Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Công tác tổ chức kế toán lao động tiền lương & các khoản tính theo lương tại Công ty Thực phẩm Miền bắc - Finoxim

PHẦN I. LÝ LUẬN CƠ BẢN, PHƯƠNG PHÁP
HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG
I. TIỀN LƯƠNG VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN LƯƠNG.
1. Các quan điểm về tiền lương.
Khi phân tích về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nơi mà các quan hệ thị
trường thống trị mọi quan hệ kinh tế, xã hội khác (Mác viết “Tiểu công
nghiệp không phải giá trị hay giá các cả lao động mà chỉ là một hình thức cái
trong của giá trị hay giá cả sức lao động”
Tiền lương phản ánh quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau. Tiền lương,
trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (mua sức lao động) trả cho
người lao động (người bán sức lao động). Đó là quan hệ kinh tế của tiền
lương. Mật khác, do tính chất đặc điểm của loại hàng hoá sưc lao động mà
tiền lương không thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội rất quan
trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ xã hội…
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu một cách
thống nhất sau “về thực chất, tiền lương dưới chủ nghĩa xã hội là một phần
thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được nhà nước phân phối
có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng
lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh sự trả công cho
công nhân viên chức dựa vào nguyên tắc phân phối thu lao động nhằm tái sản
xuất lao động. Nói chung, khái niệm về tiền lương hoàn toàn nhất trí với quan
hệ sản xuất và cơ chế phân phối của nền kinh tế hế hoạch hoá tập trung xã
hội cơ chế thị trường buộc chúng ta phải có những thay đổi trong nhận thức,
vì vậy quan niệm về tiền lương cũng phải được đổi mới về cơ bản “ tiền
lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của yếu tố sức
lao động mà người sử dụng (nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người
cung ứng lao động, tuân thủ các nguyên tắc cung, cầu, giá cả của thị trường
và pháp luật hiện hành của nhà nước”trong quá trình hoạt động nhất là trong
hoạt động kinh doanh đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần
5
chi phí cấu thành chi phí sản xuất – kinh doanh. Vì vậy tiền lương luôn được
tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với người lao động, tiền lương là thu nhập
từ quá trình lao động của họ. Phấn đấu nâng cao mức lương là mục đích của
hầu hết người lao động mục đích này tạo động lực để người lao động phát
triển trình độ, và khả năng lao động của mình.
Mặt khác tiền lương còn phản ánh quan hệ phân phối sản phẩm giữa
toàn xã hội. Mức tiền lương, sự vận động của tiền lương được quyết định bởi
các quy luật kinh tế, có cơ sở để xác định mức tiền lương chủ yếu dựa trên
trình độ phat triển của sản xuất xã hội chính sách tiền lương của doanh
nghiệp, dựa trên yêu cầu cần phát triển toàn diện của người lao động và giới
hạn tăng tiền lương.
Tiền lương – tiền công cần phải xác định trên cơ sở tính đúng, tính dư
giá trị sức lao động dựa trên hao phí lao động và hiệu quả lao động. Đó là giá
trị các yếu tố đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động thoả mãn nhu cầu
tối thiểu của cuộc sống và các nhu cầu khác.
Trong điều kiện vừa một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở
nước ta hiện nay phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành
phần và khu vực kinh tế.
Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp
(khu vực lao động được nhà nước trả lương, các cơ quan tổ chức của nhà
nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách nhà nước và được thể
hiện trong hệ thống thang lương bảng lương do nhà nước quy định.
Trong các thành phần khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương chịu
sự tác động, chi phối lớn của thị trường lao động tiền lương trong khu vực
này dù vẫn nằm trong khuôn khổ luật pháp và theo hướng chính sách của
chính phủ, nhưng là những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thuê, nhưng “mác
nói”cụ thể giữa một bên làm thuê và một bên đi thuê. Những hợp đồng lao
động này có tác động trực tiếp đến phương thức trả công.
Tổ chức hợp lý tiền lương có một vai trò quan trọng trong việc nâng cao
năng xuất lao động, tăng hiệu quả kinh tế. Đây chính là động lực thúc đẩy
từng cá nhân lao động hàng hoá làm việc, nâng cao năng suất lao động.
Nhà nước căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội giá cả thu nhập quôc dân
để quy định mức lương tương đối thiếu cho từng khu vực, từng vùng, các
doanh nghiệp không được ttrả lương với mức lương thấp hơn mức lương tối
6
thiểu, quy định nhằm đảm bảo cho người lao động có thể tái sản suất lao
động.
Ngoài bản chất kinh tế, tiền lương còn mang tính xã hội vì nó gắn liền
với người lao động và cuộc sống của họ. Sức lao động của con người không
giống như các loại hàng hoá khác mà là tổng thể của các mối quan hệ vì vậy
khi tiến hành công tác xây dựng và các chi trả lương trong doanh nghiệp
không những chỉ tính về mặt kinh tế xã hội mà còn phải đề cập và tính toán
đủ cả về mặt xã hội của tiền lương.
2. Vai trò, chức năng của tiền lương.
* Vai trò của tiền lương: Trong nền kinh tế quốc dân thì tiền lương được
coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng mà không có một quốc gia nào là không
quan tâm tới và nó cũng là một cộng cụ quản lý ở đơn vị sản xuất kinh doanh,
Một động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển. Trong phạm vi doanh
nghiệp, tiền lương có vai trò quan trọng việc kích thích lao động tăng năng
suất lao động trách nhiệm của người lao động với quá trình sản suất và tái sản
suất đồng thời tiền lương phù hợp với đóng góp của người lao động sẽ đem
lại liềm lạc quan tin tưởng vào doanh nghiệp. Tiền lương là thu nhập chủ yếu
của cán bộ công nhân viên, là yếu tố để đảm bảo tái sản suất sức lao động,
nâng cao đời sống người lao động một bộ phận đặc biệt của lực lượng sản
xuất xã hội.
Vì vậy tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát
triển lực lượng lao động. Người lao động dùng tiền lương để trang trải các
chi phí trong gia đình, ngoài gia còn dùng để tích luỹ, nhưng trước hết tiền
lương phải đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hang ngày của người lao
động. Có thể nói đây là tác động quan trọng nhất, trực tiếp nhất của tiền
lương. Vì do đó, chức năng kinh tế quan trọng nhất của tiền lương là đảm bảo
tái sản xuất lao động.
Tiền lương phù hợp với hao phí lao động mà người lao động đã bỏ ra,
trong quá trình sản xuất vật chất sẽ gắn bó họ với công việc và tinh thần trách
nhiệm cao hơn. Được nhận tiền lương phù hợp với sức lao động mình bỏ ra
người lao động tự cảm thấy mình phải không ngừng nâng cao bồi dưỡng trình
độ mọi mặt.
7
Tiền lương còn có vai trò điều phối lao động. Với tiền lương thoả đáng
người lao động trí nguyện nhận công việc mình được giao dù ở đâu hay bất
cứ công việc nào.
Bảo đảm vai trò quản lý lao động của tiền lương doanh nghiệp sử dụng
công cụ tiền lương không chỉ có mục đích tạo điều kiện vật chất cho người
lao động mà cong có mục đích sử dụng lao động thông qua tiền lương người
sử dụng lao động thư dỗi kiểm tra giám sát người lao động làm việc theo mục
tiêu của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại hiệu quả rõ rệt. Hiệu
quả của tiền lương không chỉ theo hàng tháng mà còn được tính theo từng
ngày, từng giờ của toàn doang nghiệp. Để cho tiền lương thực sự là đòn bảy
kinh tế quan trọng phát huy tích cực về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội đang là vấn đề khó khăn đòi hỏi các nghiệp phải lựa chọn đúng hình thức
trả lương cho phù hợp với những đặc điểm riêng cho doang nghiệp mình phù
hợp với quy định là trả lương theo đúng giá trị sức lao động đã hao phí.
* Chức năng của tiền lương.
Quá trình tái sản xuất được thực hiện bội ước trả công cho người lao
động thông qua tiền lương. Bản chất của tái sản xuất sức lao động, nghĩa là
số tiền lương nhận đựơc người lao động chỉ để đủ sống mà còn đủ để nâng
cao trình độ về mọi mặt cho bản thân và có một phần để tích luỹ.
+ Chức năng kích thích người lao động:
Tiền lương đảm bảo và góp phần tác động để tạo cơ cấu lao động hợp
lý, trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích phát triển ngành và lãnh thổ. Khi
người lao động được trả công xứng đáng sẽ tạo niềm say mê hướng thú tích
cực làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo, tự học hỏi để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ gắn trách nhiệm cá nhân với lợi ích tập thể và
công việc.
Tiền lương là đòn bẩy kinh tế, là công cụ khuyến khích vật chất và là
động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, tiền lương phải được trả theo
kết quả của người lao động, mới khuyến kích được người lao động làm việc
có hiệu quả và năng suất.
+ Chức năng giám sát lao động.
Người sử dụng lao động thông qua việc trả lương cho người lao động có
thể tiến hành kiểm tra, theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch tổ
8
chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả
cao.
Nhà nước giám sát lao động bằng chế độ tiền lương đảm bảo quyền lợi
tối thiểu cho người lao động, khi họ hoàn thành công việc. Đặc biệt trong
trường hợp ngưới sử dụng lao động vì sức ép. Vì lợi nhuận mà tìm mọi cách
giám chi phí trong đó có chi phí tiền lương trả cho người lao động cần phải
được khắc phục ngay.
Ngoài ra chức năng vừa nên còn có một số chức năng khác như: chức
năng thanh toán, chức năng thước đo giá trị sức lao động, chức năng điều hoà
lao động.
3. Các nguyên tắc trả lương.
Để phát huy tốt tác dụng của tiền lương trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và hiệu quả của doanh nghiệp, khi các tổ chức tiền lương cho người
lao động cần đạt được các yêu cầu sau:
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho người lao động.
- Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.
- Đảm bảo tính đơn giản dễ tính, dễ hiểu.
Xuất phát từ yêu cầu trên, công tác tổ chức tiền lương phải bảo đảm
được các nguyên tắc sau.
Nguyên tắc 1: Đảm bảo nguyên tắc phân phối lao động và gắn với hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
Nguyên tắc 2: Tổ chức tiền lương phải đảm bảo tốc độ tăng năng suất
lao động lớn hơn tốc độ tăng trưởng của tiền lương bình quâ.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động các nguyên
tắc trên dù thực hiện tốt mà không đảm bảo những điều kiện sau đây thì
không có ý nghĩa. Việc trả lương:
+Theo điều luật 55: BLLĐ thì tiền lương của người lao động do hai bên
thoả thuận trong hợp đồng và được thực hiện theo năn suất lao động, chất
lượngvà hiệu quả công việc. Mức lương cho người lao động không thấp hơn
mức tối thiểu do nhà nước tuyên bố cụ thể ở từng vùng, từng khu
vực(144.000đ được thực hiện từ 1/1/1997).
9
Nhà nước không khống chế mức lương tổi thiểu, mức lương tối đa, mức
lương tối đa mà điều tiết bắng thu nhập. Việc khống chế mức lương tối thiểu
có nghĩa là Nhà nước buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo lợi ích tối thiểu
của người lao động. Nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ đến mỗi
người lao động có thu nhập dưới mức tối thiểu thì Nhà nước phải can thiệp,
kiểm tra xem xét thay đổi cán bộ lãnh đạo giúp doanh nghiệp chuyển hướng
sản xuất hoặc thậm chí cho sát nhập với xí nghiệp khác hoặc pha sản. Khi
đơn vị phá sản, giải thể thanh lý, thì tiền lương phải được ưu tiên thanh toán
cho người lao động. Đối với người lao động có thu nhập qua cao sẽ được
điều tiết theo luật thức thu nhập. Việc thực hiện chế độ tiền lương phải được
đảm bảo đúng như trong nghị định 26/CP ra ngày 23/5/1993 của Chính phủ.
+ Đơn vị trả lương cho người lao động và các khoản phụ cấp phải trả
đầy đủ trực tiếp đúng hẹn, tại nơi làm việc và bằng tiền mặt.
+ Người lao động làm công việc gì, đảm nhiệm cức vụ gì thì hưởng việc
đó, chức vụ đó thông qua hợp đồng và thoả ước tập thể.
+ Việc trả lương phải theo kết qủa sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
phải đảm bảo nghĩa vụ đối với nhà nước, không được thấp hơn mức quy định
hiện hành.
+ Khi đơn vị bố trí người lao động tạm thời chuyển sang nơi làm việc
hoặc công việc khác thì phải trả lương cho người lao động không thấp hơn
công việc trước.
+ Người lao động đi làm thêm, làm thêm giờ thì doanh nghiệp phải trả
thêm lương dựa trên cơ sở điều b. Bộ luật lao động.
Đối với người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm tí nhất
bằng 30% tiền lương làm việc vào ban đêm.
Đối với người lao động làm thêm giờ.
- Vào ngày thường được trả ít nhất bằng 150% tiền lương giờ của cả
ngày làm việc bình thường.
- Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày nghỉ lễ được trả lương ít nhất bằng
200% lương giờ của cả ngày làm việc bình thường.
- Nếu người lao động được nghỉ bù vào những giờ làm thêm thì người
sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền lương chênh lệch so với tiền lương
giờ của ngày làm việc bình thường.
10
II. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG, QUỸ TIỀN LƯƠNG, QUỸ BHXH,
BHYT, KPCĐ
1. Các hình thức tiền lương.
Các doanh nghiệp áp dụng hai chế độ tiền lương cơ bản đó là chế độ trả
lương theo thời gian làm việc và chế độ trả lương theo sản phẩm (đủ tiêu
chuẩn chất lượng) do công nhân viên làm ra tương ứng với hai chế độ trả
lương là hai hình thức trả lương cơ bản.
+ Hình thức trả lương thời gian.
+ Hình thức trả lương sản phẩm.
*. Hình thức lương thời gian là hình thức tính lương theo thời gian làm
việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương của người lao động.
Theo hình thức này, tiền lương thời gian phải trả được tính theo thời
gian làm việc nhân với đơn giá tiền lương thời gian áp dụng đối với từng bậc
lương.
Tuỳ theo hình thức và tính chất lao động khác nhau của mỗi ngành nghề
cụ thể có một thang lương riêng, mỗi thang lương có nhiều bậc lương tương
ứng với mỗi loại lương có một mức lương thời gian khác nhau.
Lương thời gian có thể tính theo lương tháng, lương ngày, lương giờ.
Lương tháng = Mức lương cơ bản + các khoản phụ cấp
Lương ngày = lương tháng 26 ngày
Lương giờ = lương ngày 8 giờ.
Tiền lương thời gian tính theo đơn giá tiền lương cố định còn được gọi
là tiền lương thời gian giản đơn. Tiền lương thời gian giản đơn nếu kết hợp
với tiền thưởng (đảm bảo ngày giờ công lao động ) tạo nên dạng tiền lương
có thưởng. Để tính lương thời gian trả công nhân phải theo dõi ghi chép đầy
đủ thời gian cụ thể.
Các doanh nghiệp thường áp dụng hình thức lương này cho những loại
công việc chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá lương sản
phẩm.
*. Hình thức lương sản phẩm.
11
Là hình thức tiền lương theo khối lượng (số lượng) sản phẩm công việc
đã hoàn thành, đảm bảo yêu cầu chất lượng quy định và giá tiền lương tính
cho đơn vị sản phẩm công việc đó.
- Tiền lương sản phẩm tính bằng khối lượng (số lượng) so công việc
hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đơn giá lương sản phẩm.
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệu hạch
toán kết quả lao động (ví dụ: Xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn
thành…) và đơn giá tiền lương mà doanh nghiệp áp dụng đối với từng loại
sản phẩm công việc.
Tiền lương sản phẩm có thể áp dụng đối với lao động trực tiếp sản xuất
kinh doanh gọi là tiền lương sản phẩm trực tiếp hoặc có thể áp dụng đối đối
với người lao động gián tiếp. tuỳ theo yêu cầu kích thích người lao động để
nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất sản lượng hay đẩy mạnh tiến độ sản
xuất mà có thể áp dụng các đơn giá tiền lương sản phẩm khác nhau.
Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định thường được
gọi là tiền lương sản phẩm giản đơn.
Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá lương sản phẩm tăng dần (luỹ
tiến) áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm được
gọi là lương sản phẩm luỹ tiến.
Biến tướng của lương sản phẩm còn là tiền lương sản phẩm khoản theo
khối lượng công việc hay là khoán gọn, khoán sản phẩm, khoán sản phẩm
cuối cùng….
Lương khoán sản phẩm là hình thức trả lương theo sản phẩm trong đó
người công nhân được nhận một số tiền nhất định theo đúng thời gian quy
định công việc đó đảm bảo chất lượng.
Hiện nay lương khoán được áp dụng khá rộng rãi trong nhiều công việc
ở tất cả các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (trong công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải và thương nghiệp).
Hình thức lương sản phẩm có ưu điểm là đảm bảo được nguyên tắc phân
phối theo lao động, tiền lương gắn chặt với khối lượng, chất lượng lao động
của mình, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội. Vì vậy
hình thức tiền lương sản phẩm được áp dụng rộng rãi ở tất cả các loại hình
doanh nghiệp kinh doanh.
12
Điều đáng chú ý là trả lương theo sản phẩm tập thể (sản phẩm công
việc do nhóm, tổ lao động tạo ra), cần vận dụng cách chia lương theo thời
gian làm việc và cấp bậc kỹ thuật kết hợp bình điểm, chia lương theo bình
điểm.
2. Quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương còn gọi là tổng số tiền mà doanh nghiệp cơ quan tổ chức
dùng để trả lương và các khoản phụ cấp có tính tiền lương cho toàn bộ công
nhân viên (thường xuyê, tạm thời ) trong kỳ nhất định.
Quỹ tiền lương bao gồm các khoản mục sau.
-Tiền lương tính theo thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm, tiền
lương khoán.
Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác, làm nghĩa
vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Các khoản tiền lương kế hoạch có tính chất thường xuyên.
Ngoài ra trong tiền lương kế hoạch còn được tính các khoản trợ
cấp,BHXH cho cán bộ công nhân viên trong thời kỳ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động … Về phương diện hạch toán tiền lương trả cho công nhân viên
trong doanh nghiệp sản xuất được chia làm hai loại: Tiền lương chính và tiền
lương phụ
-Tiền lương chính là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian
công nhân viên thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời
gian công nhân viên nghỉ được hưởng theo chế độ quy định của nhà nước
(nghỉ phép, nghỉ ngừng sản xuất …).
Việc phân chia tiền lương thành: Lương chính và lương phụ có ý nghĩa
quan trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành
sản phẩm.
Tiền lương phụ của công nhân sản xuất không gắn liền với từng loại sản
phẩm nên được hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất sản phẩm. Quản lý
quỹ tiền lương của doanh nghiệp phải trong quan hệ với việc thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm sử dụng hợp lý quỹ tiền
lương tiền thưởng thúc đẩy tăng năng suất lao động, hạ thấp giá thành sản
phẩm sản xuất.
13
Tóm lại quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền thưởng mà
doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành
phẩm quỹ tiền lương bao gồm nhiều khoản như lương thời gian (tháng, ngày,
giờ) lương sản phẩm phụ cấp (cấp bậc, chức vụ, …) tiền thưởng trong sản
xuất. Quỹ tiền lương (hay tiền công) bao gồm nhiều loại, tuy nhiên về mặt
hạch toán có thể chia thành tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao
động gián tiếp. Trong đó chi tiết theo lương chính và lương phụ.
3. Các qũy và các khoản trích theo lương.
*.Qũy bảo hiểm xã hội: Được hình thành từ các nguồn sau đây
(theo điều luật lao động).
- Người sử dụng lao động (doanh nghiệp) đóng 155 tổng qũy lương của
người tham gia bảo hiểm xã hội trong đơn vị: trong đó 10 % trả cho các chế
độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi trả
Cho các chế độ ốm đau,thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Người lao động đóng góp 5% tiền lương một tháng để chi trả các chế
độ hưu trí tử tuất.
- Nhà nước đóng góp hỗ trợ thêm để bảo đảm và thực hiện các chế độ
bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
Qũy bảo hiểm xã hội được phân cấp quản lý sử dụn. Một bộ phận được
nộp lên cơ quan quản lý chuyên ngành để chi trả cho các trường hợp quy định
(nghỉ hưu, mất sức) còm một bộ phận để chi tiêu trực tiếp tại doanh nghiệp
cho những trường hợp nhất định (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động …). Việc
sử dụng chi quỹ lương bảo hiểm xã hội dù ở cấp quản lý nào cũng phải được
thực hiện theo chế độ quy định.
Tài khoản 431 dùng để phản ánh việc trích lập sử dụng quỹ cơ quan của
các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Quỹ cơ quan được trích từ chênh lệch thu lớn hơn chi của các hoạt động
sản xuất kinh doanh dịch vụ hoặc tính từ các khoản thu theo quy định của chế
độ tài khoản (nếu có) hoặc Nhà nước được cấp trên cấp.
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 431 (quỹ cơ quan)
Bên Nợ: Các khoản chi quỹ cơ quan.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét