường đư
ợc tổ chức tập trung ở một thành phố. Các chương trình này
thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được đánh giá, kiểm tra liên
tục và GV phải nghỉ dạy để tham gia. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ GD Thái
Lan đã đưa ra một chương trình mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi
dưỡng GV đương nhiệm, được tiến hành ngay tại các cơ sở GD, gọi là đào tạo dựa
vào nhà trường (school
– based training).
Theo chương trình này, 4 dự án thí điểm đã được tiến hành, đó là: Dự án GV
Quốc gia; Dự án GV chủ chốt; Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo
dựa vào nhà trường và Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường. Các kết quả nghiên
cứu đã chứng minh rằng mô hình đào tạo này rất hiệu quả đối với GV nói riêng
cũng như đối với ngành sư phạm
nói chung, nó góp phần tạo nên những thành công
cho công cuộc cải cách học tập ở Thái Lan.
- Dự án GV chủ chốt :
Nhằm chọn lựa những GV có thể áp dụng thành công quan điểm lấy người
học làm trung tâm làm GV chủ chốt. Mỗi GV được trợ cấp 25.000 bạt để xây dựng
những mạng lưới (10 GV/ mạng lưới) trong 4 tháng để áp dụng các phương pháp
theo quan điểm lấy người học làm
trung tâm.
- Dự án GV Quốc gia (national teachers):




Nhằm chọn lựa được những GV có thể tiến hành nghiên cứu và triển khai
quá trình đổi mới dạy – học. Mỗi người được cấp 220.000 bạt người/năm để nghiên
cứu, triển khai và đào tạo khoảng 50 GV khác trong 3 năm.
Kết quả của 2 dự án cho thấy GV đã thay đổi được cách dạy, từ phương pháp
áp đặt chuyển sang phương pháp tích cực. Các GV chủ chốt và GV Quốc gia đã đào
tạo lại cho GV ở trường m
ình đáp ứng được những yêu cầu trong công tác dạy học
hằng ngày. Phương pháp đào tạo này tương tự phương pháp đào tạo GV đương
nhiệm ở các nước như Nhật Bản, Australia, New Zealand.
- Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo dựa vào nhà trường: Văn
phòng Hội đồng GD chọn 10 hội đồng nhà trường và cấp kinh phí để họ tiến hành
triển khai theo mô hình đào tạo dựa và
o nhà trường. Kết quả cho thấy 10 mô hình
đều thành công, các GV rất tích cực và HS thì rất thích thú. Ưu điểm của mô hình
này là tiết kiệm được chi phí so với cách đào tạo tập trung.
- Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường: nhằm phát triển GV đương nhiệm và
thúc đẩy quá trình cải cách dạy học được tiến hành vào năm 2003 – 2004 với mục
tiêu là lựa chọn 274 GV, mỗi GV này được cấp 25.000 bạt để đào
tạo các GV khác
trong trường mình hoặc trường lân cận. Để thành công Hiệu trưởng cần hỗ trợ và
tạo điều kiện cho các GV này và coi họ là những người đi đầu trong việc đổi mới
phương pháp dạy học.
 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận
và phương pháp luận về GD để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp
học. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu
trưởng, P
hó hiệu trưởng, GV, cán bộ thư viện, GV điều dưỡng…Bồi dưỡng GV
thường có 2 loại: bồi dưỡng lấy chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Mỗi
chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 30 ngày (180 giờ) hoặc lâu hơn. Chương
trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn
thảo chương trình giảng dạy; đào
tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung;




bồi dưỡng NVSP…Những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung
và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập
nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho GV được tiến hành một cách đều
đặn thông qua nhiều hình t
hức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường
mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình.
Ngoài ra, họ còn có thể theo học các khóa đào tạo từ xa hoặc các khóa học đặc biệt
do các viện khoa học tổ chức. Các chứng chỉ được cấp sau các khóa đào tạo đều
được sử dụng để xem xét trong quá trình thăng chức, lên lương, cũng như tiền
thưởng [21, tr. 60-61].
 Ph
áp
Trong tài liệu “Những đổi mới gần đây trong đào tạo, bồi dưỡng sử dụng
giáo viên trung học ở một số nước”, tạp chí TTKHGD số 76 tác giả Trần Bá Hoành
có nêu 49 nguyên tắc mới cho GD của Bộ GD quốc gia Pháp có đề cập vấn đề công
tác đào tạo bồi dưỡng thường xuyên GV: Mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ cho
công tác đào tạo tiếp tục hàng năm, thực hiện ngoài giờ trực và giờ lên lớp. Tăng
cường làm
việc theo nhóm GV để chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Thời gian làm việc
của GV đảm bảo chuyển từ 18 xuống 15 giờ và đối với các thạc sĩ giảm từ 15 xuống
còn 14 giờ. Nhưng họ phải đảm bảo 4 giờ có mặt và hoạt động sư phạm trong nhà
trường (đối với thạc sĩ là 3 giờ) tức là 132 giờ một năm. GV chỉ có 15 giờ lên
lớp/tuần (15 giờ giảng dạy tương ứng với những giờ có mặt trước học sinh, kể cả
những công việc hướng dẫn học sinh làm bài tập hoặc thực hà
nh, không tính đến
những nhiệm vụ truyền thống như chuẩn bị bài, chấm bài và các cuộc gặp gỡ
PHHS. Chú trọng việc đào tạo bồi dưỡng các nhà quản lý GD.




1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, XH của 2 huyện Vĩnh
Thạnh và Thốt Nốt
Huyện Vĩnh Thạnh là
một huyện thuộc thành phố
Cần Thơ, được thành lập
ngày
2 Tháng 1 năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm
2004 của Chính phủ.
Phía đông giáp 2 huyện
Thốt Nốt và Cờ Đỏ; phía tây giáp tỉnh An Giang;
phía nam giáp tỉnh
Kiên Giang; phía bắc giáp huyện Thốt Nốt và tỉnh An Giang.
Diện tích: 413,39 km
2
. Dân số: 155.057 người.
Đơn vị hành chính:
02 thị trấn, 09 xã (Thị trấn Thạnh An, Vĩnh Thạnh, xã
Thạnh Mỹ, Vĩnh Trinh, Thạnh An, Thạnh Thắng, Thạnh Quới, Thạnh Phú, Thạnh
Lộc, Trung Hưng, Thạnh Tiến).
Huyện Vĩnh Thạnh có 41.029,27 ha diện tích tự nhi
ên với 162.759 nhân
khẩu (tháng 11 năm 2007). Mật độ 397 người/km
2
.
Vị trí địa lý - đặc điểm kinh tế
Cách trung tâm thành phố gần 80 km
về phía tây, Vĩnh Thạnh được coi là
huyện "vùng sâu, vùng xa" của thành phố Cần Thơ. Khi được tách ra từ huyện Thốt
Nốt vào đầu năm 2004, huyện vẫn còn 05 xã không có đường ôtô, 04 xã không có
chợ, 03 xã không có trụ sở làm việc. Nằm ở vùng trũng của tứ giác Long Xuyên,
huyện Vĩnh Thạnh thường xuyên chịu cảnh lụt lội nên kết cấu hạ tầng ngày một
xuống cấp. Kinh tế Vĩnh Thạnh c
hủ yếu dựa vào nông nghiệp theo hướng độc canh
cây lúa, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ mới chỉ ở dạng
sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ.
Đời sống văn hóa -
xã hội
Với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống văn hóa - xã hội
Vĩnh Thạnh đã tập trung xây dựng nhiều công trình trọng tâm,
nâng cấp và xây
dựng các tuyến giao thông nông thôn.
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được huyện đặc biệt quan
tâm triển khai thực hiện với phương châm đẩy mạnh XH hóa, huy động nguồn vốn




đóng góp của nhân dân xây dựng mạng lưới tổ chức khuyến học, thành lập trung
tâm học tập cộng đồng. Sau nhiều nỗ lực, năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận
đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng
được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16%
(năm 2005), tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 2,48% (năm
2004). Theo kế hoạch
dự kiến hoàn thành phổ cập giáo dục THPT vào năm 2010.
Huyện Thốt Nốt là một đơn vị hành c
hính trực thuộc thành phố
Cần Thơ.
The
o
Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 Tháng 01 năm 2004 của Chính
phủ
, huyện Thốt Nốt được tách thành 2 huyện: Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.
Huyện Thốt Nốt h
iện nay có 17.110,08 ha diện tích tự nhiên và 196.610 nhân
khẩu (năm 2007).
Về hành chính, quận gồm 01
thị trấn và 08 xã: Thị trấn Thốt Nốt, Thới
Thuận, Thuận An,Thạnh Hòa, Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và
Tân Lộc.
Địa giới hành chính
Phía đông giáp quận Ô Môn; phía tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh An
Giang
; phía nam giáp huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ; phía bắc giáp tỉnh Đồng
Tháp
.
Định hướng phát triển đến năm 2010
Trong giai đoạn 2005 - 2010, mục tiêu mà Đảng bộ, chính quyền và nhâ
n
dân Thốt Nốt phấn đấu đạt được là xây dựng huyện đạt tiêu chí thị xã; tốc độ tăng
trưởng GD đạt bình quân 16 - 17%/năm; hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp -
thương mại, dịch vụ - nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng 43,15% - 35,5% - 21,35%
(năm 2010); thu nhập bình quân đạt trên 800 USD/người/năm.
Để hoàn thành những mục tiêu đã đề ra, huyện Thốt Nốt đã lựa chọn thực
hiện những khâ
u đột phá sau:
-
Xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung vào hệ thống giao thông. Xây
dựng các khu đô thị mới gắn với trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và
trung tâm thương mại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét