TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CHỦ ĐỀ:
Môn : NGUYÊN LÝ THỰC HÀNH BẢO HIỂM
GVHD : Thầy TRẦN NGUYÊN ĐÁN
Lớp : TC1-K13-VB2
Nhóm : 103
TP.HCM – 2011
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
MỤC LỤC
I. Tổng quan về thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 3
a. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ 3
b. Sự hình thành và phát triễn thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 3
c. Triển vọng của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 5
d. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 6
II. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 8
1. Khái niệm về cạnh tranh 8
b. Các hình thức cạnh tranh 8
c. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9
III. Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh canh của các doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ việt nam 10
1. Nâng cao năng lực tài chính 10
b. Đa dạng hóa sản phẩm 11
c. Cải tiến công nghệ quản lý 13
d. Ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch với khách hàng 13
e. Chú trọng phát triển thương hiệu 13
f. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực 14
g. Đa dạng hóa kênh phân phối 16
IV. Kết luận 17
V. Tài liệu tham khảo 18
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 2/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
I. Tổng quan về thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
a. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ
Nói đến bảo hiểm nhân thọ, thông thường người ta hiểu đó là các hợp đồng bảo
hiểm để bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân. Thực tế, bảo hiểm nhân thọ còn được biết
đến như là một công cụ quan trọng đối với các doanh nghiệp thông qua các loại hình
bảo hiểm phổ biến như bảo hiểm cho người chủ chốt, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm cho
người lao động.
Một doanh nghiệp dù lớn hay chỉ là cơ sở kinh doanh đều phải đối mặt với những
vấn đề nhất định. Dưới đây sẽ đề cập đến việc sử dụng bảo hiểm nhân thọ như là giải
pháp cho một số vấn đề đó.
Chủ một cửa hàng dành cả cuộc đời để tạo dựng, tái đầu tư phần lớn lợi nhuận và đi
vay một khoản tiền từ ngân hàng để đầu tư cho cho công việc kinh doanh. Mọi công
sức của anh ta có thể vô nghĩa nếu việc kinh doanh đó chẳng có giá trị đối với người
nhà anh ta. Tài năng kinh doanh của anh ta giúp phát triển cửa hàng nhưng vợ và con
anh ta khó có thể duy trì được cửa hàng nếu chẳng may anh qua đời. Bảo hiểm nhân thọ
giúp cho những người thừa hưởng nhận được những thành quả từ lao động của anh ta.
Hai người trẻ tuổi mở một cửa hàng bán thuốc và đã phát triển nó thành công nhờ
sự hợp tác ăn ý. Một người bị qua đời đột ngột và người kia làm việc cùng người vợ
được thừa kế. Do đó anh ta phải làm hầu hết mọi việc nhưng chỉ nhận được một nửa
thành quả do mình làm ra. Khi đó một thoả thuận mua-bán của bảo hiểm nhân thọ theo
giá trị của công việc kinh doanh sẽ giúp giải quyết tình trạng khó xử này.
Một công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có thể rơi vào tình trạng như trên, điều khác
duy nhất là không có một giải pháp pháp lý cho trường hợp tử vong của một cổ đông
đối tác. Một lần nữa, thoả thuận mua lại cổ phần theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có
thể giải quyết vấn đề này
b. Sự hình thành và phát triễn thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam đã chính thức thực hiện chính sách “Đổi mới”, với
trọng tâm là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước. Chính sách đổi mới đã thực sự có tác động tích cực
đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, đem lại sự ổn định và tăng
trưởng kinh tế cao, đời sống người dân được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân hàng năm trong 10 năm qua đạt trên 7% và trong năm 2007 đạt 8,5%; thu nhập
bình quân theo đầu người tăng từ 423 đô la Mỹ năm 2001 lên 835 đô la Mỹ năm 2007;
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 3/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
lạm phát được kiềm chế và kiểm soát; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống
còn 32% năm 2000 và còn 14,7% vào năm 2007. Tăng trưởng kinh tế cùng với việc xoá
bỏ dần cơ chế bao cấp đã thúc đẩy nhu cầu và sự ra đời của thị trường bảo hiểm nhân
thọ của người dân Việt Nam.
Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc
Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Đáp lại yêu cầu
của quá trình mở cửa và hội nhập cũng như yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo
hiểm nhân thọ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép hoạt
động cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy
phép cho 3 doanh nghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh – CMG – nay là Daiichi
Life), sau đó là AIA (năm 2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life.
Đến nay trên thị trường đã có 09 doanh nghiệp hoạt động và theo dự báo sẽ có thêm
nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian
tới.
Với sự gia nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, thị trường
bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, sản phẩm,
chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp. Có thể kể ra những con số và thông tin đáng
chú ý sau:
Về khai thác mới: nếu như năm 1996 doanh thu phí khai thác mới của toàn thị
trường chưa đầy 1 tỷ đồng thì đến năm 2003 con số này là 2.050 tỷ đồng (bằng 0,61%
GDP) và năm 2007 ước đạt 1.815 tỷ đồng (bằng 0,16 % GDP). Xin lưu ý, trong giai
đoạn từ 2004 đến 2006, thị trường bước vào giai đoạn suy giảm và đã có dấu hiệu hồi
phục từ năm 2007.
Tổng doanh thu phí bảo hiểm: năm 2003 tổng doanh thu phí của toàn thị trường đạt
6.442 tỷ đồng (bằng 1,92% GDP) và năm 2007 đạt 9.485 tỷ đồng (bằng 2,06% GDP).
Chính từ nguồn phí bảo hiểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ đã cung cấp một lượng
vốn lớn cho nền kinh tế.
Tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2007: 3.834 nghìn hợp đồng
chính (bằng khoảng 4,5% dân số).
Về kênh phân phối đại lý: thị trường đã tạo việc làm cho nhiều người lao động.
Tổng số đại lý tại cuối năm 2007 là 70.000 người.
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 4/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Về sản phẩm: Đến nay, thị trường đã cung cấp cho công chúng hầu hết các dòng sản
phẩm từ sản phẩm truyền thống đến bảo hiểm liên kết chung (universal life) và gần đây
là bảo hiểm liên kết đơn vị (unit linked).
Sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng là một nhân tố thúc
đẩy sự hình thành và phát triển của khung pháp lý cho thị trường bảo hiểm nói chung
và bảo hiểm nhân thọ nói riêng, đánh dấu bằng sự ra đời của Luật kinh doanh bảo hiểm
đầu tiên của Việt Nam vào năm 2000.
c. Triển vọng của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng đứng trước những cơ hội phát triển
rất lớn. Các cơ sở cho nhận định này là:
Về dân số và nhu cầu đào tạo: Hiện nay dân số Việt Nam là 85 triệu người-đứng
hàng thứ 13 trên thế giới, với mức tăng hàng năm khoảng 1 triệu người. Điểm đáng chú
ý, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm hơn
60% tổng dân số; tuổi thọ trung bình không ngừng được cải thiện (từ 50 tuổi trong
những năm 1960 tăng lên 72 tuổi vào năm 2005). Với dân số trẻ cùng với truyền thống
hiếu học cộng với yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao sau khi Việt Nam
hội nhập vào kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu đào tạo của Việt Nam ngày càng cao,
đặc biệt là nhu cầu đào tạo chất lượng cao cả ở trong và ngoài nước kéo theo yêu cầu
tài chính cho đào tạo ngày càng lớn.
Phát triển kinh tế: Từ khi thực hiện chính sách “đổi mới”, nền kinh tế Việt Nam đã
có sự tiến bộ vượt bậc và theo dự đoán Việt Nam tiếp tục đạt được tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao trong thời gian tới (dự báo trên 7%/năm); đời sống người dân được cải
thiện rõ rệt. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới năm 2010 GDP/người sẽ đạt 1.000
USD, và hơn thế nữa, người Việt Nam có truyền thống tiết kiệm và có mức tiết
kiệm/thu nhập vào hàng cao nhất thế giới. Đáng chú ý, sự phát triển kinh tế đã làm cho
tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, tạo ra nhu cầu cao về bảo hiểm nhân thọ. Xin
nhắc lại, tỷ trọng người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ hiện nay ở Việt Nam mới chỉ
chiếm 4,5% dân số (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ
là 90%, Singapore 50%, và ngay tại Indonesia tỷ lệ này cũng trên 10%) và số tiền tiết
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 5/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
kiệm được người dân dùng mua bảo hiểm nhân thọ mới chiếm 3,45% tổng số tiền tiết
kiệm trong khu vực dân cư.
Nhu cầu hoạch định kế hoạch tài chính và độc lập tài chính ngày càng cao hơn.
Theo đà phát triển kinh tế – xã hội và sự hình thành gia đình hạt nhân (bố mẹ và con),
làm cho nhu cầu hoạch định tài chính và nhu cầu độc lập tài chính ngày càng cao, nhằm
tạo lập một cuộc sống ổn định, tự chủ và có mức hưởng thụ cao. Chẳng hạn, quan niệm
“trẻ cậy cha, già cậy con” của người Việt Nam đến nay đã có nhiều thay đổi, đặc biệt ở
các thành phố lớn. Các cá nhân đã quan tâm nhiều hơn đến nguồn tài chính khi nghỉ
hưu, hết sức lao động để có thể sống độc lập về tài chính, không phải lệ thuộc hoặc dựa
vào con cái, người thân.
d. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Theo hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, hiện nay có 12 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
trên thị trường Việt Nam. Trong đó, công ty Prudential có doanh thu cao nhất (chiếm 39%),
kế tiếp là Bảo Việt (34%).
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 6/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
STT Hội viên Địa chỉ Website
1 Công ty TNHH Bảo
hiểm nhân thọ
Prudential Việt Nam
Tầng 25 Saigon Trade Center
37 Tôn Đức Thắng, Quận
1,TP HCM
http://prudential.com.vn
2 Công ty TNHH Bảo
hiểm Manulife Việt
Nam
75 Hoàng Văn Thái, Quận 7,
TP HCM
3 Công ty TNHH Bảo
hiểm Nhân thọ AIA
(VN)
Tầng 1, Tòa nhà E-Tower, 364
Đường Cộng Hòa, P13, Quận
Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
http://aia.com.vn
4 Tổng Công ty Bảo Việt
Nhân thọ
Tầng 6, Tòa nhà OCEAN
Park, Số 1, Đào Duy Anh, Hà
Nội
http://baoviet.com.vn
5 Công ty THHH Bảo
Hiểm Nhân Thọ ACE
Tầng 21, Sun Wah Tower
115 Nguyễn Huệ, Quận 1
TP.HCM, Việt Nam
http://www.acelife.com.vn
6 Công ty TNHH bảo
hiểm Nhân thọ Prevoir
Việt Nam
Tầng 9, tòa nhà Mặt trời Sông
Hồng, 23 Phan Chu Trinh, Hà
Nội
7 Công ty bảo hiểm nhân
thọ Daiichi Việt Nam
Lầu 3, Saigon Riversider
Office Center 2A-4A Tôn Đức
Thắng, Quận 1, TP Hồ Chí
Minh
http://dai-ichi-life.com.vn
8 Công ty TNHH Bảo
hiểm nhân thọ Cathay
Việt Nam
Tầng 9,New World Center,
46-48-50 Phạm Hồng Thái,
Q1 TPHCM
9 Công ty Bảo hiểm nhân
thọ Great Eastern Việt
Nam
Phòng 1, tầng 4, toà nhà Trung
tâm Quốc tế, 17 Ngô Quyền,
Hoàn Kiếm, Hà Nội
http://lifeisgreat.com.vn
10 Công ty TNHH Bảo
hiểm nhân thọ Hàn
Quốc
Tầng 14, Tòa nhà Fideco, số
81-85 Hàm Nghi, Quận 1, TP.
Hồ Chí Minh
http://www.korealife.com.vn
11 Công ty TNHH Bảo
hiểm nhân thọ
Vietcombank-Cardif
Phòng 903,tháp VincomB-191
Bà Triệu, Hà Nội
12 Công ty TNHH Bảo
hiểm Nhân thọ Fubon
VN
Tầng 22, tòa nhà Charmvit,
117 Trần Duy Hưng, Cầu
Giấy, Hà Nội
www.fubon.com/life_vn
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 7/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
II. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1. Khái niệm về cạnh tranh
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, do khái niệm này được sử dụng ở
nhiều lãnh vực, nhiều ngành nghề và với nhiều mục đích khác nhau.
Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh
vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội. Do vậy, cạnh
tranh có thể được hiểu như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay
gắt, quyết liệt giữa các đối thủ trên thương trường trong việc thu hút khách hàng,
chiếm lĩnh thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được
lợi nhuận cao.
Như vậy, cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn về vấn đề này, đồng thời dựa vào
thế mạnh của mình để tự trang bị cho mình những hình thức cạnh tranh phù hợp và
linh họat sao cho thích ứng với từng thời kì và mục tiêu khác nhau để vương lên vị
thế cao nhất.
b. Các hình thức cạnh tranh
a. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Philip Crosly – một chuyên gia về chất lượng của Mỹ cho rằng: “Chất lượng hòan
toàn không phải là một tài sản mà thực chất là một cái giá mà bạn phải trả để tham
gia vào cuộc chơi và nếu bạn không tạo ra chất lượng thì sẽ không ai quan tâm đến
bạn nữa.”
Như vậy, để tồn tại và đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp phải xác định được
chất\ lượng là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược, đồng thời là phương tiện cơ bản để
đảm bảo cho sự phát triển kinh tế-xã hội được đúng hướng, vững chắc và có hiệu
quả cao, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường.
b. Cạnh tranh về giá sản phẩm
Phí bảo hiểm chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm, đó chính là khoản tiền mà bên
mua bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm theo đúng thời gian và phương
thức đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Do đó giá cả cũng là một yếu tố
quan trọng thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp bảo hiểm.
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 8/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Chiến lược cạnh tranh bằng giá giúp cho doanh nghiệp bảo vệ và gia tăng thị phần
của mình, đồng thời cũng là rào cản ngăn chặn sự xâm nhập của các đối thủ tiềm
năng, và giảm khả năng đe dọa từ phía các sản phẩm có khả năng thay thế.
c. Cạnh tranh về dịch vụ hậu mãi
Khi chất lượng hàng hóa, dịch vụ, giá bán là như nhau thì yếu tố cạnh tranh và
giành phần thắng là chất lượng dịch vụ sau bán hàng như bảo hành và hậu mãi. Đặc
biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ vô hình thì điều này
càng có ý nghĩa to lớn. Khách hàng sẽ quan tâm tới thái độ phục vụ, chất lượng dịch
vụ, chính sách chăm sóc khách hàng …
Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề này, mỗi doanh nghiệp nên dựa vào đặc
điểm sản phẩm đang kinh doanh và tiềm lực kinh tế của mình để có những chính
sách hợp lý, phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.
c. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh (sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) được xét dưới 3 góc độ:
năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh
tranh của sản phẩm.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia hay năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế được
hiểu là thực lực và lợi thế mà nền kinh tế hay quốc gia đó có thể huy động để
duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị
trường thế giới một cách lâu dài nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nền
kinh tế của quốc gia mình.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có
thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường một cách lâu dài nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh
nghiệp mình
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm
hoặc dịch vụ vụ thể trên thị trường. Nền kinh tế chỉ có năng lực cạnh tranh ngày
càng cao khi có nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao, và doanh nghiệp có
sức cạnh tranh cao khi có nhiều hàng hóa có năng lực cạnh tranh cao so với đối
thủ cạnh tranh. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa là cơ sở, điều
kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế quốc
gia.
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 9/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
III. Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh canh của các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ việt nam.
Hiện nay, số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tham gia vào thị trường
ngày càng đông đã làm cho thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam luôn có sự cạnh
tranh gay gắt (cạnh tranh về sản phẩm, kênh phân phối, dịch vụ khách hàng. đầu tư ).
Trong quá trình này, buộc các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là các doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong nước phải cơ cấu lại bộ máy hoạt động, tìm ra các giải
pháp thích hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Một số giải
pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thường áp dụng như: nâng cao năng lực
tài chính, đa dạng hoá sản phẩm để ngày càng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách
hàng, cải tiến công nghệ quản lý, ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch với
khách hàng, chú trọng phát triển thương hiệu, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, các
chuyên gia và đa dạng hoá kênh phân phối, trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
1. Nâng cao năng lực tài chính
Năng lực tài chính đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng chiến lược cạnh
tranh của doanh nghiệp. Có thể nói, điều kiện tài chính là yếu tố đầu tiên mà bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phải xem xét đến khi xây dựng, lựa chọn và quyết định một
chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.
Đối với lĩnh vực KDBH nói chung KDBH nhân thọ nói riêng thì năng lực tài chính
là điều kiện tiền đề vô cùng quan trọng, cho phép các DNBH nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình. Năng lực tài chính là chỉ tiêu hàng đầu trong hệ thống các chỉ tiêu dùng
để đánh giá năng lực cạnh tranh và xếp hạng các DNBH. Năng lực tài chính được thể
hiện qua tổng hợp rất nhiều chỉ tiêu: nguồn vốn, nợ phải trả, các quỹ dự phòng, quỹ dự
trữ, lợi nhuận để lại, giá thị trường của cổ phiếu…
Nhằm nâng cao năng lực tài chính của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã có quy
định nâng mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ từ 400 tỷ lên 600 tỷ
đồng. Đối với các doanh nghiệp được phép triển khai bảo hiểm liên kết đơn vị thì yêu
cầu về mức vốn điều lệ đã góp phải cao hơn mức vốn pháp định từ 200 tỷ đồng trở lên.
Muốn nâng cao tiềm lực về tài chính thì trước hết DNBH cần tăng nguồn vốn điều
lệ của mình lên, mục tiêu ban đầu là đạt tới mức vốn pháp định mà Nhà nước đã qui
định. Các DNBH có thể sử dụng một số biện pháp nhằm tăng nguồn vốn của mình lên:
Kêu gọi vốn góp thêm từ các cổ đông.
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 10/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Phát hành cổ phiếu ra thị trường để huy động vốn :nguồn vốn này được tập hợp lại
từ những nguồn vốn nhàn rỗi nhỏ của các tầng lớp dân cư, tạo thành một nguồn vốn
lớn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao được khả năng tài chính của mình.
Phương thức huy động vốn này tỏ ra là một phương thức hết sức hữu hiệu mà hiện tại
có rất nhiều doanh nghiệp đang sử dụng.
Doanh nghiệp cũng có thể gia tăng nguồn vốn của mình bắng cách bổ sung từ chính
nguồn lợi nhuận của doanh nghiệp: hàng tháng doanh nghiệp sẽ có những khoản lãi từ
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn lợi nhuận này thay vì chia có các cổ
đông, công ty sẽ giữ lại (có thể một phần lớn) để bổ sung vào nguồn vốn của doanh
nghiệp. Nguồn lợi nhuận này cũng góp phần làm tăng tiềm lực về tài chính cho doanh
nghiệp.
Ngoài ra, công ty cũng có thể trả cổ tức bằng cổ phiếu: thay vì trả bằng tiền thì công
ty có thể phát hành thêm một số cổ phiếu để trả cổ tức, còn số tiền đáng lẽ dùng được
trả cổ tức sẽ được giữ lại để bổ sung vào nguồn vốn cho DNBH.
Tăng đựơc vốn lên không những giúp doanh nghiệp tăng khả năng về tiềm lực tài
chính, doanh nghiệp có thể nhận các hợp đồng có giá trị lớn, mà còn giúp tạo sự tin
tưởng hơn cho khách hàng khi tham gia bảo hiểm ở công ty.
b. Đa dạng hóa sản phẩm
Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không những cạnh với các sản phẩm trong
cùng ngành mà còn cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm thay thế khác như: tiết kiệm,
cổ phiếu,…Vì vậy doanh bảo hiểm nhân thọ phải đa dạng hóa sản phẩm của mình để
đáp ứng được nhu cầu của hầu hết khách hàng.
Xu thế lựa chọn sản phẩm bảo hiểm của người dân hiện nay hướng vào hai nhóm
sản phẩm chính.
Thứ nhất là nhóm bảo hiểm hỗn hợp. Nhóm này vừa mang tính chất bảo vệ rủi ro
vừa tiết kiệm sinh lời, được hoàn trả cả phí bảo hiểm đã đóng và bảo tức tích lũy. Sản
phẩm này phù hợp với nhu cầu cho người có một kế hoạch cần thực hiện trong tương
lai và cần có nguồn tài chính để thực hiện như: cho con du học, mua căn hộ và lập gia
đình cho con.
Ngoài ra, gần đây, nhóm bảo hiểm hưu trí cũng đang tăng mạnh, đáp ứng nhu cầu
bảo hiểm và trả tiền hưu cho người có thu nhập cao vượt mức trần của bảo hiểm xã hội
hiện nay là 20 lần lương tối thiểu.
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 11/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
An Sinh Tích Lũy Ngắn Hạn hướng đến những khách hàng nằm trong độ tuổi từ 25
đến 45 tuổi, có mức thu nhập ổn định từ 4 triệu đồng/tháng trở lên. Đặc điểm nổi bật
của sản phẩm là giúp khách hàng tích lũy một cách đều đặn để nhanh chóng thực hiện
các mục tiêu ngắn hạn như kế hoạch kết hôn, việc mua sắm nhà cửa, xe cộ…
Đây là sản phẩm thuộc loại hình bảo hiểm hỗn hợp - dòng sản phẩm có doanh thu
cao nhất trong nhóm các sản phẩm chính đang có mặt tại thị trường Việt Nam.
Thứ hai là nhóm bảo hiểm đầu tư. Trong nhóm này, sản phẩm bảo hiểm liên kết
chung, ngoài ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thì phí bảo hiểm được ủy thác cho doanh nghiệp
bảo hiểm đầu tư sinh lời để trả bảo tức theo cam kết và có thể trả thêm bảo tức (có
thông báo cho khách hàng kỳ) nếu có kết quả đầu tư tốt. Sản phẩm bảo hiểm này có số
tiền bảo hiểm linh hoạt, do đó đóng phí cũng linh hoạt (tăng giảm theo nhu cầu khả
năng tham gia bảo hiểm) và có thời gian kéo dài đến trọn đời. Sản phẩm này đáp ứng
nhu cầu cho số đông người muốn đầu tư tích lũy nhưng ngại mạo hiểm như đầu tư vào
TTCK, bất động sản…
Chiến lược kinh doanh chính là các sản phẩm bảo hiểm bán lẻ có tính nổi trội, khác
biệt về chiều sâu và chất lượng dịch vụ
Với mục đích mang lại cho khách hàng cơ hội mở rộng quyền lợi và phạm vi bảo
hiểm của hợp đồng chính với mức phí hợp lý nhất, những sản phẩm bảo hiểm mới
như : bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và bảo hiểm trợ cấp nằm viện ;
bảo hiểm cho trẻ em tham gia bảo hiểm sẽ được chăm sóc y tế chất lượng cao trong các
trường hợp tai nạn, ốm đau, bệnh tật phải điều trị nội trú.
Ngoài ra, với loại bảo hiểm dành cho cả gia đình: cha mẹ và con đều được bảo
vệ. Với yếu tố linh hoạt, giúp khách hàng có thể chủ động hoạch định với nhiều lựa
chọn về quyền lợi bảo hiểm: người tham gia bảo hiểm và người bạn đời của mình có
thể chọn số tiền bảo hiểm cho chính mình bằng 100%, 200% hoặc 300% số tiền bảo
hiểm của con mình theo sản phẩm chính để tăng cường sự bảo vệ tối đa phù hợp với
nhu cầu của gia đình.
Với sự bảo vệ toàn diện này khách hàng có thể yên tâm về tương lai học vấn của
con mình trong mọi hoàn cảnh. Khi cuộc sống êm trôi, bảo hiểm sẽ là người bạn đồng
hành giúp khách hàng tích lũy tài chính để trang trải chi phí học tập cho con mình. Khi
không may có rủi ro xảy ra với bố mẹ, bảo hiểm sẽ mang lại nguồn tài chính đáng kể để
đứa con được tiếp tục nuôi dưỡng trong điều kiện tốt và có thể đi hết con đường học
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 12/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
vấn đã được họach định. Đây chính là những điểm ưu việt của loại sản phẩm bảo hiểm
gia đình.
Hiện nay thu nhập của người dân Việt Nam chưa cao, các doanh nghiệp bảo hiểm
nên tạo ra những sản phẩm có mức phí thấp, đây là phân khúc thị trường rất tiềm năng
của bảo hiểm nhân thọ. Việc ra mắt những sản phẩm bảo hiểm mới không chỉ nhằm
góp phần làm đa dạng danh mục sản phẩm, thỏa mãn toàn diện nhu cầu bảo hiểm cho
khách hàng mà còn là giải pháp hỗ trợ tích cực cho tư vấn viên “chốt” các sản phẩm
chính với khách hàng dễ dàng hơn.
Sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm vô hình, do đó ngay khi trả tiền mua, khách
hàng sẽ không cảm nhận được và thấy được sản phẩm của doanh nghiệp. Chất lượng
sản phẩm được đánh giá thông qua sự thoả mãn yêu cầu của khách hàng. Nắm bắt được
đặc điểm này, DNBH đã nâng cao chất lượng sản phẩm của mình thông qua các dịch
vụ đi kèm, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc khách hàng, đồng thời doanh nghiệp cũng đa
dạng hoá sản phẩm và liên tục đổi mới sản phẩm bắt nhịp với nhu cầu thay đổi của
khách hàng. Khâu giám định, bồi thường tổn thất cũng là khâu hết sức quan trọng, là
yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm.DNBH với công tác giám định và
giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời sẽ tạo ấn tượng tốt đối với khách hàng, để
khách hàng trung thành hơn với doanh nghiệp.
c. Cải tiến công nghệ quản lý
Các doanh nghiệp bảo hiểm nên ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý như sử
dụng phần mềm quản lý nhân sự, quản lý và chăm sóc khách hàng, mỗi khách hàng có
một tài khoản riêng có thể truy cập vào hệ thống bất kỳ lúc nào để tra cứu thông tin về
tài khoản bảo hiểm của mình.…Từ đó giảm được các công việc giấy tờ mất nhiều thời
gian, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
d. Ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch với khách hàng
Ngày nay với sự phát triển của thương mại điện tử khách hàng dễ dàng đóng phí
bảo hiểm hàng kỳ qua dịch vụ internet-banking, máy ATM. Khách hàng không phải
đến công ty và đại lý bảo hiểm để đóng phí đồng thời Doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm cũng giảm được số lượng nhân viên đi phát thư và thu tiền từ đó giảm được chi
phí quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh.
e. Chú trọng phát triển thương hiệu
Thương hiệu là một yếu tố cũng vô cùng quan trọng, việc quảng bá hình ảnh sẽ giúp
doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. KDBH là kinh
doanh một sản phẩm dịch vụ vô hình, do đó việc xây dựng và phát triển thương hiệu
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 13/18
Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
trong cạnh tranh là rất cần thiết. Vì vậy các DNBH nói chung và DNBH nhân thọ nói
riêng luôn không ngừng quảng bá tên tuổi của mình để gia tăng doanh thu, chiếm lĩnh
thị phần bảo hiểm của mình.
Thương hiệu đuợc định nghĩa là cái tên gắn liền với sản phẩm, với doanh
nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó, dùng để phân biệt sản phẩm này và sản phẩm cạnh
tranh khác trên cùng một thị trường. Nó là một chỉ tiêu mang tính định tính dùng để
đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, người mua bảo hiểm chỉ nhận được
tiền bảo hiểm khi có sự kịên bảo hiểm xảy ra, khi khách hàng đóng tiền mua sản phẩm
bảo hiểm chỉ nhận được lời cam kết sẽ được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm từ phía
DNBH. Vì vậy, khi quyết định tham gia mua bảo hiểm, khách hàng thường coi trọng
tên tuổi, uy tín của các DNBH. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm rất dễ bắt chước do không
có sự độc quyền về công nghệ hay kỹ thuật. Khi đó, với những sản phẩm như nhau,
DNBH nào có thương hiệu mạnh hơn có thể định mức phí cao hơn, nhưng vẫn có nhiều
khách hàng lựa chọn vì họ tin rằng, họ sẽ được đảm bảo an toàn và phục vụ tốt hơn.
Hơn nữa, với tâm lý tin tưởng vào doanh nghiệp sẽ tạo động lực để họ tiếp tục ký kết
hợp đồng bảo hiểm. Điều đó tạo cho DNBH lượng khách hàng ổn định, và từ đó làm
tăng doanh thu và thị phần trên thị trường bảo hiểm.
Cạnh tranh đang ngày càng gay gắt trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ở mọi
loại hình sản phẩm dịch vụ. Bối cảnh đó tạo nên sức ép cạnh tranh mãnh liệt về giá
cùng với sự đa dạng về các hình thức quảng bá sản phẩm, thương hiệu, làm cho việc
tìm một chỗ đứng cho thương hiệu trở lên ngày càng khó khăn. Hình ảnh, biểu tượng,
thương hiệu…của doanh nghiệp là những tài sản vô hình nhưng ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Cùng các yếu tố định lượng như nhau về giá của
sản phẩm, số vốn của doanh nghiệp…nhưng doanh nghiệp nào có hình ảnh, thương hiệu tốt
hơn chắc chắn tạo được năng lực cạnh tranh cao hơn so với doanh nghiệp còn lại. Điều này
buộc các doanh nghiệp phải không ngừng chú trọng tới việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu
của mình đồng thời với việc xây dựng uy tín cho doanh nghiệp.
f. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực con người là nhân tố cơ bản, lâu dài, có tính chất quyết định trong việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của DNBH và cũng là nguồn lực vô tận, là lợi thế cạnh
tranh bền vững của doanh nghiệp. Con người là khởi nguồn của mọi sự sáng tạo, đồng
thời là người quản lý mọi nguồn tri thức, đóng vai trò quyết định tới sự phát triển kinh
tế của một đất nước, cũng như các doanh nghiệp nói chung và DNBH nói riêng. Cơ cấu
Nhóm 103 _ TC01K13 Page 14/18
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét