Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thị trường hối đoái Việt Nam

Đây là hình thức giao dòch được phối hợp giữa giao dòch giao ngay và giao dòch
kỳ hạn.
Tác dụng:
+ Chuyển nhượng tạm thời đồng tiền này sang đồng tiền khác để đáp ứng nhu
cầu kinh doanh;
+ Là công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá;
+ Giúp các Ngân hàng duy trì được trạng thái ngoại hối trong tương lai
1.3.4 Giao dòch quyền chọn ( Options)
Là một giao dòch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên
mua quyền có quyền nhưng không có nghóa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại
tệ xác đònh ở một mức tỷ giá xác đònh trong một khoảng thời gian thỏa thuận
trước. Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền
có nghóa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá thỏa thuận
trước.
Đây là giao dòch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn nhưng người mua quyền
chọn ( khách hàng) không bắt buộc phải thực hiện hợp đồng đã ký kết.
Do đó, người mua quyền chọn không bò ràng buộc bởi hợp đồng quyền
chọn, họ có thể thực hiện hoặc hủy bỏ hợp đồng đã ký. Quyền chọn chỉ dành
cho một phía đó là khách hàng, còn Ngân hàng là nhà kinh doanh tiền tệ bắt
buộc phải thực hiện hợp đồng, bù lại Ngân hàng được thu phí quyền chọn khi
hợp đồng được ký kết.
1.3.4.1.Phân loại quyền chọn: có 2 loại
+ Quyền chọn mua ( Call option) : là quyền được mua ngoại tệ tại tỷ giá thỏa
thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác đònh.
Đây là quyền chọn cho phép khách hàng được quyền mua ngoại tệ theo các
điều khoản của hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng ( không mua) nếu điều đó có
lợi cho mình.
• Nếu tỷ giá thực tế > tỷ giá hợp đồng: thực hiện quyền chọn mua
• Nếu tỷ giá thực tế < tỷ giá hợp đồng: bỏ quyền chọn mua và mua
ngoại tệ theo tỷ giá thực tế sẽ có lợi hơn.
+ Quyền chọn bán ( Put option): là quyền được bán ngoại tệ với tỷ giá thỏa
thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác đònh.
Đây là quyền chọn cho phép khách hàng được quyền bán ngoại tệ theo các
điều khoản của hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng ( không bán) nếu điều đó có
lợi cho mình.
• Nếu tỷ giá thực tế < tỷ giá hợp đồng: thực hiện quyền chọn bán
• Nếu tỷ giá thực tế > tỷ giá hợp đồng: bỏ quyền chọn bán và bán
ngoại tệ theo tỷ giá thực tế sẽ có lợi hơn.
Phân loại theo tính chất quyền chọn: có 2 kiểu
+ Quyền chọn lựa kiểu Mỹ: Quyền lựa chọn có thể được thực hiện bất cứ thời
điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
+ Quyền lựa chọn kiểu Châu u: Quyền lựa chọn chỉ được thực hiện vào ngày
đáo hạn của hợp đồng.
Đối tượng tham gia:
Bên mua quyền: cá nhân và tổ chức kinh tế hoạt động tại Việt Nam
Bên bán quyền: Ngân hàng
Phí giao dòch: Là khoản tiền mà người mua quyền lựa chọn phải trả cho Ngân
hàng ( người bán quyền lựa chọn) để có được quyền lựa chọn.
Tỷ giá thực hiện:
Là tỷ giá được hai bên mua bán thỏa thuận và ấn đònh trong hợp đồng quyền
lựa chọn.
Kỳ hạn giao dòch : tối thiểu 03 ngày, tối đa 365 ngày.
Thời hạn giao dòch : tối thiểu 03 ngày, tối đa 365 ngày.
Thời hạn hiệu lực của hợp đồng: Là khoảng thời gian quyền lựa chọn có thể
được thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền được tính từ ngày ký hợp
đồng cho đến ngày đáo hạn.
1.3.4.2.Tác dụng của quyền chọn:
+ Đảm bảo nhu cầu ngoại tệ trước mắt, và trong tương lai cho khách hàng một
cách chắc chắn.
+ Cho phép khách hàng lựa chọn phương án giao dòch ngoại tệ tối ưu.
+ Là công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái và là công cụ kinh doanh ngoại tệ linh
hoạt có hiệu quả.
1.3.4.3.Lợi ích của khách hàng:
+ Giúp khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ xuất nhập khẩu có cơ hội để thực
hiện bảo hiểm dòng vốn của mình trước sự biến động tỷ giá không thể lượng
đònh trước trên thò trường.
+ Với khoản chi phí chấp nhận được, khách hàng có được một quyền lựa chọn
về tỷ giá trong một thò trường ngoại hối có nhiều biến động.
Ngày 12/2/2003, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước cho phép Ngân bàng TMCP
Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền lựa
chọn trong kinh doanh ngoại hối.
Để được thí điểm nghiệp vụ option, Eximbank phải có quy định về quy trình
thực hiện, trong đó bao gồm các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Q trình giao dịch
chỉ dùng ngoại tệ tự do chuyển đổi, khơng được giao dịch bằng VND. Giới hạn số
dư cao nhất là 500.000 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương, chỉ thực
hiện với các doanh nghiệp đóng tại Việt Nam.
Trường hợp thanh tốn ngoại tệ cho nước ngồi, doanh nghiệp phải xuất trình
cho ngân hàng chứng từ theo các quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Thời hạn
của giao dịch từ 7 ngày đến tối đa 3 tháng. Thời gian thí điểm là 6 tháng kể từ ngày
12/2/2003.
Tuy nhiên, sau 6 tháng thí điểm chỉ được khoảng hơn 10 DN tham gia với 50
hợp đồng thực hiện Quyền lựa chọn, tổng giá trị hơn 5 triệu USD.
Sau đó, SBV cũng lần lượt cho phép 6 ngân hàng khác là Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn Việt
Nam (Agribank), Citibank, Vietcombank, Ngân hàng Cơng thương Việt Nam (ICB)
và Ngân hàng Hongkong Bank chi nhánh TP.HCM được thực hiện thí điểm Option,
nhưng những kết quả thu được đến nay vẫn nhỏ bé. Mặc dù có cơng cụ để tạo cho
DN cơ hội phòng ngừa rủi ro nhưng rõ ràng các DN chưa hề mặn mà với Option,
nghiệp vụ này chẳng những ra đời muộn màng ở Việt Nam mà còn chưa hấp dẫn
các DN.
Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN ngày 10/11/2004 về giao dịch hối đối tạo sự
thơng thống cho giao dịch ngoại tệ, bổ sung giao dịch option giữa các loại ngoại tệ.
Việc cho thị trường làm quen với giao dịch Option ngoại tệ (là bước đệm tạo tiền đề
cho việc đưa ra giao dịch Option tiền đồng cung cấp cho thị trường một cơng cụ
phòng ngừa rủi ro hữu hiệu và giúp Ngân hàng Nhà nước thử phản ứng của thị
trường, tiến tới một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn.
Tất cả các giao dịch quyền chọn tại Eximbank bằng tất cả các loại ngoại tệ tự do
chuyển đổi, như EUR, USD, JPY, AUD, CAD, CHF, GBP, SGD. Phí trả cho quyền
lựa chọn dựa trên phí option của thị trường option quốc tế.
Trong thị trường giao dịch ngoại hối cùng với giao dịch giao ngay (spot), giao
dịch kỳ hạn (forward), giao dịch hốn đổi ngoại tệ (swap) thì giao dịch quyền lựa
chọn (option) giúp doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch hối
đối phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình, giải quyết được mâu thuẫn giữa lợi
nhuận và rủi ro.
Ví dụ:
Option với nhà Xuất khẩu:
Một doanh nghiệp xuất khẩu dự kiến trong tháng tới sẽ thu về một khoản
ngoại tệ là 100.000 EUR, và họ cũng dự đốn trong thời gian tới tỷ giá EUR/USD
trên thị trường có khả năng sụt giảm mạnh. Để bảo vệ giá trị đồng vốn và hưởng lợi
từ việc dự đốn tỷ giá này, doanh nghiệp có thể:
1. Ký hợp đồng bán EUR có kỳ hạn cho Eximbank. Trong trường hợp này,
cho dù vào ngày đáo hạn tỷ giá đồng EUR có tăng hay giảm bao nhiêu thì doanh
nghiệp vẫn phải bán cho Eximbank với giá đã cam kết trong hợp đồng.
2. Hoặc ký hợp đồng Option bán EUR cho Eximbank hơm nay (17.02.2003)
với tỷ giá EUR/USD là 1.0900 (tỷ giá đặt bán). Thời hạn một tháng (ngày đáo hạn
17.03.2003).
Tới ngày 17.03.2003 sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp:
Tỷ giá EUR/USD trên thị trường là 1.1200 cao hơn tỷ giá đặt bán, doanh
nghiệp có quyền khơng thực hiện hợp đồng đã ký kết với ngân hàng mà bán
100.000 EUR để lấy 112.000 USD theo giá thị trường vì họ đã có quyền lựa chọn
bán hay khơng bán theo giá đã ký kết trong hợp đồng.
Tỷ giá EUR/USD giảm mạnh còn 1.0500, doanh nghiệp được quyền bán cho
Eximbank 100.000 EUR lấy 109.000 USD theo tỷ gia đã ký kết trong HĐ Option.
Nếu khơng có hợp đồng Option thì với 100.000 EUR, họ chỉ có thể bán theo tỷ giá
spot 1.0500, thấp hơn 4.000 USD so với tỷ giá đặt bán trong HĐ Option.
Option với nhà Nhập khẩu:
Một doanh nghiệp nhập khẩu dự kiến trong tháng tới sẽ phải thanh tốn cho
đối tác nước ngồi một khoản ngoại tệ là 100.000 EUR, và họ cũng dự đốn trong
thời gian tới tỷ giá EUR/USD trên thị trường có khả năng tăng mạnh. Để bảo vệ giá
trị đồng vốn và hưởng lợi từ việc dự đốn tỷ giá này, doanh nghiệp có thể:
1. Ký hợp đồng mua EUR có kỳ hạn (Forward) với Eximbank. Trong trường
hợp này, cho dù vào ngày đáo hạn tỷ giá đồng EUR có tăng hay giảm bao nhiêu thì
doanh nghiệp vẫn phải mua với giá đã cam kết trong hợp đồng kỳ hạn.
2. Hoặc ký hợp đồng Option mua EUR của Eximbank ngay hơm nay
(17.02.2003) với tỷ giá EUR/USD là 1.0800 (tỷ giá đặt mua). Thời hạn một tháng
(ngày đáo hạn 17.03.2003).
Tới ngày 17.03.2003 sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp:
Tỷ giá EUR/USD trên thị trường giảm còn 1.0500 thấp hơn tỷ giá đặt mua,
doanh nghiệp có quyền khơng thực hiện hợp đồng đã ký kết với ngân hàng mà chỉ
dùng 105.000 USD để mua 100.000 EUR theo giá thị trường vì họ đã có quyền lựa
chọn mua hay khơng mua theo giá đã ký kết trong hợp đồng.
Tỷ giá EUR/USD tăng lên 1.1200, doanh nghiệp được quyền mua của
Eximbank 100.000 EUR chỉ với 108.000 USD theo tỷ gia đã ký kết trong HĐ
Option. Nếu khơng có hợp đồng Option thì doanh nghiệp phải bỏ ra tới 112.000
USD để mua 100.000 EUR, tức cao hơn 4.000 USD so với tỷ giá đặt mua trong hợp
đồng Option.
CHƯƠNG II:
TÌNH HÌNH HỌAT ĐỘNG CỦA THỊ
TRƯỜNG HỐI ĐĨAI VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về thò trường hối đoái Việt Nam:
Thò trường hối đoái Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Trước năm 1991: Giai đoạn Việt Nam chưa có thò trường hối đoái có tổ
chức.
- Từ năm 1991 – 1994: Giai đoạn họat động của Trung tâm giao dòch
ngoại tệ.
- Từ năm 1994 đến nay: Giai đoạn hoạt động của Thò trường ngoại tệ liên
ngân hàng.
1) Giai đoạn 1 : đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung
bao cấp, nhà nước can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội, quyết
đònh các chính sách kinh tế vi mô và vó mô theo một kế hoạch quy mô
tập trung toàn quốc. Hơn nữa, hệ thống các nước XHCN lại áp dụng một
chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với
bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại
thương và ngoại hối.
Hậu quả của một cơ chế tỷ giá cố đònh và đa tỷ giá mang tính áp đặt bất
chấp quy luât cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng.
Đồng tiền Việt Nam được đònh giá quá cao so với các đồng tiền tự do
chuyển đổi. Tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế,
làm cho hoạt động xuất khẩu gặp khó khân, cán cân thương mại bò thâm
hụt nặng.
2) Giai đoạn 2 : đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế theo hướng thò trường. Trong giai đoạn này đứng về phương diện
thanh toán quốc tế, Việt Nam đứng trước một tình thế vô cùng khó khăn.
Thò trường với các nước XHCN bò thu hẹp đáng kể, bên cạnh hệ thống
thanh toán đa biên bò tan rã, tất cả các nước XHCN đều đồng loạt
chuyển đổi đồng tiền thanh toán với Việt Nam bằng ngoại tệ tự do
chuyển đổi (chủ yếu là USD). Việc chuyển đổi đồng tiền thanh toán có
ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của Việt Nam bằng ngoại tệ tự
do chuyển đổi. Vì từ trước năm 1991, hầu hết nguồn thu ngoại tệ của
Việt Nam đều bằng đồng Rúp.
Đứng trước tình thế hết sức khó khăn về cung cầu ngoại tệ của nền kinh
tế và nhu cầu bức bách về ngoại tệ cho thanh toán quốc tế, một câu hỏi đặt
ra là làm thế nào để giải quyết được vấn đề trên mà không tác động mạnh
đến tình hình giá cả và sản xuất trong nước? Các chính sách đó bao gồm:
a) Về phía chính phủ:
- Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu: nhằm tạo thêm nguồn thu ngoại
tệ cho nền kinh tế.
- Chương trình khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng: trước đây, hàng tiêu
dùng của Việt Nam hết sức nghèo nàn và thiếu nghiêm trọng. Khi chúng
ta thực hiện chính sách mở cửa cũng như nới lỏng chính sách ngoại
thương thì hàng tiêu dùng ngoại tràn vào và cũng làm cho nhu cầu về
ngoại tệ để nhập khẩu tăng lên. Do đó, chính sách khuyến khích sản
xuất hàng tiêu dùng nhằm làm giảm sức ép về nhu cầu ngoại tệ nhập
khẩu hàng tiêu dùng.
- Chương trình khuyến khích sản xuất lương thực: khuyến khích sản xuất
lương thực trước hết làm nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới
xuất khẩu và làm giảm sự thiếu hụt ngoại tệ.
- Ngoài các chương trình trên thì chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam cũng được mở rộng nhằm tạo thêm nguồn thu ngoại
tệ đáp ứng nhập khẩu.
b) Về phía Ngân hàng Nhà Nước:
là cơ quan được Nhà nước giao cho trọng trách quản lý nguồn ngoại tệ vào
và ra của nền kinh tế, phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển kinh tế của
đất nước và xây dựng điều hành chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối của
Việt Nam. Trong thời gian đó, NHNN đã đề xuất với Chính phủ thành lập
Quỹ điều hòa ngoại tệ tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của nền kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệt thò
trường ngoại hối nhằm ổn đònh tỷ giá. Đồng thời, năm 1991 là năm đánh
dấu mốc lòch sử về việc hình thành nền móng cho thò trường ngoại hối Việt
Nam, đó là việc Thống đốc NHNN ra Quyết đònh số 107-NH/QĐ ngày
16/08/1991 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm
giao dòch ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 08 và
tháng 11/1991.
3) Giai đoạn 3 : để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng
Việt Nam trong các hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý
ngoại hối của Việt Nam, tăng cường sự giám sát và quản lý ngoại hối
của Nhà nước, ngày 17/08/1998, Chính phủ đã ra Nghò đònh số
63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối.
Có thể nói, Nghò đònh quản lý ngoại hối đã đưa ra một khung pháp lý
hoàn chỉnh đối với việc quản lý và sử dụng ngoại tệ trong các giao dòch thanh
toán quốc tế, đánh dấu một bước tiến trong công tác quản lý ngoại hối và
khẳng đònh mục tiêu quản lý ngoại hối cũng như chủ quyền của Đồng Việt
Nam trên lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề cốt lõi của chính sách quản lý ngoại hối
là kiểm soát được thò trường ngoại tệ và cải thiện được cán cân thanh toán quốc
tế, trên cơ sở đó, góp phần duy trì ổn đònh giá trò Đồng Việt Nam. Đó cũng là
yêu cầu cơ bản để hướng tới mục tiêu “trên lãnh thổ Việt Nam chỉ dùng tiền
Việt Nam”.
2.2 Hoạt động của thò trường ngoại tệ liên ngân hàng (Thò trường giao dòch
bán buôn).
Về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: Từ khi chính thức hình thành năm
1994 đến nay, thị trường đã có những chuyển động đáng kể, đóng vai trò quan trọng
trong việc kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Thơng qua thị trường,
NHNN đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, nắm
bắt diễn biến cung cầu và tham gia thị trường với vai trò người mua bán cuối cùng.
NHNN thực hiện can thiệp thị trường khi cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu chính
sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 1999 đến nay, bên cạnh việc điều hành linh
hoạt tỷ giá, việc NHNN thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời trên thị trường đã
hỗ trợ cho các ngân hàng cân đối ngoại tệ và đặc biệt là góp phần ổn định tỷ giá,
tăng dự trữ ngoại hối của Nhà nước.
Trong những năm qua hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đã
từng bước đi vào hoạt động một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển và từng bước hội nhập khu vực và quốc tế. Sau thời gian họat động thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng đã có những bước chuyển đổi đáng kể, trở thành nơi
kết nối cung cầu ngoại tệ của các NHTM. Thơng qua thị trường, Ngân hàng Nhà
nước đã phần nào nắm bắt được diễn biến cung, cầu ngoại tệ của nền kinh tế, từ đó
có những can thiệp khi cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, chính
sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.
Năm 2005,hoạt động trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng sơi động hơn
các năm trước, doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng 20,6% trong đó doanh
số giao dịch kỳ hạn tăng 11,8% và doanh số giao dịch giao ngay tăng 23,5%. Doanh
số giao dịch giữa các ngân hàng với khách hàng cũng tăng đáng kể so với cùng kỳ
năm 2004. Tuy nhiên, các giao dịch Swap của Ngân hàng thương mại với Ngân
hàng Nhà nước giảm hẳn. Dấu hiệu này cho thấy năm 2005 nguồn tiền đồng và
ngoại tệ của ngân hàng thương mại tương đối dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu
thanh khoản của khách hàng, khơng cần đến sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước
thơng qua các giao dịch Swap.
Với cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết, Ngân hàng Nhà nước đã can thiệp thị
trường vừa thận trọng vừa linh hoạt, nhằm mục tiêu kiểm sốt lạm phát góp phần
tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Trong năm qua tỷ giá được điều tiết theo
hướng giảm nhẹ đồng VND so với đồng USD nhằm khuyến khích xuất khẩu, kiểm
sốt nhập khẩu qua đó ổn định tỷ giá trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và tỷ
giá thị trường tự do. Tính đến ngày 31/12/2005, tỷ giá USD/ VND bình qn trên
TTNTLNH trong năm 2005 dao động với mức 147 VNĐ (tỷ giá giao dịch
USD/VND bình qn cao nhất là 15,879 và tỷ giá giao dịch USD/VND bình qn
thấp nhất là 15,732). Tỷ giá niêm yết của các NHTM đều ở mức kịch trần
Trong mơi trường kinh doanh thuận lợi do cơ chế điều tiết thị trường ngày
càng thơng thống, nguồn ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại tăng mạnh so với
năm 2004. Trong năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã thu hút được một lượng ngoại
tệ đáng kể từ các Ngân hàng thương mại (tăng 4,96 lần so với năm 2004), góp phần
đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về ngoại tệ của nền kinh tế và tăng dự trữ ngoại hối
Nhà nước. Nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu của nền kinh tế trong năm cũng
ln được đáp ứng đầy đủ, nhất là từ khi Ngân hàng Nhà nước mở rộng đối tượng
được mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước phục vụ các nhu cầu hợp lý của nền
kinh tế và đặc biệt ưu tiên nhu cầu nhập khẩu xăng dầu. Hoạt động thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng trong năm qua đã góp phần ổn định giá xăng dầu trong nước, hạn
chế tình trạng găm giữ ngoại tệ của các ngân hàng thương mại và dân cư, cung cầu
ngoại tệ trên thị trường tương đối cân bằng, hoạt động mua bán ngoại tệ thơng suốt
và sơi động.
Tuy nhiên, trong năm qua tỷ giá niêm yết, giao dịch của các NHTM chưa
phản ánh sát cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế nên phần nào hạn chế hoạt động của
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Với việc nới lỏng cơ chế quản lý ngoại hối của
NHNN và chính sách tỷ giá linh hoạt hơn sẽ góp phần đẩy mạnh hoạt động của Thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng trong thời gian tới.
Đến 2006, hoạt động kinh doanh ngoại hối giữa các ngân hàng thành viên
trên thị trường Ngoại tệ liên Ngân hàng (NTLNH) cũng tương đối sơi động, cụ thể
khối lượng giao dịch liên ngân hàng trong q 1/2006 tăng 5,9% so với cùng kỳ
năm ngối.
Cơ chế kinh tế ngày càng thơng thống đã mang lại nhiều nguồn ngoại tệ cho
đất nước. Lượng ngoại tệ các NHTM mua được từ các nguồn khác nhau tăng lên rõ
rệt. Tính riêng trong q I/2006, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào một lượng ngoại
tệ đáng kể từ các ngân hàng thành viên (tăng 2,33 lần so với q 4/2005 và 1,54 lần
so với cùng kỳ năm ngối). Nguồn ngoại tệ thu hút được này khơng những giúp
NHNN đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về ngoại tệ cho nền kinh tế và tăng Dự trữ
ngoại hối Nhà nước mà còn góp phần giảm bớt hiện tượng đơla hố ngồi thị
trường.
Thơng qua các hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường NTLNH, các ngân
hàng thành viên có thể hỗ trợ cho nhau nhu cầu về vốn, tăng khả năng giao dịch và
đặc biệt là hình thành tỷ giá sát với cung cầu thực tế trên thị trường.
Bên cạnh các giao dịch mua bán giao ngay, các ngân hàng thành viên đã và
đang thực hiện một số các cơng cụ tài chính mới như giao dịch kỳ hạn, hốn đổi,
quyền chọn nhằm giảm thiểu rủi ro tỷ giá và tăng lợi nhuận. Đối với giao dịch
quyền chọn (Option), hiện tại các ngân hàng thành viên đã tiến hành thực hiện đối
với các giao dịch Option ngoại tệ. Tuy bước đầu lượng giao dịch nghiệp vụ này
khơng nhiều, nó đã được các ngân hàng thành viên của thị trường NTLNH đánh giá
cao vì có nhiều tiềm năng phát triển. Đồng thời, nghiệp vụ này đã tạo điều kiện cho
các ngân hàng thành viên tiếp cận khách hàng, đa dạng hố các sản phẩm kinh
doanh ngoại tệ, giảm thiểu rủi ro và quan trọng nhất là góp phần làm linh hoạt tỷ giá
trên thị trường NTLNH.
Tỷ giá bình qn trên thị trường NTLNH trong q I/2006 cũng dao động
tương đối linh hoạt, tỷ giá thấp nhất ở mức 15,865 USD/VNĐ và tỷ giá cao nhất ở
mức 15,898 USD/VNĐ. Tỷ giá giao dịch giữa các ngân hàng thành viên dao động
trong khoảng 15,902 - 15,920 USD/VNĐ. Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do
cũng tương đối ổn định quanh mức 15,900 - 15,960 USD/VNĐ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét