Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

3.Từ kinh tế thị trờng tự do sang kinh tế hỗn hợp
Xuất phát của quan điểm kinh tế hỗn hợp có từ cuối những năm của
thế kỷ XIX. Sau khi thời kỳ chiến tranh, nó đợc các nhà kinh tế học Mỹ, nh
A.Hasen, tiếp tục nghiên cứu. T tởng này đợc phát triển trong kinh tế học của
P.A.Samuelson.
Nếu các nhà kinh tế học Cổ điển và Cổ điển mới say sa với bàn tay vô
hình và cân bằng tổng quát, trờng phái Keynes và Keynes mới say sa với
bàn tay nhà nớc, thì P.A.Samuelson chủ trơng phát triển kinh tế phải dựa vào
cả hai bàn tay, là cơ chế thị trờng và nhà nớc. Ông cho rằng diều hành một
nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trờng thì cũng nh vỗ tay bằng một bàn
tay.
Cơ chế thị trờng là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, cá nhân ngời
tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trờng để xác định ba
vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: cái gì? Nh thế nào? Và cho ai? Cơ chế
thị trờng không phải là một sự hỗn hợp mà là trật tự kinh tế. Một nền kinh
tế thị trờng là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân
và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả thị trờng. Nó là một phơng tiện giao
tiếp để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác nhau, không
có bộ não trung tâm, nó vẫn giải đợc bài toán mà máy tính lớn nhất ngày nay
không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự nhiên, và cũng nh xã hội loài
ngời, nó đang thay đổi.
Thị trờng là một quá trình mà trong đó, ngời bán một thứ hàng hoá tác
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lợng hàng hoá. Nh vậy, nói đến
thị trờng và cơ chế thị trờng là phải nói tới hành hoá, ngời bán và ngời mua, giá
cả hàng hoá. Hàng hoá bao gồm tiêu dùng, dịch vụ và yếu tố sản xuất nh lao
động, đất đai, t bản. Từ đó hình thành nên thị trờng hàng tiêu dùng và thị trờng
các yếu tố sản xuất. Trong hệ thống thị trờng, mỗi hàng hoá, mỗi loại dịch vụ
đều có giá cả của nó. Giá cả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán. Và
mỗi ngời lại dùng thu nhập đó để mua hàng mình cần. Nếu một loại hàng hoá
nào đó có nhiều ngời mua, thì ngời bán sẽ tăng giá lên để phân phối một lợng
cung hạn chế. Giá lên cao sẽ thúc đẩy ngời sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn.
Khi có nhiều hàng hoá, ngời bán muốn mua nhanh để giải quyết hàng của mình
nên hạ giá xuống. Khi hạ giá, số ngời mua hàng đó tăng lên. Do đó, ngời bán lại
tăng giá lên. Nh vậy, trong cơ chế thị trờng có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối
giữa giá cả và sản xuất. Giá cả là phơng tiện tín hiệu của xã hội. Nó chỉ cho
ngời sản xuất biết sản xuất cái gì và nh thế nào và cũng thông qua đó thực hiện
phân phối cho ai.
Nói đến cơ chế thị trờng là ta phải nói đến cung - cầu hàng hoá, đó là sự
khái quát của hai lực lợng ngời bán và ngời mua trên thị trờng. Sự biến động
của giá cả đã làm cho trạng thái cân bằng cung - cầu thờng xuyên biến đổi và
đó cũng chính là nội dung của quy luật cung - cầu hàng hoá.
Nền kinh tế thị trờng chịu sự điều khiển của hai ông vua: Ngời tiêu dùng
và kỹ thuật. Ngời tiêu dùng thống trị thị trờng, vì họ là ngời bỏ tiền ra để mua
hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất. Song, kỹ thuật hạn chế ngời tiêu dùng vì
nền sản xuất bằng tiền của ngời mua, không thể quyết định vấn đề phải sản xuất
hàng gì. Nh vậy, nhu cầu phải chịu theo cung ứng của ngời kinh doanh. Vì ngời
sản xuất phải định giá hàng của mình theo chi phí sản xuất. Nên họ sẵn sàng
chuyển sang lĩnh vực nhiều lợi nhuận hơn. Nh vậy thị trờng chịu sự chi phối của
cả chi phí kinh doanh, lẫn các quyết định cung-cầu của ngời tiêu dùng quy định.
ở đây, thị trờng đóng vai trò môi giới trung gian hoà giải sở thích ngời tiêu
dùng và hạn chế kỹ thuật.
Cũng trong nền kinh tế thị trờng, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt
động của ngời kinh doanh. Lợi nhuận đa các nhà doanh nghiệp đến các khu vực
sản xuất hàng hoá mà ngời tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ qua các khu vực ít có
ngời tiêu dùng. Lợi nhuận đa các nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật
sản xuất hiệu quả nhất. Nh vậy, hệ thống thị trờng luôn phải là một hệ thống
hỗn hợp để giải quyết tốt nhất ba vấn đề có bản của nền kinh tế.
IIICơ chế thị trờng
1.Hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động , một là nó có thể thoả mãn đợc nhu
cầu nào đó của con ngời, hai là nó đợc sản xuất ra không phải để ngời sản xuất
ra nó tiêu dùng mà là để đem ra trao đổi. Hàng hoá có hai thuộc tính: Bao gồm
thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị là lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng
hoá. Sản phẩm nào mà không chứa đựng lao động của con ngời thì không có giá
trị, khi giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi. Giá trị trao đổi chính là
hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị là một phạm trù lịch sử nó gắn liền với
nền sản xuất hàng hoá, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì còn tồn tại
phạm trù giá trị.
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu
nào đó của con ngời. Công dụng của sản phẩm do thuộc tính tự nhiên của sản
phẩm đó qui định. Giá trị sử dụng thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng nó là
nội dung của của cải, không kể hình thức xã hội của cải đó nh thế nào. Với ý
nghĩa nh vậy thì giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Một sản phẩm đã là
hàng hoá thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng nhng không phải bất cứ sản phẩm
gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hoá. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử
dụng là cái mang giá trị trao đổi.
2.Tiền tệ
Trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, ngời ta đổi trực tiếp một vật
này lấy một vật khác, với sự phát triển tiếp tục của phân công lao động xã hội
và trao đổi hàng hoá trong thời kì suy tàn của chế độ công xã nguyên thuỷ,
những nhợc điểm của hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng càng thể hiện rõ
rệt.Trong quá trình troa đổi hàng hoá xuất hiện một nhu cầu là những ngời chủ
hàng hoá phải tìm đợc một loại hàng hoá nào mà đợc nhiều ngời a thích để đổi
hàng hoá của mình lấy hàng hoá đó. Sau đó dùng hàng hoá ấy đổi lấy thứ hàng
hoá mà mình cần. Nh vậy việc trao đổi không còn là trực tiếp mà phải qua một
bớc trung gian. Lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển cuộc phân công lao động
xã hội lớn lần thứ hai thúc đẩy mạnh sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng
hoá, điều đó đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất giữa các vùng, nh
vậy tiền tệ đã xuất hiện. Tiền tệ xuất hiện là kết quả lâu dài và tất nhiên của trao
đổi hàng hoá. Tiền tệ có khả năng trao đổi trực tiếp với mọi hàng hoá,nó trở
thành phơng tiện biểu hiện giá trị của các hàng hoá. Tiền tệ là thứ hàng hoá đặc
biệt đợc tạo ra là vật ngang giá chung cho các hàng hoá khác. Nó thể hiện giá
trị lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những ngời sản xuất hàng hoá.
Từ sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và trao đổi đã ra đời một loại hàng
hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung. Đó là tiền tệ. Trong lịch sử tiền
tệ, nhiều loại hàng hoá đã đợc sử dụng cho vai trò này nh vỏ ốc, gia súc, sắt,
đồng, bạc, vàng Bản thân chúng là những yếu tố vật chất và có giá trị. Sự ra
đời của tiền giấy đánh dấu một sự thay đổi to lớn trong quá trình phát triển của
chúng tính bằng bạc, hoặc vàng. Nhng ngày nay mọi nền kinh tế hiện đại đều
không có bất kỳ một sự hứa hẹn đảm bảo giá trị thực của chúng.
Nhu cầu trao đổi đã phát triển đến mức cần có những loại tiền mới không
chỉ là tiền giấy, séc mà còn thẻ tín dụng, tiền điện tử v.v Nó đợc chuyển nhợng
thông qua các máy tính, đờng điện thoại và thậm chí có thể tồn tại trên giấy tờ.
Nh vậy ngày nay, tiền đợc coi là mọi thứ đợc xã hội chấp nhận dùng làm
phơng tiện thanh toán và trao đổi. Bản thân chúng có thể có hoặc không có giá
trị riêng.
3. Giá cả.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng
hoá nói chung cũng nh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá
độ ở nớc ta, giá cả là công cụ vô cùng quan trọng không những đẻ bảo đảm cho
lu thông hàng hoá cũng tứ là cho sinh hoạt hoạt động thơng nghiệp đợc thuận
lợi mà còn để điều tiết sản xuất và tiêu dùng theo hớng có lợi cho lao động. Giá
cả trong thời kì quá độ thể hiện những lợi ích khác nhau, cho nên phải có chính
sách đúng đắn để tạo ra một sự nhất trí giữa các lợi ích đa dạng đó.
Giá cả phản ánh tình hình cung-cầu, có thể nhận biết sự khan hiếm tơng
đối của hàng hoá qua sự biến đổi giá cả. Tin tức về giá cả có thể hớng dẫn đơn
vị kinh tế có liên quan định ra những quyết sách đúng đắn, không có những
thông tin về giá cả quyết sách sẽ không chuẩn xác thậm trí có những quyết sách
mù quáng.Trong lĩnh vực phân phối,lu thông và tiêu dùng, sự biến đổi giá cả
cũng cung cấp những thông tin cần thiết để chính phủ, xí nghiệp và cá nhân
định ra những quyết định.
Sự biến động của giá cả có thể dẫn tới sự biến động của cung cầu, sản
xuất và tiêu dùng, biến động về lu chuyển tài nguyên. Khi giá cả của một loại
hàng hoá nào đó tăng lên thì ngời sản xuất nói chung có thể tăng sản xuâts mặt
hàng đó và tất nhiên sẽ thu hút tài nguyên xã hội lu chuyển vào ngành đó nhng
giá cả tăng có thể làm cho tiêu dùng giảm nhu cầu về loại hàng hoá đó. Khi giá
cả giảm ngời sản xuất nói chung có thể giảm sản xuất loại hàng hoá ấy và do đó
một phần tài nguyên có thể không lu chuyển vào ngành ấy, tiêu dùng lại có thể
tăng lên. Chính trong quá trình này mà giá cả điều tiết qui mô sản xuất của xí
nghiệp sự bố trí tài nguyên giữa các ngành và cân đối giữa tổng cầu và tổng
cung của xã hội.
Giá cả lên xuống nh một bàn tay vô hình điều tiết lợi ích của mọi ngời,
chỉ huy hành động của ngời sản xuất, điều tiết hành vi của ngời tiêu dùng.Giá
cả còn có chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, giảm lợng lao động xã hội trung
bình cần thiết và chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, thu
nhập cá nhân. Giá cả chỉ có thể phát huy các chức năng trên dựa vào tiền tệ. Giá
cả có đầy đủ tính đàn hồi, thị trờng phải có tính cạnh tranh đầy đủ nếu không sẽ
làm thiệt hại chức năng của giá cả.
Trớc đây do cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu nên tác dụng của
qui luật giá trị bị xem nhẹ, vì thế hệ thống giá cả của nớc ta rất bất hợp lí. Giá
cả không phản ánh đợc giá trị cũng không phản ánh đợc cung- cầu, tỷ giá giữa
các hàng hoá khác nhau cũng nh giữa các hàng hoá cùng loại cũng bất hợp lí.
Sự bất hợp lí trên làm cho giá cả không phát huy đợc vai trò là đòn bẩy kinh tế
mạnh mẽ đối với sự phát triển của sản xuất và phát huy tính tích cực của ngời
lao động.
Để chuyển sang cơ chế thị trờng, điều đầu tiên đặt ra đối với sự hình
thành giá cả là phải lấy giá trị làm cơ sở và dựa vào yêu cầu của qui luật giá trị
Đồng thời sự hình thành giá cả hàng hoá còn phải chịu quan hệ của qui luật
cung - cầu hàng hoá, số lợng phát hành tiền giấy với chính sách kinh tế của nhà
nớc ở mỗi thời kì nhất định Qui luật giá trị quyết định giá cả thông qua cung
cầu có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trờng. Cho nên vận dụng qui
luật giá trị, tình hình cung cầu trên thị trờng để hình thành giá cả là phơng tiện
và là con đờng quan trọng thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Mặc dù cơ chế thị trờng ở nớc ta trong thời kì quá độ lên CNXH là cơ chế
có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, song cơ chế hình
thành giá cả phải từ thị trờng là chủ yếu, ngời sản xuất kinh doanh có quyền
định giá.Cơ chế hình thành giá này đòi hỏi nhà nớc trong khi chỉ đạo và quản lý
giá cả phải làm cho tuyệt đại đa số hàng hoá phù hợp với giá thị truờng do các
tổ chức kinh tế căn cứ vào quan hệ cung cầu của thị trờng qui định, thông qua
giá cả nhà nớc điều tiết, hớng dẫn việc đầu t một cách hợp lý.
4. Lợi nhuận.
Do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ
nghĩa, nên khi bán hàng hoá theo giá cả thị thờng (bằng giá trị hàng hoá) nhà t
bản thu đợc một khoản tiền lời gọi là lợi nhuận. So sánh lợi nhuận với giá trị
thặng d cho thấy:
Về lợng, nếu cung bằng cầu và do đó giá hàng hoá bán ra theo đúng giá
trị của nó thì số lợng lợi nhuận thu đợc bằng giá trị thặng d. Nếu cung nhỏ hoặc
lớn hơn cầu giá cả hàng hoá có thể sẽ cao hơn lợng hay thấp hơn giá trị của nó
thì từng t bản cá biệt có thể thu đợc một lợng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn l-
ợng giá trị thặng d. Nhng trong toàn xã hội, tổng số giá cả ngang bằng với tổng
số giá trị của hàng hoá, tổng số lợi nhuận ngang bằng với tổng số giá trị thặng
d.
Về chất, giá trị thặng d là bộ phận giá trị mới do lao động mà công nhân
tạo ra trong lĩnh vực sản xuất dôi ra ngoài phânf bù lại giá trị trung bình khả
biến mà nhà t bản đã trả cho công nhân, còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện
bên ngoài của giá trị thặng d, là giá trị thặng dự khi nó địc quan niệm là con đẻ
của toàn bộ t bản ứng ra, là kết quả hoạt động của toàn tue bản đầu t vào sản
xuất và kinh doanh.
C.Mác viết: giá trị thặng d hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi
ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi
ra của tổng số lợng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lợng lao
động đợc trả công chứa đựng trong hàng hoá.
Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa t
bản và lao động, vì nó làm cho ngời ta tởng rằng giá trị thặng d không phải chỉ
do lao động làm thuê tạo ra. Thực chất lợi nhuận và giá trị thặng d cũng là một,
lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí của giá trị thặng d
5.Quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng
hoá. Chừng nào còn trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị.
Theo quy luật này, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lợng
giá trị hàng hoá hay thời gian lao động cần thiết. Trong nền kinh tế hàng hoá,
vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất ra có bán đợc hay không? Để hàng hoá
có thể bán đợc thì hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp
với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là phải phù hợp với mức hao phí
mà xã hội có thể chấp nhận đợc. Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao
phí lao động xã hội cần thiết. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể
trao đổi với nhau đợc khi lợng giá trị của chúng ngang nhau. Theo nghĩa đó thì
trao đổi phản ánh theo nguyên tắc ngang giá. Quy luật giá trị là trừu tợng. Nó
thể hiện sự vận động thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá.
Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối t liệu sản xuất vá
sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự bién động của giá cả hàng
hoá. Nh dã nói trên, do ảnh hởng của quan hệ cung - cầu, giá cả hàng hoá trên
thị trờng lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Nếu có ngành nào đó cung không
đáp ứng cầu, giá cả hàng hoá lên cao thì sản xuất đổ xô vào ngành đó. Ngợc lại,
khi ngành đó thu hút quá nhiều lao động xã hội, cung vợt quá cầu, giá cả hàng
hoá hạ xuống thì ngời sản xuất sẽ phải chuyển bớt t liệu sản xuất và sức lao
động ra khỏi ngành này để đầu t vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ vậy, t liệu
sản xuất và sức lao động đợc phân phối qua lại một cách tự phát vào các ngành
sản xuất khác nhau. Sự biến động xung quanh giá trị không những chỉ rõ sự
biến động về kinh tế mà còn có tác dụng điều tiết nguồn hàng từ nơi giá thấp
đến nơi giá cao.
Trong nền sản xuất hàng hoá, ngòi nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn
hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá thì ngời đó có
lợi, còn ngời nào có hao phí cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết thì
sẽ bị thiệt, vì không thu đợc toàn đợc lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và
thắng trong cạnh tranh mỗi ngời sản xuất đều luôn luôn tìm cách cải tiến kỹ
thuật, tăng năng suất lao động. Vì thế, trong nền kinh tế hàng hoá, lực lợng sản
xuất đợc kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự
cấp, tự túc.
Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi ngời
sản xuất không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Nh vậy, quy luật giá trị có
ý nghĩa bình tuyển, đánh giá ngời sản xuất. Về phơng diện này quy luật giá trị
bảo đảm sự bình đẳng đối với ngời sản xuất.
6.Quy luật cung-cầu
Cầu là khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà ngời tiêu dùng mua trong một
thời kỳ tơng ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định. Ngời tiêu
dùng ở đây bao gồm dân c, các doanh nghiệp nhà nớc và cả nớc ngoài. Tiêu
dùng bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
Lợng cầu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu nh: thu nhập, sức mua của
tiền tệ, giá cả hàng hoá, lãi suất, thị hiếu của ngời tiêu dùng. Trong đó, giá cả
hàng hoá là nhân tố tác động trực tiếp và tỷ lệ nghịch với lợng cầu, giá cả càng
cao thì cầu về hàng hoá đó thấp, ngợc lại giá cả hàng hoá thấp, lợngcầu sẽ cao.
Cung là khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà chủ thể kinh tế đem bán ra thị
trờng trong một thời kỳ nhất định, tơng ứng với mức giá cả, khả năng sản xuất,
chi phí sản xuất xác định.
Lợng cung phụ thuộc vào khả năng sản xuất, vào số lợng và chất lợng các
nguồn lực, các yếu tố sản xuất đợc sử dụng, năng suất lao động và chi phí sản
xuất. Giá cả của hàng hoá và dịch vụ trên thị trờng là yếu tố trực tiếp ảnh hởng
tới lợng cung về hàng hoá, dịch vụ đó. Cung tỷ lệ thuận với giá. Giá cả cao thì
cung lớn và ngợc lại, giá cả thấp thì cung giảm.
Quan hệ cung cầu là quan hệ giữa những ngời bán và những ngời mua,
giữa những ngời sản xuất và ngời tiêu dùng; là những quan hệ có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế hàng hoá. Không phải chỉ có giá cả ảnh hởng tới cung
cầu mà quan hệ cung cầu ảnh hởng tới việc xác định giá cả trên thị trờng.
Khi cung lớn hơn cầu, ngời bán phải giảm gía, giá cả có thể thấp hơn giá
trị hàng hoá . Khi cung nhỏ hơn cầu, ngời bán có thể tăng giá, giá cả có thể cao
hơn giá trị. Khi cung bằng cầu, ngời bán sẽ bán hàng hoá theo đúng giá trị giá
cả bằng giá trị. Khi đó cân bằng thị trờng xuất hiện tại mức giá mà tại đó lợng
cung và cầu bằng nhau. Mức giá đó gọi là giá cân bằng, sản lợng đó gọi là sản
lợng cân bằng.
Phần 2
Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.
I.Sự cần thiết khách quan hình thành và phát triển kinh tế thị tr ờng định
h ớng XHCN ở Việt Nam
1.Cơ chế cũ và hạn chế của nó.
Cơ chế cũ là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đó là cơ chế mà ở đó
Nhà nớc quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, thể hiện ở
sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do Trung ơng giao bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp
lệnh từ một trung tâm. Các doanh nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của nhà
nớc từ đó lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình.
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các cơ quan nhà nớc can thiệp
qúa sâu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhng lại
không chịu trách nhiệm gì đối với các quyết định của mình, từ đó làm cho các
doanh nghiệp thụ động không phát huy đợc tính sáng tạo, các quan hệ kinh tế bị
hiện vật hoá. Quan hệ hàng hoá tiền tệ chỉ mang tính hình thức, bỏ qua hiệu quả
kinh tế, quản lý kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát, giao nộp. Bộ
máy quản lý cồng kềnh, nhiều khâu trung gian nhng kém năng lực.
Cơ chế tập trung bao cấp đã góp phần cho thắng lợi giải phóng đất nớc,
nhng sau khi điều kiện kinh tế xã hội đã thay đổi. Đặc biệt khi trình độ phát
triển kinh tế đã nâng cao lên rất nhiều, cơ cấu càng phức tạp thì những khuyết
điểm bên trong nền kinh tế kế hoạch ngày càng bộc lộ. Cuộc chạy đua theo mục
tiêu chế độ quốc hữu hoá làm loại bỏ hoặc hạn chế chế độ kinh tế phi quốc hữu,
kiềm chế cạnh tranh nên khó làm sống động nền kinh tế.
Trên thực tế kinh tế kế hoạch lấy chủ nghĩa bình quân làm phơng châm
phân phối cho nên đã kìm hãm tích cực và sáng tạo của ngời sản xuất kinh
doanh. Chúng ta thực hiện phân phối theo lao động trong điều kiện cha cho
phép. Trong hoạt động kinh tế việc nhà nớc quản lý hành chính bằng mệnh lệnh
trực tiếp, chính quyền và xí nghiệp không tách riêng, đầu vào cao đầu ra thấp đã
trở thành những căn bệnh cũ của nền kinh tế kế hoạch.Những điều trên đã gây
trở ngại cho sự phát triển sản xuất xã hội. Trớc tình hình đó việc chuyển đổi nền
kinh té nớc ta sang nền kinh tế thị trờng là đúng đắn phù hợp với thực tế, qui
luật kinh tế và xu thế của thời đại
2.chủ trơng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
xã hội chủ nghĩa.
Trong khi các nớc trong khu vực đã đạt đợc những bớc phát triển nhảy
vọt dựa vào cơ chế kinh tế thị trờng, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, xây
dựng cơ cấu kinh tế hớng bên ngoài, thì Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn
theo đổi cơ chế kế hoạch hoá tập trung bằng mệnh lệnh hành chính, quan liêu từ
trung ơng và cơ cấu kinh tế hớng nội là chủ yếu, đã kìm hãm khả năng hoà nhập
vào trào lu phát triển của khu vực.
Sau đại hội 6(1986), do đổi mới nói chung và sự đổi mới trong nhận thức
xã hội, Đảng ta nhận định rằng để phát triển theo kịp các nớc trong khu vực và
thế giới thì phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã
hội chủ nghĩa có sụ quản lý của nhà nớc.
Bởi vì hiện nay ở nớc ta, các điều kiện của sản xuất hàng hoá vẫn còn
đang tồn tại. Phân công lao động: ở nớc ta đang tồn tại hệ thống phân công lao
động do lịch sử để lại với nhiều ngành nghề. Với sự phát triển khoa học kỹ thuật
hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện làm cho sự phân công lao động ở nớc
ta trở nên phong phú hơn, nó tạo điều kiện cho hàng hoá phát triển. ở nớc ta
cũng đang tồn tại quan hệ sở hữu đa dạng về t liệu sản xuất và ứng với nó là
nền kinh tế nhièu thành phần. Điều đó tạo nên sự độc lập về mặt kinh tế giữa
các thành viên, doanh nghiệp. Nó cũng có tác dụng làm cho hàng hoá phát
triển.
Mặt khác, kinh tế hàng hoá phát triển, nó thúc đẩy quá trình phân công
lao động, quá trình chuyên môn hoá và hiện đại hoá. Qua đó thiết lập đợc mối
quan hệ kinh tế giữa các vùng xoá bỏ tình trạng tự cung, tự cấp. Đẩy mạnh quá
trình xã hội hoá sản xuất. Nó thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn và lao
động thể hiện ở quy mô của các doanh nghiệp, quy mô về kinh tế ngày càng
tăng.
Kinh tế hàng hoá góp phần tăng năng suất lao động thực hiện dân chủ
hoá đời sống kinh tế. Nó khai thác đợc thế mạnh từng ngành, từng địa phơng để
làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, tạo tiền đề cho việc mở rộng liên kết, liên
doanh cả trong nớc và nớc ngoài. Mở rộng phạm vi giao lu hàng hoá giữa nớc ta
và các nứơc khác. Là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh
vực khác.
Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào cũng có phơng thức sản xuất
giữ vị trí chi phối. Ngoài ra, còn có phơng thức sản xuất tàn d của xã hội trớc và
phơng thức sản xuất mầm mống của xã hội tơng lai. Các phơng thức sản xuất
này ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối bởi phơng thức sản xuất thống trị.
Tronh một hình thái kinh tế xã hội có nhiều phơng thức sản xuất biểu
hiện thành phần kinh tế. Trong thời kỳ quá độ, cha có thành phần kinh tế nào
giữ vai trò thống trị, chi phối các thành phần kinh tế khác, mà chúng chỉ là
những mảnh, những bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội trong một hệ
thống thống nhất biện chứng. Mỗi thành phần kinh tế có kiểu tổ chức sản xuất
kinh doanh của nó hợp thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Nền kinh tế thời kỳ quá độ tồn tại nhiều thành phần kinh tế là vì:
Thứ nhất, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động dành chính
quyền, tiếp quản nền kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất.
Thực tế có hai loại t hữu: t hữu lớn:nhà máy, hầm mỏ, doanh nghiệp, đồn
điền của các chủ t bản trong và ngoài nớc-đó là kinh tế t bản chủ nghĩa, và t
hữu nhỏ: gồm những ngời nông dân cá thể, những ngời buôn bán nhỏ, đó là sản
xuất nhỏ cá thể.
Thái độ của chính quyền mới đối với hai loại t hữu trên là khác nhau. Đối
với t hữu lớn kinh tế t bản t nhân, chỉ có phơng pháp duy nhất là quốc hữu hoá.
Lý luận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa Mac-Lênin khẳng định không nên quốc
hữu hoá ngay một lúc mà phải đợc tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và và
bằng hình thức, bằng phơng pháp nào là từy điều kiện cụ thể, cho nên những
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa còn tồn tại nh một tất
yếu. Đồng thời hớng chủ nghĩa t bản vào con đờng t bản Nhà nớc, hình thành
thành phần kinh tế t bản nhà nớc.
Đối với t hữu nhỏ thì chỉ có thông qua con đờng hợp tác hoá, theo các
nguyên tắc mà Lênin vạch ra là tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi tuân
theo các quy luật khách quan. Do đó trong thời kỳ quá độ còn tồn tại thành
phần kinh tế cá thể. Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ do lịch sử để lại, chúng
còn có vai trò, chức năng, nhiệm vụ, còn có khả năng phát triển Vì thế nhà nớc
bằng các chính sách biện pháp sử sụng các thành phần kinh tế t nhân phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Thứ hai, sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, do đặc điểm lịch sử, điều
kiện chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đều về lực lợng
sản xuất giữa các ngành, các vùng, các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không
đều đó quyết định quan hệ sản xuất, trớc hết là hình thức, quy mô và quan hệ sở
hữu phải phù hợp với nó nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống
nhau. Đó là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau.
Thứ ba, để phát triển kinh tế, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, xã
hội, nhà nớc xây dựng hệ thống những có sở kinh tế mới, hình thành thành phần
kinh tế nhà nớc. Mặt khác, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế, quốc
hữu hoá hợp tác và đầu t nớc ngoài, nhà nớc cùng các nhà nớc cùng các nhà t
bản, các công ty trong và ngoài nớc, hình thành kinh tế t bản nhà nớc.
Việc nhận thức và tổ chức thực hiện trên thực tế các thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
Hiện nay, ở nớc ta đang tồn tại nhiều trình độ khác nhau của lực lợng sản
xuất (thủ công, trình độ cơ khí, tự động hoá, tin học hoá ). Vì vậy khi thiết lập
quan hệ sở hữu thì cũng phải đa dạng phù hợp ở nớc ta hiện nay có thể làm xuất
hiện thêm một số thành phần kinh tế khác.
ở nớc ta tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách
quan. Vì kinh tế nhiều thành phần, đây là tồn tại khách quan do lịch sử để lại
trong thời kỳ quá độ và có nhiều thành phần kinh tế mà sụ tồn tại của nó vẫn có
lợi cho sự phát triển đất nớc. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm thực hiện
cái quy luật: Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất. Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm để cho sản xuất
nớc ta phát triển liên tục không bị gián đoạn. Phát triển kinh tế nhiều thành
phần nhằm tạo ra sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế thị trờng hiện nay ở
nớc ta.
Tóm lại: Trong thời kỳ quá độ tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần
không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn có một tác dụng tích cực tolớn đối
với sự phát triển của nền kinh tế.Cụ thể là:
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần cũng có ý nghĩa là tồn tại nhiều
hình thức quan hệ sản xuất , do đó nó sẽ phù hợp với các trình độ phát triển
khác nhau về lực lợng sản xuất từ đó mà có thể tăng năng suất lao động, tăng
tốc độ phát triển kinh tế, tăng hiệu quả kinh tế trong mỗi thành phần cũng nh
trong toàn bộ nền kinh tế .
Góp phần khôi phục kinh tế cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là đảm bảo quyền tự do
kinh doanh, quyền dân chủ về kinh tế cho mọi công dân. Một công dân đều có
quyền hoạt độngtrong nền kinh tế thị trờng (theo đúng pháp luật) để làm giài
cho mình và cho xã hội.
Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần không những tạo điều kiện sử
dụng sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế trong nớc mà còn tạo ra
môi trờng thông thoáng ,thích hợp cho sự thu hút vốn, khoa học kĩ thuật tiên
tiến của thế giới .
Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần không những tạo điều kiện thực
hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là hình thức kinh tế t bản
nhà nớc, là cầu nối là trung gian cần thiết để chuyển nền kinh tế nớc ta từ sản
xuất nhỏ nên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Từ những tác động tích cực mà hội nghị trung ơng lần thứ VI khoá VI đã
chỉ rõ: chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lợc lâu dài, có
tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần
dân chủ về kinh tế, đảm bảo cho mọi ngời làm ăn theo pháp luật.
Khi cơ chế cũ kìm hãm sự phát triển kinh tế Việt Nam trong nhiều năm.
Điều đó đặt ra một yêu cầu khách quan là phải đổi mới cơ chế kinh tế, thay thế
cơ chế mới vào cơ chế cũ. Trong khi đó, cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nớc đang đợc áp dụng rộng rãi, phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới và đã đạt đợc
những thành tựu rất đáng quan tâm. Vì vậy, chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa là cần thiết,
khách quan.
Kinh tế thị trờng định hỡng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức
nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trờng, vừa
dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đây chính là mô
hình kinh tế mở, trong đó có sự kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù. Cái
chung kà nền kinh tế thị trờng, cái đặc thù - định hớng xã hội chủ nghĩa. Chúng
ta không chủ trơng xây dựng mô hình kinh tế thị trờng bất kỳ, trừu tợng, càng
không chủ trơng xây dựng mô hình kinh tế t bản mà chủ trơng xây dựng mô
hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, không thể lấy kinh tế

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét