Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

577 Thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam


5
1.4.2. Trung Quốc thành công trong việc điều tiết sự di chuyển dòng vốn FPI (phụ
lục số 5) 20
1.4.3. Nhận xét chung về việc thu hút dòng vốn FPI ở Thái Lan và Trung Quốc 21
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC
NGOÀI TRÊN TTCK VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 24
2.1. Bối cảnh chung của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006 24
2.1.1. Những thành tựu đạt được 24
2.1.2. Hạn chế và tồn tại 25
2.2. Kết quả thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên TTCK Việt Nam
thời gian qua 26
2.2.1. Môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn 26
2.2.2. Kết quả thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua TTCK Việt
Nam thời gian qua 33
2.2.2.1. Niêm yết CK trên TTCK quốc tế 34
2.2.2.2. Thông qua các quỹ đầu tư quốc tế 39
2.3. Đánh giá vai trò nhà đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển thò trường
chứng khoán Việt Nam (phụ lục số 01) 47
2.4. Đánh giá vai trò của dòng vốn FPI đối với sự tăng trưởng GDP của Việt
Nam (phụ lục số 02) 51
Kết luận chương 2………………………………………………………………………………………………. 57
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC
NGOÀI THÔNG QUA TTCK VIỆT NAM 58
3.1. Xu hướng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chảy vào Việt Nam khi Việt
Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới 58
3.1.1. Triển vọng bùng nổ đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam 58

6
3.1.2. Thời cơ và thách thức khi Việt Nam hội nhập tài chính quốc tế 59
3.1.2.1. Thời cơ 59
3.1.2.2. Những thách thức 60
3.2. Giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua TTCK
Việt Nam 61
3.2.1. Phát triển TTCK Việt Nam 63
3.2.1.1. Hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý nhằm khuyến khích tổ chức và cá nhân
tham gia vào TTCK Việt Nam 63
3.2.1.2. Tăng cung CK cho thò trường về số lượng, chất lượng và chủng loại 63
3.2.1.3. Nâng cao chất lượng hoạt động của các Sở giao dòch và Trung tâm lưu ký CK
64
3.2.1.4.Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với TTCK 65
3.2.1.5. Sở giao dòch CK nên đăng ký một mã số BIS (Bank Identifier Code) 66
3.2.1.6. Khuyến khích phát triển các quỹ đầu tư trong nước 66
3.2.1.7. Thành lập các tổ chức đònh mức tín nhiệm 67
3.2.2. Khuyến khích các nhà đầu tư quốc tế tham gia vào TTCK Việt Nam 67
3.2.2.1. Tăng cường thu hút nhiều quỹ ĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam 67
3.2.2.2. Tăng cường hợp tác Quốc tế 68
3.2.2.3. Bảo đảm môi trường kinh tế vó mô ổn đònh cho việc thu hút dòng vốn FPI
68
3.2.2.4. Mở room đến 100% cho DN niêm yết không thuộc ngành nghề đầu tư có điều
kiện 68
3.2.2.5. Quảng bá thông tin về đầu tư tại Việt Nam trên trường quốc tế 70
3.2.3. Kiểm soát nhằm hạn chế sự đảo ngược dòng vốn 71
3.2.3.1. Kiểm soát trực tiếp 72
3.2.3.2. Kiểm soát gián tiếp 73
Kết luận chương 3 75

7
KẾT LUẬN CHUNG 76
PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Số liệu quy mô giao dòch tổng hợp qua các tháng từ năm 2000
–2006.
Phụ lục 02: Đánh giá vai trò của dòng vốn FPI đối với sự tăng trưởng GDP của
Việt Nam.
Phụ lục 03: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở một số nước đang phát triển trong
thập kỷ 1990.
Phụ lục 04: Trung Quốc thành công trong việc điều tiết sự di chuyển dòng vốn
FPI.
Phụ lục 05: Tình hình hoạt động của thò trườngchứng khoán Việt Nam kể từ khi
thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO















8

LỜI MỞ ĐẦU

Qua 20 năm thực hiện đổi mới, chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to
lớn và quan trọng: Kinh tế phát triển nhanh và bền vững; tổng sản phẩm quốc dân
trong nước tăng gấp đôi trong 10 năm qua; nền kinh tế từ chỗ thiếu lương thực, hàng
tiêu dùng…, nay đã có dư và xuất khẩu, từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã
chuyển sang cơ chế thò trường theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, từ chỗ chỉ thừa
nhận sự tồn tại 2 thành phần kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần …
Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhận ra những khiếm khuyết trong suốt quá
trình đổi mới như: lâu nay, chúng ta thường đặt nặng việc tiếp cận đối với dòng vốn
FDI, ODA mà ít quan tâm đến dòng vốn tiềm năng khác như FPI. Điều này dẫn đến
hậu quả nghiêm trọng cho thò trường tài chính Việt Nam là “hội nhập không cân
đối” dòng vốn FDI mỗi năm đã lên đến trên 4 tỷ USD trong khi tổng dòng vốn FPI
tích luỹ trong năm 2006 chỉ đạt khoản 500 triệu USD. Tính không cân đối này đã
làm cho các doanh nghiệp có vốn FPI không thể chuyển hoá các nguồn đầu tư của
mình trên TTCK do đó không có khả năng huy động thêm vốn trên TTCK cũng như
thoát vốn khi cần thiết; các nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tệ quan liêu tham nhũng, các
vấn đề xã hội vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp. Đặc biệt, thách thức lớn nhất
có tính chất lâu dài mà chúng ta phải đương đầu đó là tình trạng yếu kém của nền
kinh tế, khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trên thế giới là rất lớn,
trong khi chúng ta đang trong giai đoạn cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt.
Nhận thức về vấn đề này, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã
ra chiến lược phát triển kinh tế 10 năm (2001 – 2010), trong đó nhấn mạnh mục tiêu
chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện
các mục tiêu này, chúng ta phải huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước,
trong đó nguồn vốn đầu tư nước ngoài chiếm một vò trí quan trọng.
Thực tế trong thời gian qua nhòp tăng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang
chững lại. Mặc dù, TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động được hơn 7 năm,
song dòng vốn FPI chảy vào Việt Nam rất hạn chế, thêm vào đó bước đầu thực hiện

9
hội nhập tài chính đã khiến cho những nhà quản lý có những lúng túng nhất đònh khi
đối diện với sự dòch chuyển của các dòng vốn, đặc biệt là dòng vốn FPI. Chính vì
vậy, vấn đề thu hút dòng vốn FPI trong giai đoạn hội nhập và cạnh tranh gây gắt
như hiện nay đang là một trong những vấn đề được sự quan tâm sâu sắc của nhà
nước. Vì lý do này tôi thực hiện đề tài: “Thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài thông qua TTCK Việt Nam”.
Thực hiện đề tài này, người viết chỉ mong muốn được giới thiệu một số giải
pháp thu hút dòng vốn FPI thông qua TTCK Việt Nam, đồng thời sử dụng phần
mềm SPSS để phân tích tác động của dòng vốn FPI đến GDP và vai trò của các nhà
ĐTNN đối với quy mô vốn thò trường nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hội
nhập.
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu thực tế, phương pháp so
sánh tương quan, phương pháp duy vật biện chứng làm các phương pháp thực hiện
chủ yếu. Nội dung của đề tài bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên TTCK Việt
Nam thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua
TTCK Việt Nam.








10

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI


1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự dòch chuyển dòng vốn quốc tế
Dòng luân chuyển vốn là các giao dòch quốc tế mua bán tài sản thực (thiết bò
sản xuất, bất động sản…) và tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản cho
vay và các trái quyền đối với tiền gửi ngân hàng…). Ngoài ra, còn có các loại giao
dòch tài khoản vốn khác như: tín dụng tài chính - thương mại, giao dòch trên các tài
khoản ngân hàng, các nguồn vốn viện trợ chính thức và không chính thức… Các
dòng lưu chuyển vốn này được ghi nhận trong tài khoản vốn của cán cân thanh toán.
Một quốc gia có thâm hụt tài khoản vốn còn được cho là có dòng vốn ra khi
dòng vốn ra lớn hơn dòng vốn vào được ghi nhận trên tài khoản vốn, đây là một
hình thức tiết kiệm quốc gia. Ngược lại, một quốc gia có thặng dư tài khoản vốn khi
dòng vốn ra nhỏ hơn dòng vốn vào.
Tài khoản vốn thường được phân loại thành đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư
theo danh mục, hay còn gọi là đầu tư gián tiếp (FPI). Sự đa dạng hoá và giao thoa
giữa hai nguồn vốn tài trợ này càng lớn thì mức độ hội nhập tài chính càng cao.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): là dòng vốn đầu tư vào quốc gia nhằm mục
đích sở hữu và nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế nội đòa. FDI chủ yếu
liên quan đến các giao dòch trên tài khoản thực.
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI): là dòng vốn đầu tư gián tiếp, bao gồm dòng
vốn vay nước ngoài của Chính phủ hoặc các DN trong nước và dòng vốn đầu tư cổ
phần được tạo thành từ hoạt động của các quỹ đầu tư quốc tế vào các tài sản tài
chính nội đòa. Như vậy, FPI gồm phần lớn các giao dòch trên các loại CK như cổ
phiếu,
trái phiếu
, khoản vay ngân hàng, CK phái sinh và các hình thức khác nhau
của tín dụng (thương mại, tài chính, bảo đảm).
Tuy nhiên, việc phân loại này còn tuỳ thuộc vào từng quốc gia. Nếu như Thái
Lan phân loại dòng vốn thành khoản vay dài hạn, FDI, FPI và loại ĐTNN khác (OFI

11
- là tổng dòng vốn vay ngắn hạn của NHTM và tài khoản tiền gửi của những người
không cư trú bằng bath), thì Malaisia lại phân loại dòng vốn thành vốn vay dài hạn,
FPI và OFI (bao gồm cả dòng vốn đầu tư trực tiếp và những khoản nợ ngắn hạn bên
ngoài của NHTM).
Có nhiều tác nhân ảnh hưởng đến sự luân chuyển của dòng vốn quốc tế. Khi
dòng vốn tự do dòch chuyển, Chính phủ các nước có thẩm quyền đối với dòng tiền
lưu chuyển vào nước đó. Chẳng hạn như Chính phủ một nước có thể ấn đònh một
loại thuế đặc biệt đánh trên thu nhập tích luỹ của các nhà đầu tư nội đòa đã đầu tư ở
các thò trường nước ngoài. Một loại thuế như vậy có thể bò trả đũa bằng cách áp
dụng một loại thuế tương tự cho dân chúng nước họ. Kết quả là sự sụt giảm ĐTNN
của các nhà đầu tư đa quốc gia.
Sự luân chuyển vốn cũng chòu ảnh hưởng bởi các biện pháp kiểm soát vốn
của các nước. Việc áp dụng các biện pháp này nhằm đối phó với một sự yếu kém
về cấu trúc trong vò thế cán cân thanh toán của quốc gia. Ngay cả những nước như
Úc, Đan Mạch, Pháp, Na Uy có lúc cũng đã áp dụng biện pháp hạn chế chuyển nội
tệ ra nước ngoài, dù những năm gần đây đã trở nên thoáng hơn. Các nhà trung gian
tài chính đang mong chờ một ngày các hạn chế được nới lỏng để họ có thể cạnh
tranh mãnh liệt hơn trên cơ sở toàn cầu.
Kết cấu dân số cũng ảnh hưởng đến sự luân chuyển các dòng vốn. Trong thập
niên 1980, dân số Mỹ rất trẻ và nhìn chung những người trẻ cần nhiều vốn hơn là
cung cấp cho thò trường cơ bản. Thời gian trôi qua, tuổi trung bình của dân số thành
niên Mỹ tăng lên, sự thâm hụt vốn giảm và do đó nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư
không phải của Mỹ cũng giảm.
Các biến động tỷ giá hối đoái dự báo được do các nhà đầu tư vào CK cũng có
thể ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế. Nếu nội tệ của một nước được dự kiến mạnh,
các nhà ĐTNN có thể sẳn sàng đầu tư vào CK của nước đó để hưởng lợi từ các biến
động tiền tệ. Ngược lại, dòng vốn vào của một nước dự kiến sẽ giảm nếu đồng nội
tệ của nước đó dự kiến suy yếu, khi các yếu tố khác không đổi. Khi muốn đánh giá
tính biến động của dòng vốn vào và ra ta phải xem xét đồng thời tất cả các yếu tố.
Một quốc gia có thể có sự sụt giảm trong tài khoản vốn ngay cả khi có lãi suất hấp
dẫn, nếu đồng nội tệ của quốc gia này dự kiến sẽ giảm giá. Ngoài ra các tác nhân

12
thuộc về luật lệ, chính sách điều hành của Chính phủ các nước cũng có tác động
nhất đònh đến các dòng vốn quốc tế. Trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ quan
tâm đến ảnh hưởng dòng vốn FPI đến sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia.
1.2. Tác động của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến sự phát triển nền
kinh tế
1.2.1. Đặc trưng của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
1.2.1.1. Tính thanh khoản
Do chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức độ rủi ro nhất đònh) hoặc mức độ
an toàn của CK (với một mức lợi tức nhất đònh) chứ không quan tâm đến việc quản
lý quá trình sản xuất kinh doanh thực tế nên FPI có tính thanh khoản cao (high
liquidity). Nói cách khác, nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể dễ dàng bán lại
những CK mà họ đang nắm giữ để đầu tư vào những nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn
và một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho
hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn (short term), mặc dù cổ phiếu được coi là
hình thức đầu tư dài hạn và nhiều loại CK có thời hạn lớn hơn một năm.
1.2.1.2. Tính bất ổn
Do có thể thay đổi nhanh để tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao hơn hay để có được
một mức độ rủi ro thấp hơn nên FPI có đặc tính là bất ổn (volatility) và dễ bò đảo
ngược (reversibility). Tính bất ổn trong một giới hạn nào đó, có thể là có lợi khi nó
cung cấp những cơ hội kinh doanh với lợi nhuận cao hoặc những cơ hội kinh doanh
chênh lệch giá. Những cơ hội này sẽ thu hút những nhà đầu tư và khiến cho thò
trường tài chính nội đòa hoạt động hiệu quả hơn. Tính bất ổn còn chỉ ra rằng thò
trường đang tìm kiếm những hình thức phân bổ vốn tốt nhất cho những cơ hội kinh
doanh hiện hành. Tuy nhiên, nếu tính bất ổn xảy ra thường xuyên và ở mức độ cao
sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
nói riêng. Hơn thế nữa tính thanh khoản cao cùng với tính bất ổn của FPI còn có thể
dẫn đến tình trạng rút vốn ồ ạt khi có sự thay đổi trong quan điểm của giới đầu tư
hoặc sự thay đổi các điều kiện kinh tế bên trong cũng như bên ngoài.
1.2.1.3. Tính đa dạng

13
Ngoài ra, FPI còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau (multiform) và rất
phức tạp (complexity) như trái phiếu, cổ phiếu, giấy nợ thương mại (commercial
paper) hoặc dưới dạng các công cụ phái sinh (derivative): kỳ hạn (forward), tương
lai (future), quyền chọn (options)…

1.2.2. Ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến nền kinh tế
Trước đây chúng ta coi trọng dòng vốn FDI mà không quan tâm đến dòng
vốn FPI. Từ khi TTCK ra đời và đi vào hoạt động đã thu hút ngày càng nhiều nhà
ĐTNN với một lượng đáng kể dòng vốn FPI, một ngoại lực cho sự phát triển kinh tế
nước nhà. Việc thu hút ngày càng nhiều dòng vốn FPI rõ ràng mang đến nhiều lợi
ích.
Thứ nhất, FPI góp phần làm tăng nguồn vốn trên thò trường vốn nội đòa và làm
giảm chi phí vốn thông qua việc đa dạng hoá rủi ro: Nếu dòng vốn FPI được sử dụng
để tài trợ cho các hoạt động đầu tư mới, thì đây sẽ là nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho nguồn vốn nội đòa mà các nước đang phát triển cần để thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế. Ngoài ra, FPI còn cho phép các ĐTNN có cơ hội chia sẻ rủi ro của mình với
các nhà đầu tư nội đòa. FPI sẽ khiến cho thò trường vốn nội đòa trở nên có tính thanh
khoản cao hơn và kéo theo việc đa dạng hoá rủi ro trở nên dễ dàng hơn và kết quả
là nguồn vốn dồi dào hơn và chi phí sử dụng vốn sẽ thấp hơn đối với các DN.
Thứ hai, FPI thúc đẩy sự phát triển hệ thống tài chính: Dòng vốn FPI thúc đẩy sự
phát triển hệ thống tài chính nội đòa thông qua nhiều kênh:
 Cùng với sự xuất hiện của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài, thúc đẩy thò
trường tài chính nội đòa hoạt động hiệu quả hơn do có tính thanh khoản cao hơn. Một
khi thò trường trở nên có tính thanh khoản cao hơn, sâu hơn, rộng hơn, một loạt các
dự án đầu tư khác nhau sẽ được tài trợ. Chẳng hạn như những công ty mới sẽ có cơ
hội lớn hơn trong việc thu hút được nguồn vốn tài trợ ban đầu. Người tiết kiệm sẽ có
nhiều cơ hội đầu tư hơn với niềm tin rằng họ có thể quản lý được danh mục đầu tư
của họ hoặc có thể bán CK đi rất nhanh một khi họ cần đến nguồn tiết kiệm của
mình. Bằng cách đó, những thò trường có tính thanh khoản cao sẽ khiến cho đầu tư
dài hạn trở nên có sức thu hút hơn.

14
 FPI còn thúc đẩy sự phát triển của các thò trường cổ phiếu cũng như quyền
biểu quyết của các cổ đông trong quá trình điều hành công ty. Một khi các công ty
cạnh tranh về nguồn tài trợ, thò trường sẽ ban thưởng cho những công ty tốt hơn. Một
khi tính thanh khoản cũng như hoạt động của thò trường được cải thiện, cổ phiếu sẽ
ngày càng phản ánh giá trò thực của công ty và điều đó sẽ thúc đẩy phân bổ vốn một
cách hiệu quả. Những thò trường cổ phiếu hoạt động tốt sẽ khuyến khích mua lại và
đây chính là giao điểm giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Mua lại có thể
khiến cho một công ty trở nên vững mạnh hơn và đem lại lợi tức cho các nhà đầu tư
cũng như cho nền kinh tế nội đòa.
 Sự hiện diện của nhà đầu tư thể chế nước ngoài (công ty Bảo hiểm, quỹ hỗ
tương, quỹ bảo hiểm rủi ro…) sẽ giúp cho các thể chế tài chính trong nước có cơ hội
tiếp cận các thò trường vốn quốc tế; áp dụng các công cụ và kỹ thuật tài chính mới
như tương lai, quyền chọn, hoán đổi hoặc những công cụ bảo hiểm khác… với kết
quả là rủi ro của các nhà ĐTNN lẫn nội đòa sẽ được tăng cường và sức cạnh tranh
của các thể chế nội đòa sẽ được nâng cao.
 FPI giúp tăng cường kỷ luật đối với các thò trường vốn nội đòa. Thực vậy, với
một thò trường vốn rộng hơn, các nhà đầu tư sẽ có được những khuyến khích mạnh
hơn trong việc mở rộng nguồn lực để tìm kiếm cơ hội đầu tư mới hay sắp xuất hiện.
Một khi các công ty cạnh tranh nhau về nguồn tài trợ họ phải đối mặt với áp lực về
nhu cầu của thông tin về khối lượng cũng như chất lượng. Sức ép về tính công khai
đầy đủ sẽ thúc đẩy tính minh bạch và điều này sẽ có tác động lan tỏa tích cực tới
các khu vực khác của nền kinh tế. Do không có lợi thế về những thông tin nội bộ
của các cơ hội đầu tư, các nhà ĐTNN đặc biệt yêu cầu một mức độ công khai hoá
cao hơn, những chuẩn mực kế toán cao hơn và mang theo những kinh nghiệm của họ
trong việc thực hiện những chuẩn mực này.
Cạnh tranh trong việc cung cấp nguồn tài trợ hay các dòch vụ tài chính cũng
như trong việc nhận được nguồn tài trợ hay các dòch vụ tài chính, sẽ buộc các thể
chế tài chính nội đòa và các công ty nội đòa phải áp dụng các chuẩn mực kế toán
quốc tế, thực hiện minh bạch hoá tài chính và cải tiến hoá hình thức quản lý… điều
này sẽ khiến cho thò trường tài chính nội đòa hoạt động có kỷ luật hơn và có khả
năng cạnh tranh cao hơn do giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin, và qua đó giảm
được những hiệu ứng bất lợi như sự lựa chọn nghòch và rủi ro đạo đức. Kết quả là

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét