Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Bước đầu đánh giá tổng giá trị kinh tế của rừng Dẻ xã Hoàng Hoa Thám - Chí Linh - Hải Dương cho việc hoạch định chính sách duy trì rừng Dẻ này

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Sản phẩm của rừng : Hạt Dẻ, gỗ, dợc liệu,
1.2. Cơ sở kinh tế học để đánh giá giá trị kinh tế rừng
Dẻ.
Hệ sinh thái rừng cung cấp hàng hoá, dịch vụ môi trờng cho con ngời. Vì
vậy đánh giá giá trị kinh tế của nó phải phản ánh đúng giá trị kinh tế của nó để
định giá các hàng hoá , dịch vụ môi trờng. Cần lợng hoá đợc cả các ngoại ứng tích
cực và tiêu cực để phản ánh vào trong giá của hàng hoá vì nó là nhân tố hay bị bỏ
qua trong quá trình định giá hàng hoá môi trờng. Nếu định giá sai các hàng hoá
môi trờng của rừng sẽ dẫn đến không khai thác ở điểm tối u . Hậu quả là tài
nguyên bị cạn kiệt, môi trờng bị ô nhiễm.
Đánh giá giá trị kinh tế của rừng ta phải nhận thức đợc rừng là một hệ sinh
thái động, là tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh. Việc khai thác hợp lí sẽ đạt
hiệu quả kinh tế và đảm bảo cân bằng sinh thái. Để nghiên cứu vấn đề này ngời ta
dựa vào mô hình tổng quát về sử dụng tài nguyên có thể tái sinh sau. Đây là mô
hình dựa trên cơ sở nhìn nhận sinh học trong mối quan hệ thay đổi về sinh thái.
Hình 1: Sự thay đổi về khối lợng nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh
- Qui mô : là trữ lợng tài nguyên của rừng.
- Sản lợng khai thác : là số lợng tài nguyên rừng đợc khai thác, sử dụng.
Thông qua mô hình ta thấy rằng mức đạt sinh khối cao nhất là mức khả
năng tái sinh OB. Có nghĩa là nếu nh xem xét xu hớng phát triển của sinh khối thì
khả năng cho phép đối với tài nguyên này nằm trong mức giới hạn về qui mô giữa
đoạn OA và OC. Nh vậy mức giữa OA và OC là mức chúng ta phải duy trì vì :
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu khai thác OY thì trữ lợng tài nguyên là OB. Đây là mức tối u tức là tại
mức khai thác này tài nguyên không những đợc duy trì mà còn có thể sinh sôi nảy
nở. Khi tài nguyên tiếp cận về OA thì có nguy cơ cạn kiệt là tất yếu và A là mức
cuối cùng của cạn kiệt, OD là mức bắt đầu cạn kiệt. Do đó DB là mức tốt nhất duy
trì khả năng tái sinh của tài nguyên. Nếu khai thác vợt quá ngỡng thì chi phí cơ hội
cho một đơn vị tài nguyên sẽ tăng nhanh do sự cạn kiệt.
II. Tiếp cận những đánh giá kinh tế đối với rừng Dẻ.
2.1. Tổng giá trị kinh tế (TEV)
Trên thị trờng, mỗi cá nhân đều có những thông tin khá rõ ràng để dùng làm
cơ sở cho sự đánh giá và lựa chọn của họ. Sản phẩm có khuynh hớng khả kiến, các
đặc tính của nó nói chung đợc nhận biết và đều có giá trên thị trờng. Mỗi cá nhân,
trên cơ sở các thông tin sẵn có sẽ cân nhắc đánh giá số lợng, chất lợng và giá cả
của sản phẩm đợc chào bán. Nhng nh chúng ta đã biết, đối với hàng hoá và dịch vụ
môi trờng thờng không có giá thị trờng và khó lòng xác định rõ giá trị đích thực và
tầm quan trọng của chúng. Nhiều tài sản môi trờng là tài sản công cộng và đây là
một đặc tính gây khó khăn cho việc vận dụng thị trờng để đánh giá các tài sản đó.
Để đánh giá giá trị hàng hoá, dịch vụ môi trờng trớc hết phải biết một vài khái
niệm về giá trị kinh tế của tài sản môi trờng.
Tuy các nhà kinh tế học đã làm đợc rất nhiều khi phân loại giá trị kinh tế
trong mối quan hệ của chúng với môi trờng thiên nhiên nhng vấn đề thuật ngữ vẫn
cha đợc thống nhất hoàn toàn. Trên nguyên tắc, để đo lờng tổng giá trị kinh tế, các
nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử
dụng.
Theo định nghĩa, giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng môi tr-
ờng. Vấn đề trở nên hơi phức tạp hơn khi chúng ta đề cập tới giá trị thể hiện bằng
việc chọn lựa các cách sử dụng môi trờng trong tơng lai ( các giá trị nhiệm ý).
Thực ra chúng là cách thể hiện ý thích ( giá sẵn lòng chi trả) đối với việc bảo vệ hệ
thống môi trờng hoặc các thành phần của hệ thống dựa trên xác suất là vào một
ngày nào đó sau này cá nhân sẽ sử dụng chúng. Một dạng khác của giá trị là giá trị
kế thừa, tức là giá sẵn lòng trả để bảo tồn môi trờng vì lợi ích của các thế hệ sau.
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nó không có giá trị sử dụng đối với một cá nhân trong hiện tại nhng nó có giá trị
tiềm năng sử dụng hoặc không sử dụng trong tơng lai.
Giá trị không sử dụng có nhiều vấn đề hơn. Nó thể hiện các giá trị phi ph-
ơng tiện nằm trong bản chất thật của sự vật, nhng nó không liên quan đến việc sử
dụng thực tế hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng sự vật này. Thay vào đó các giá
trị này đợc coi nh những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con ngời, những sự lựa
chọn này có kể đến cả sự quan tâm đồng cảm và trân trọng đối với quyền lợi hoặc
phúc lợi của các sinh vật không phải là con ngời. Các giá trị này vẫn tập trung chú
trọng nhiều đến con ngời nhng nó có thể bao hàm cả nhận thức về các giá trị tồn
tại của các giống loài khác nữa hoặc của cả quần thể sinh thái. Nh vậy, tổng giá trị
kinh tế đợc hình thành từ giá trị sử dụng thực tế cộng với giá trị nhiệm ý cộng với
giá trị tồn tại
( Sơ đồ tổng giá trị kinh tế)
Một vài nhà khoa học tranh cãi rằng sự đóng góp đầy đủ của các giống loài
và các quá trình vào dịch vụ hỗ trợ sự sống cung cấp bởi hệ sinh thái đã không đợc
đa vào trong giá trị kinh tế. Có lẽ các nhà khoa học đã đúng khi phê bình cách
đánh giá về kinh tế là mang tính thiên vị, không phải trong mối tơng quan với các
giống loài và quá trình riêng lẻ mà là đối với giá trị trên hết của tổng cấu trúc hệ
sinh thái và khả năng hỗ trợ sự sống của nó. Nh vậy, có thể nói rằng tổng hệ sinh
thái có giá trị nguyên thuỷ. Sự tồn tại trên hết của một hệ sinh thái lành mạnh là
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
TEV của một
khu rừng
Giá trị sử
dụng
Giá trị không
sử dụng
Giá trị
sử dụng
trực tiếp
Giá trị
sử dụng
gián tiếp
Giá trị
nhiệm ý
Giá trị lu
truyền
Giá trị
tồn tại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cần thiết trớc khi giá trị sử dụng và không sử dụng có liên quan đến cấu trúc và
chức năng của hệ sinh thái có thể đợc con ngời đem ra dùng. Do đó chúng ta có
thể gọi tất cả các giá trị sử dụng và không sử dụng là giá trị thứ cấp. Giá trị sử
dụng và giá trị không sử dụng bao gồm trong tổng giá trị kinh tế (TEV) nhng giá
trị nguyên thuỷ của tổng hệ thống thì không bao hàm trong TEV.
TEV có thể không thể hiện đợc đầy đủ tổng giá trị thứ cấp do việc phân tích
khoa học cũng nh định giá bằng tiền tệ của một vài quá trình, chức năng hệ sinh
thái thờng gặp phải khó khăn. Việc phân biệt giữa giá trị sử dụng gián tiếp và giá
trị không sử dụng còn mơ hồ, không đợc rõ ràng. Do đó gần đây các nhà kinh tế
học đã gọi giá trị không sử dụng là giá trị sử dụng thụ động.
2.1.1. Giá trị sử dụng trực tiếp : Đợc hiểu là giá trị hàng hoá, dịch vụ môi
trờng phục vụ trực tiếp cho con ngời hoặc hoạt động kinh tế mà có thể nhìn thấy,
cảm nhận đợc và thông thờng có giá trên thị trờng. Những giá trị này thờng đợc
tính toán qua sự điều tra những hoạt động của một nhóm ngời đại diện thông qua
sự giám sát việc thu lợm các sản phẩm tự nhiên và hoạt động xuất nhập khẩu. Giá
trị sử dụng trực tiếp bao gồm :
- Giá trị tiêu thụ: Đợc đánh giá dựa trên các sản phẩm đợc sử dụng hàng
ngày trong cuộc sống của con ngời nh củi đun,động thực vật rừng và các sản phẩm
khác sử dụng tại địa phơng. Nhiều sản phẩm này không đợc bán trên thị trờng nên
hầu nh chúng không đóng góp gì vào tổng thu nhập quốc nội nhng nếu không có
những tài nguyên này thì cuộc sống của ngời dân sẽ gặp những khó khăn nhất
định.
- Giá trị sản xuất : Là giá bán các sản phẩm thu đợc từ thiên nhiên trên thị
trờng trong và ngoài nớc nh : củi, gỗ,cây làm thuốc, hoa quả, thịt và da động vật,
.Giá trị sản xuất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất lớn, ngay cả những
nớc công nghiệp .
2.1.2. Giá trị sử dụng gián tiếp : Đợc hiểu là những giá trị mà ta có thể
nhìn thấy, cảm nhận đợc, nó ảnh hởng đến hoạt động kinh tế và liên quan đến
chức năng của hệ sinh thái hay môi trờng trong việc hậu thuẫn cho các hoạt động
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh tế xã hội cũng nh khả năng ngăn chặn các thiệt hại gây ra cho môi trờng.
Thông thờng đối với giá trị loại này khó xác định giá trên thị trờng và nhiều khi
chúng là vô giá
2.1.3. Giá trị không sử dụng : Thể hiện các giá trị phi phơng tiện nằm
trong bản chất thật của sự vật nhng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế,
hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng sự vật này. Giá trị không sử dụng về cơ bản
có hai loại : Giá trị tồn tại và giá trị lu truyền.
- Giá trị tồn tại :Liên quan đến việc xem xét về nhận thức của các nguồn tài
nguyên dới bất cứ hình thức nào.Trong thực tế giá trị này của hoạt động môi trờng
khó qui đổi ra tiền tệ do đó giá trị này đợc đánh giá dựa trên khả năng sẵn sàng chi
trả của các cá nhân cho nguồn tài nguyên sau khi họ đã hiêủ rất kỹ về nguồn tài
nguyên đó.
- Giá trị lu truyền : Đây là giá trị dịch vụ môi trờng đợc xem xét không chỉ
cho thế hệ trớc mắt mà còn cho các thế hệ mai sau. Do đó việc đánh giá loại giá trị
này không thể dựa trên cơ sở giá của thị trờng mà còn phải dự đoán khả năng sử
dụng chúng cho tơng lai. Để đánh giá loại giá trị này ngời ta phải lập các phơng
pháp dự báo.
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2. Phân tích chi phí - lợi ích.
- Khái niệm: CBA là một chu trình nhằm so sánh mức độ chênh lệch giữa
lợi ích và chi phí của một chơng trình hay một dự án biểu hiện bằng giá trị tiền tệ
ở mức độ thực tế.
Nh vậy CBA là một công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định có tính xã hội. Cụ
thể hơn, mục tiêu chính của CBA là nhằm hỗ trợ việc phân bổ hiệu quả hơn các
nguồn lực của xã hội.
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thờng phải đấu tranh với những mâu
thuẫn tự bản thân mình. Nói tóm lại chúng ta có một sự lựa chọn giữa chi phí và
lợi ích, đặc biệt trong cơ chế thị trờng hiện nay ngời ta chú ý đến quyền tự quyết
của cá nhân rất cao để lựa chọn tất cả các phơng án. Nhng kết cục ngời ta hớng tới
lợi ích thu đợc lớn hơn chi phí bỏ ra. Điều này là hoàn toàn phù hợp với qui luật
của sự phát triển.
Cao hơn nữa là tầm dự án, chơng trình hoặc những quyết sách về mặt chính
sách ngời ta cũng nghĩ tới chi phí - lợi ích.
Có hai loại chi phí là chi phí cá nhân và chi phí xã hội. Đồng thời cũng có
hai loại lợi ích là lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội .
Trong thực tế cá nhân luôn chống lại lợi ích và chi phí của xã hội. Các
doanh nghiệp hoặc một tổ chức kinh tế nào đó ngời ta thờng không quan tâm đến
chi phí - lợi ích mà chỉ quan tâm đến lợi nhuận do họ thờng đứng trên quan điểm
cá nhân mà không đứng trên quan điểm xã hội ( quan điểm xã hội là lợi ích, quan
điểm cá nhân là lợi nhuận ). Tức là họ chỉ quan tâm đến vấn đề doanh thu mà
không tính đến những thiệt hại gây ra cho xã hội.
Nhiệm vụ của CBA lã xác định những lợi ích và chi phí không chỉ có tính
cá nhân mà phải phát hiện ra đợc những lợi ích và chi phí có tính xã hội để t vấn
cho ngời ra quyết định trong việc thực hiện các dự án, chơng trình hay trong việc
hoạch định chính sách. Tức là nhiệm vụ của CBA là phải làm sáng tỏ những chi
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phí, lợi ích xã hội. Vậy CBA ra đời trên quan điểm kết hợp hài hoà các loại chi
phí, lợi ích nhằm đạt hiệu quả tối u của xã hội.
- Chỉ tiêu đánh giá trong CBA
+ Giá trị hiện tại thực (NPV) :là hiệu số giữa lợi ích và chi phí hiện tại
B
t
= B
t
D
+ B
t
I
+ B
t
N
+ Tỉ suất lợi nhuận (BCR):
+ Hệ số hoàn vốn nội tại (IRR):
NPV : Giá trị hiện tại thực
B
t
: Tổng lợi ích năm t
C
t
: Tổng chi phí năm t
B
t
D
: Lợi ích trực tiếp năm t
B
t
I
: Lợi ích gián tiếp năm t
B
t
N
: Giá trị không sử dụng năm t
C
0
: Chi phí ở năm 0 (chi phí cố định)
r : là tỷ lệ chiết khấu
t : Biến thời gian
T : Thời gian sống hữu ích dự kiến
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42

=
+

=
T
t
t
tt
r
CB
NPV
1
)1(


=
=
+
+
+
==
T
t
t
t
T
t
t
t
r
C
C
r
B
C
B
BCR
1
0
1
)1(
)1(

==
+
+=
+
T
t
t
t
T
t
t
t
r
C
C
IRR
B
1
0
1
)1()1(
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3 chỉ tiêu này có liên hệ với nhau theo bảng sau :
NPV BCR IRR
> 0 >1 >r
= 0 = 1 = r
< 0 <1 < r
- Hạn chế của phơng pháp CBA : Thực tế cho thấy những ngời làm phân
tích CBA thờng gặp phải những hạn chế và ngời làm CBA phải biết đợc những hạn
chế này. Thông thờng có hai tình huống thờng xảy ra trong mâu thuẫn giữa ngời
thực hiện CBA và ngời ra quyết định.
* Hạn chế về mặt kỹ thuật : Có những tác động lợng hoá đợc bằng tiền nhng
có những tác động không lợng hoá đợc bằng tiền vì hiện nay nhiều kỹ thuật cha
cho phép. Có hai phơng pháp để khắc phục :
+ Phơng pháp CBA định tính
+ Phơng pháp phân tích chi phí hiệu quả
* CBA trong trờng hợp ngoài tính hiệu quả : CBA khi đề cập ngoài mục
đích hiệu quả thờng xảy ra trong thực tiễn mà có thể thay đổi cách nhìn nhận cho
các nhà làm CBA.Trong đó có một số yếu tố sẽ tác động đến hiệu quả pareto. Có
hai phơng pháp khắc phục mâu thuẫn này
+ Phơng pháp phân tích đa mục tiêu
+ Phơng pháp CBA chú trọng tới phân phối.
III. Giá trị kinh tế của rừng Dẻ - xã Hoàng Hoa Thám -
Chí Linh - Hải Dơng
TEV
(rừng Dẻ)
= F(DV,IV,NV)
Giá trị sử dụng trực tiếp (DV) gồm : gỗ, củi, lâm sản, cây thuốc chữa
bệnh, hạt Dẻ, hoa cho ong lấy mật, nguồn gen động thực vật, môi trờng
sống cho con ngời,
Giá trị sử dụng gián tiếp (IV): Điều hoà khí hậu, chống xói mòn đất, hạn
chế thiên tai, tích trữ và cung cấp nớc, điều tiết dòng chảy, giảm lợng
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bốc hơi từ đất, hấp thụ tro bụi, làm giảm tốc độ và lệch hớng đi của gió,
giá trị giáo dục và khoa học, cảnh quan.
Giá trị không sử dụng (NV) : Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn thiên
nhiên, giá trị về vốn gen trong tơng lai, cảnh quan cho các thế hệ tơng
lai.
IV. Sự cần thiết của việc lợng hoá tổng giá trị kinh tế
của rừng Dẻ.
4.1. Khái quát về ĐDSH
Khái niệm : ĐDSH bao gồm sự đa dạng của các dạng sống, vai trò sinh
thái mà chúng thể hiện và đa dạng di truyền mà chúng có . Nh vậy ĐDSH là toàn
bộ các dạng sống trên Trái đất, bao gồm toàn bộ các gen, các loài, các hệ sinh thái
và các quá trình sinh thái .
Đa dạng sinh học phải đợc tính đến ở cả 3 mức độ:
* Đa dạng di truyền : Là sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen
giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cùng sự khác biệt giữa các cá thể cùng
chung sống trong một quần thể.
* Đa dạng loài : Là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lợng loài hoặc số
lợng các phân loài ( loài phụ) trong một sinh cảnh hay ở một vùng nhất định. Nh
vậy đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sống trên trái đất từ vi khuẩn, nấm đến
các loài thực vật và giới động vật.
* Đa dạng quần xã sinh vật và hệ sinh thái : Sự phong phú về môi trờng
trên cạn và dới nớc của quả đất đã tạo nên một số lợng lớn các hệ sinh thái. Sự đa
dạng các hệ sinh thái đợc phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh qua mối quan hệ
giữa các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển ( chu trình
vật chất, các quan hệ về cách sống ). Đa dạng quần xã sinh vật và hệ sinh thái
bao gồm những sự khác biệt giữa quần xã sinh vật, các hệ sinh thái cùng những
mối quan hệ giữa các nhóm loài trong đó.
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo các tài liệu gần đây (Parker, 1982; arnett. 1985; Wilson, 1988 ) hiện
có khoảng 4,4 loài sinh vật đã đợc mô tả. Khoảng 750.000 loài là côn trùng,
41.000 loài là động vật có xơng sống và 250.000 loài thực vật.
ở Việt Nam mặc dù có những tổn thất rất lớn về diện tích rừng trong một
thời kì chiến tranh ác liệt kéo dài nhiều thế kỉ nhng hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn
còn phong phú về thành phần loài. Tuy đến nay cha có một tài liệu nào thống kê
mô tả một cách chi tiết thành phần loài thực vật nhng theo báo cáo của giáo s Phan
Kế Lộc (1997) thì hệ thực vật Việt Nam hiện đã thống kê đợc 9.607 loài thuộc
2010 giống, 291 họ của 6 ngành. Các nhà phân loại học thực vật dự đoán rằng, nêu
điều tra tỉ mỉ thì thành phần loài thực vật Việt Nam có thể lên tới 15.000 loài
( Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997). Ngoài đặc điểm đa dạng loài, hệ thực vật ở Việt
Nam có mức độ đặc hữu cao. Tuy không có họ đặc hữu nhng có khoảng 27,7 % số
loài và 3 % số chi đặc hữu.
Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú. Có khoảng gần 6000 loài
thuộc 270 họ. Cũng nh thực vật, giới động vật Việt Nam có nhiều loài và phân loài
đặc hữu. Trong số loài động vật có xơng sống ở cạn đã biết, chúng ta có 14 loài
thú, 10 loài chim, 33 loài bò sát và 21 loài ếch nhái là đặc hữu.
4.2. Suy giảm ĐDSH và nguyên nhân
Cùng những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, ĐDSH trên thế giới và ở
Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Một trong những dấu hiệu quan
trọng nhất của sự suy thoái ĐDSH là sự tuyệt chủng loài do môi trờng sống bị tổn
hại. Quần xã sinh vật có thể bị thoái hoá hay bị suy giảm trong một vùng song nêu
một số loài nguyên bản còn sống sót thì quần xã đó vẫn còn tiễm năng để phục
hồi. Loài bị tuyệt chủng thì quần thể của loài đó sẽ không bao giờ có cơ hội để
phục hồi, quần xã chứa quần thể loài đó sẽ bị nghèo đi một phần và con ngời sẽ
không bao giờ còn cơ hội để nhận biết tiềm năng của loài đó.
* Thế giới :
- Sự tuyệt chủng trong quá khứ: Trong giai đoạn từ kỷ Cambrian đến nay,
các nhà cố sinh học đã cho rằng có ít nhất 5 lần tuyệt chủng:
Nguyễn Thị Ngọc ánh Kinh tế Môi trờng K42

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét