Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Đầu tư trực tiếp nước ngoaig phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 5
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
tụ, tập trung và xuất khẩu t bản là một hiện tợng kinh tế mang tính tất yếu
khách quan của nền kinh tế hiện đại.
Sau mỗi chu kỳ kinh tế, nền kinh tế của các nớc phát triển lại rơi vào
một cuộc suy thoái kinh tế, chính lúc này để vợt qua giai đoạn khủng hoảng
tạo ra những điều kiện phát triển đòi hỏi phải đổi mới t bản cố định. Thông
qua hoạt động đầu t nớc ngoài, các nớc công nghiệp phát triển có thể
chuyển máy móc thiết bị cần thay thế sang các nớc kém phát triển hơn và
thu hồi đợc một phần giá trị để bù đắp những khoản chi phí khổng lồ cho
việc mua sắm máy móc thiết bị. Bên cạnh đó những thành tựu khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đi vào ứng dụng trong
sản xuất và đời sống, các chu kỳ kinh tế ngày càng rút ngắn lại vì vậy yêu
cầu đổi mới máy móc thiết bị ngày càng cấp bách hơn. Do đó các nớc tiên
tiến tất yếu phải tìm nơi tiêu thụ các công nghệ loại hai, có nh vậy mới đảm
bảo thờng xuyên thay đổi công nghệ kỹ thuật mới.
Nguyên tắc lợi thế so sánh mà P.Vernon đã chứng minh rằng không
có nớc nào mạnh toàn diện và cũng không có nớc nào yếu toàn diện. Nếu
chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát huy đợc sức mạnh tổng hợp cho tất cả các
nớc. Qua hàm sản xuất: Y = f(K,L); Giáo s P. Vernon gợi ý rằng với các n-
ớc t bản phát triển nên tận dụng lợi thế so sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng
cao. Với các nớc đang phát triển nên sử dụng lợi thế so sánh với những mặt
hàng có hàm lợng lao động cao. Theo nguyên tắc này cho phép hoạt động
đầu t trực tiếp nớc ngoài lợi dụng đợc những u thế tơng đối của mỗi nớc,
đem lại lợi ích cho cả hai bên, bên đi đầu t và bên nhận đầu t. Các doanh
nghiệp nớc ngoài có lợi thế so sánh về vốn và kỹ thuật, còn các nớc nhận
đầu t có lợi thế về lao động dồi dào giá rẻ Do đó để khai thác đợc lợi thế
so sánh này tất yếu phải có quan hệ kinh tế quốc tế mà trong đó đầu t trực
tiếp nớc ngoài là một nhân tố quan trọng.
Nhà kinh tế học P. Samuelson cho rằng, để phát triển kinh tế các nớc
đang phát triển phải có biện pháp thu hút đợc FDI. Trong lý thuyết "cái
vòng luẩn quẩn" và "cú hích" từ bên ngoài, Samuelson cho rằng: "Đa số các
nớc đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức
tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ vốn hạn chế. Những nớc dẫn đầu trong
cuộc chạy đua tăng trởng phải đầu t ít nhất 20% sản lợng vào việc tạo vốn.
Trái lại, những nớc nông nghiệp nghèo nhất thờng chỉ có thể tiết kiệm đợc
5% thu nhập quốc dân. Hơn nữa, phần nhiều trong khoản tiết kiệm nhỏ bé
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 6
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những công cụ giản đơn cho số dân
đang tăng lên. Phần còn lại hầu nh rất ít cho phát triển".
Mặt khác, theo Samuelson, ở các nớc đang phát triển, nguồn nhân
lực bị hạn chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp, tài nguyên thiên nhiên khan
hiếm, kỹ thuật lạc hậu và gặp trở ngại trong việc kết hợp chúng. Do vậy, ở
nhiều nớc đang phát triển ngày càng khó khăn và càng tăng "cái vòng luẩn
quẩn".
Samuelson cho rằng: "Để phát triển kinh tế phải có "cú hích" từ bên
ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn". Đó là phải có đầu t của nớc ngoài
vào các nớc đang phát triển. Theo ông, "nếu có quá nhiều trở ngại nh vậy
đối với việc đi tìm tiết kiệm trong nớc để tạo vốn thì tại sao không dựa
nhiều hơn vào các nguồn bên ngoài? Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng
nói với chúng ta rằng, một nớc giàu sau khi đã hút hết những dự án đầu t có
lợi nhuận cao cho mình, cũng có thể làm lợi cho chính nó và nớc nhận đầu
t bằng cách đầu t những dự án lợi nhuận cao ra nớc ngoài đó sao?
Ngày nay trên thế giới xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội
mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, nó đã lôi kéo tất cả các nớc và các vùng
lãnh thổ từng bớc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Xu hớng này là một xu
hớng tất yếu của lịch sử, nó là sản phẩm của quá trình phân công lao động
mở rộng trên phạm vi toàn thế giới. Trong xu thế này, chính sách biệt
lập"đóng cửa"là không thể tồn tài và chính sách đó chỉ làm kìm hãm quá
trình phát triển kinh tế-xã hội. Một quốc gia không thể tách biệt khỏi thế
giới vì những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã kéo con ngời ở khắp nơi
trên thế giới xích lại gần nhau hơn và dới những tác động quốc tế khác
buộc các nớc phải mở cửa với bên ngoài.
3.b. Đầu t trực tiếp n ớc ngoài xu thế tất yếu trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế n ớc ta
Việt Nam đã trải qua cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ lâu
dài, và cho đến khi thống nhất đất nớc, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn
là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ, đời sống nhân dân khó
khăn, thu nhập bình quân đầu ngời vào loại thấp nhất thế giới. Chúng ta
đang rất cần nhiều thứ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế, cải thiện
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 7
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
đời sống ngời lao động. Những năm đầu khi thống nhất đất nớc viện trợ của
Liên X"và xã hội chủ nghĩa là chủ yếu. Đầu những năm 90 phe xã hội chủ
nghĩa tan rã, Việt Nam mất nguồn viện trợ lớn lao này. Nền kinh tế của
chúng ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, sản xuất đình trệ, hàng hoá khan
hiếm lạm phát tăng mạnh đến 3 con số, tình trạng không có việc làm trở
nên trầm trọng, đời sống nhân dân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Để
thoát khỏi tình trạng này việc tận dụng thế mạnh của hợp tác quốc tế đối
với việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc là một yêu cầu tất yếu. Tận
dụng lợi thế của đầu t trực tiếp nớc ngoài cho phép chúng ta đáp ứng đợc
phần nào nhu cầu đầu t và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của đất nớc. Việc tăng
cờng mở rộng hợp tác quốc tế giúp chúng ta từng bớc khôi phục và phát
triển kinh tế, đa đất nớc tránh khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Đồng thời
đây cũng là cơ hội để các nhà đầu t nớc ngoài khai thác chiếm lĩnh lợi thế
so sánh của nớc ta và chuyển giao công nghệ hạng 2 từ nớc họ sang. Đầu t
trực tiếp nớc ngoài là một xu thế không thể chối cãi cũng là con đờng ngắn
nhất, dễ dàng nhất để nớc ta có thể đẩy nhanh phát triển nền kinh tế của
mình. Xu hớng quốc tế hoá đời sống xã hội, kết quả của quá trình phân
công lao động trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nớc các vùng
lãnh thổ tững bớc hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó nếu
chúng ta"đóng cửa"nền kinh tế thì chỉ kìm hãm sự phát triển kinh tế mà
thôi. Việt Nam chúng ta không thể không hợp tác làm ăn, buôn bán với nớc
ngoài.Vì khoa học kỹ thuật ngày nay đã kéo loài ngời xích lại với nhau hơn
buộc chúng ta phải mở cửa hợp tác với bên ngoài.
I.1.4.Các nhân tố ảnh hởng đến đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài chịu ảnh hởng bởi rất nhiều nhân tố từ bên
trong nớc chủ nhà cũng nh các yếu tố từ bên ngoài:
4.a. Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong của nền kinh tế bao gồm tổng hoà các nhân tố
chính trị, kinh tế-xã hội và điều kiện tự nhiên.
Thứ nhất: Sự ổn định chính trị tạo môi trờng thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế của đất nớc. Nền chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện để các nhà
đầu t mở rộng kinh doanh. Đây là cơ sở để phát triển mạnh các ngành trong
nền kinh tế. đồng thời, trình độ của nền kinh tế đặc biệt là tốc độ tăng trởng
kinh tế quốc dân cao, thu nhập bình quân đầu ngời đợc cải thiện là yếu tố
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 8
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
hấp dẫn các nhà đầu t di chuyển vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vào
các ngành có khả năng sinh lợi cao để thu lợi ích.
Thứ hai: Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng trong sự phát triển và
thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. Với dân số trẻ và có học vấn khá, dễ
tiếp thu khoa học công nghệ, lao động của Việt Nam, nhất là lao động đã
qua đào tạo thực sự là một nguồn lực to lớn để phát triển và phát huy nguồn
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thứ ba: Các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố quan
trọng cho sự hấp dẫn của các nhà đầu t nớc ngoài. Nguồn tài nguyên phong
phú với trữ lợng lớn, chất lợng cao sẽ là yếu tố thu hút mạnh mẽ nguồn vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài, ví dụ: (nh dầu mỏ ở Iran, ả rập xê út, Cô-oet ).
Thứ t : Môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định nh tốc độ tăng trởng kinh tế
cao và ổn định lâu bền, kiềm chế đợc lạm phát, ổn định giá trị nội tệ và tỷ
giá hối đoái sẽ là nhân tố trực tiếp ảnh hởng đến sản xuất kinh doanh và lợi
nhuận của các nhà đầu t nớc ngoài. Chính vì vậy nó ảnh hởng rất lớn đến
thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài của nớc chủ nhà.
Thứ năm: Khuân khổ thể chế và pháp lý thuận tiện nh nền kinh tế
mở, hớng xuất khẩu, đồng tiền có khả năng chuyển đổi dễ ràng, chơng trình
t nhân hoá quy mô lớn, tham gia các khối thơng mại khu vực và thế giới, cơ
sở hạ tầng vật chất thuận lợi và hiện đại, hoàn thuế quan nhập khẩu, có các
biện pháp khuyến khích đầu t nớc ngoài là các yếu tố ảnh hởng lớn đến
thu hút và sử dụng đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thứ sáu: Bên cạnh các yếu tố trên đây, chính sách bảo hộ của chính
phủ, chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách chống độc quyền, chính
sách ngoại thơng (thuế quan, hạn ngạch ) của nớc chủ nhà đôi khi cũng
khiến các nhà đầu t nớc ngoài tìm cách đặt cơ sở sản xuất kinh doanh ngay
tại nớc chủ nhà để tránh những chính sách này của nớc chủ nhà.
4.b. Các nhân tố bên ngoài
Thứ nhất: Tình hình kinh tế xã hội, chính trị của nớc đi đầu t, chính
sách đầu t ra nớc ngoài của nớc đi đầu t (nh chính sách miễn thuế sản phẩm
chế biến tại một số cơ sở chế biến của họ tại nớc ngoài) ảnh hởng rất lớn
đến đầu t trực tiếp nớc ngoài. Kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực vừa qua cho ta thấy rõ vấn đề này.
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 9
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
Thứ hai: Quá trình tự do hoá thơng mại và đầu t làm cho các công ty
xuyên quốc gia phải cạnh tranh gay gắt với nhau trong việc tìm kiếm thị tr-
ờng mới. Do vậy đây chính là động lực để các nhà đầu t nớc ngoài đi đầu t
ở nớc khác.
Thứ ba: Bên cạnh những yếu tố trên việc các nhà đầu t nớc ngoài
phân tán rủi ro bằng cách đầu t tại nhiều địa điểm khác nhau ở nớc ngoài
cũng là yếu tố để các nhà đầu t đầu t ra nớc ngoài.
I.2. Các hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam
Trong thực tiễn và theo luật đầu t trực tiếp nớc ngoài của Việt Nam,
đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc thực hiện dới các dạng sau:
I.2.1.Doanh nghiệp liên doanh.
Đây là doanh nghiệp do các bên nớc ngoài và nớc chủ nhà cùng góp
vốn, cùng kinh doanh, cùng hởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn, có t cách pháp nhân theo luật pháp nớc nhận đầu t. Mỗi bên liên
doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia và với doanh nghiệp liên doanh
trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định. Tỷ lệ góp vốn của
bên nớc ngoài hoặc của các bên nớc ngoài do các bên liên doanh thoả
thuận. Theo luật đầu t nớc ngoài của Việt Nam, vốn góp của bên nớc ngoài
không thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh, và trong
quá trình hoạt động không đợc giảm vốn pháp định. Đối với các dự án xây
dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, các
dự án đầu t vào miền núi, vùng sâu, vùng xa các dự án trồng rừng tỷ lệ này
có thể thấp đến 20%. Nhng phải đợc cơ quan cấp giấy phép đầu t chấp
thuận.
I.2.2.Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Doanh nghiệp này là doanh nghiệp sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài
(tổ chức hoặc cá nhân ngời nớc ngoài) do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại
nớc chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động sản
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 10
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài đợc thành lập theo
luật pháp nớc chủ nhà.
Hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài có một vài dạng đặc biệt là:
Hình thức hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT) đây
là hình thức chủ đầu t tự chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng kinh
doanh công trình trong một thời gian dài đủ để thu hồi vốn đầu t và
có lợi nhuận hợp lý. Sau khi kết thúc dự án, toàn bộ công trình sẽ đợc
chuyển giao cho nớc chủ nhà và không thu bất cứ khoản tiền nào.
Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO) với hình thức
này sau khi xây dựng xong, nhà đầu t chuyển giao công trình cao n-
ớc chủ nhà. Chính phủ nớc chủ nhà giành cho nhà đầu t quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn
đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT) Đối với hình thức này, sau khi
xây dựng xong chủ đầu t chuyển giao cho nớc nhà, nớc chủ nhà sẽ
tạo điều kiện cho chủ đầu t nớc ngoài thực hiện dự án khác để thu
hồi đủ vốn đầu t và có lợi hợp lý.
I.2.3.Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đây là loại hình đầu t trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết
thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở n-
ớc nhận đầu t, trên cơ sở quy định rõ đối tợng, nội dung kinh doanh, nghĩa
vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên
hợp doanh ký. Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thoả thuận và
đợc cơ quan có thẩm quyền của nớc nhận đầu t phê chuẩn.
I.3. Vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với nền kinh tế Việt
Nam
I.3.1.Vai trò tích cực của đầu t trực tiếp nớc ngoài với Việt Nam
Tác dụng của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với các nớc đang phát
triển nói chung và với nớc ta nói riêng là rất to lớn, nó vừa có tính tích cực
vừa có tính tiêu cực. Vấn đề là ở chỗ các nớc đang phát triển phải biết tận
dụng những điểm tích cực để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá của
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 11
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
đất nớc mình, đồng thời chủ động tỉnh táo phòng ngừa để hạn chế đến mức
tối đa những tác động tiêu cực.

1.a. Đầu t trực tiếp n ớc ngoài là nguồn vốn quan trọng bổ sung
cho vốn đầu t phát triển
Đầu t trực tiếp nớc ngoài chiếm 26,5% tổng vốn đầu t xây dựng cô
bản toàn xã hội, là nguồn vốn bổ sung quan trọng để Việt Nam thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, bù đắp cho sự thiếu hụt của nguốn
vốn trong nớc. Hầu hết các nớc đang phát triển nh nớc ta đều có nhu cầu về
vốn để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên, các nớc
đang phát triển có tỉ lệ vốn tích luỹ trong nớc còn ở mức thấp là một trở
ngại lớn cho sự phát triển nền kinh tế-xã hội. Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp
phần huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu đầu t của nền kinh tế. Bên cạnh
đó đầu t trực tiếp nớc ngoài còn có những u thế hơn hẳn so với các hình
thức huy động vốn khác nh việc vay vốn nớc ngoài đôi khi trở thành gánh
nặng cho nền kinh tế. Hoặc nh các khoản viện trợ thờng đi kèm với các
điều kiện về chính trị, can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia.
Điều này ít xảy ra với đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài của các công ty vào nớc chủ nhà tạo ra tác
động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác của nớc chủ nhà.
Thông thờng một nớc mà tiếp nhận đợc nhiều đầu t trực tiếp nớc ngoài sẽ
tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác nh ODA
NGO Tạo đợc lòng tin của chủ nợ ngân hàng, chính phủ các nớc khác.
Bên cạnh đó đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần ảnh hởng tích cực đối với
lòng tin của ngời dân và góp phần vào việc huy động vốn trong dân.
1.b. Đầu t trực tiếp n ớc ngoài tạo khối l ợng lớn công ăn việc làm ,
tham gia phát triển nguồn nhân lực
Đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng thu hút một lợng lớn lao động, góp
phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của nớc ta., tham gia phát triển
nguồn nhân lực Các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài ảnh hởng trực tiếp đến
cơ hội tạo công ăn việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các
công ty có vốn nớc ngoài. Đầu t trực tiếp nớc ngoài còn gián tiếp tạo ra cơ
hội việc làm trong các tổ chức khác của nớc sở tại khi mà các nhà đầu t nớc
ngoài mua hàng hoá, dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nớc, hoặc thuê họ
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 12
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
thông qua những hợp đồng gia công chế biến. Thờng đầu t trực tiếp nớc
ngoài góp phần tích cực tạo việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao
động nh ngành may mặc, công nghiệp chế biến tính đến nay, lợng làm
việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam
là 33 vạn ngời. Việc tạo công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu
nhập cho ngời lao động và từ đó là điều kiện tăng tích luỹ trong nớc.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài tham gia phát triển nguồn nhân lực nâng
cao kỹ năng quản lý kinh doanh cho Việt Nam . Chính các chủ đầu t nớc
ngoài tổ chức mở các lớp đào tạo về quản lý kỹ năng làm việc đã góp phần
tích cực vào việc bồi dỡng đào tạo đội ngũ lao động ở nớc ta. Để cán bộ và
công nhân của nớc ta có khả năng quản lý và sử dụng các công nghệ tiên
tiến và yêu cầu của công việc. Cùng với nó các nhân viên ngời bản xứ có
thể tiếp cận đợc kho thông tin khổng lồ và kỹ năng quản lý của công ty mẹ.
Mặt khác các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài có yêu cầu cao về chất lợng
nguồn lao động và trả lơng với mức cao, quản lý tiên tiến, sử dụng công
nghệ hiện đại Điều đó đã kích thích và đặt ra yêu cầu khách quan cho
nhiều ngời lao động phải tự học tập nâng cao năng lực lao động, trình độ
chuyên môn, ngoại ngữ để có thể tham gia làm việc tại các công ty có
vốn đầu t nớc ngoài.

1.c. Nâng cao năng lực công nghệ
Song song với việc tạo nguồn vốn bổ sung, đầu t trực tiếp nớc ngoài
còn là một kênh quan trọng để đa kỹ thuật mới kỹ năng quản lý mới vào
các nớc đang phát triển. Thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài chúng ta có
thể tiếp nhận đợc những công nghệ này. Qua đó đầu t trực tiếp nớc ngoài có
thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật của nớc nhận đầu t nh góp phần tăng năng
suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm, và xuất khẩu.
Thúc đẩy phát triển các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lợng
công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp
hoặc hiện đại hoá chuyển dịch cơ cấu, tăng trởng nhanh ở nớc ta. Cùng với
việc chuyển giao các công nghệ phần "cứng"tiên tiến, đầu t trực tiếp nớc
ngoài còn chuyển giao các công nghệ"phần mềm"nh kỹ năng quản lý, bí
quyết công nghệ cho Việt Nam. Qua chuyển giao công nghệ làm trình độ
công nghệ của nớc chủ nhà ngày một cao hơn, từ đó nâng cao dần năng lực
của nớc chủ nhà. Đến một mức độ nào đó nớc chủ nhà không những chỉ
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 13
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
tiếp thu công nghệ mà còn"làm chủ"công nghệ và phát minh, cải tiến công
nghệ mới điển hình về lĩnh vực này là các nớc công nghiệp mới, nổi bật là
Hàn Quốc. Đứng về lâu về dài thì đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với
các nớc đang phát triển.
1.d. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h ớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Trong điều kiện nền kinh tế mở, các quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra
động lực và điều kiện cho sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của các
quốc gia. Trong đó đầu t trực tiếp nớc ngoài là một động lực mạnh mẽ có ý
nghĩa to lớn đến sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.
Thông qua hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài chúng ta sẽ tham gia
ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào quá trình liên kết giữa các nớc đòi
hỏi Việt Nam phải thay đổi cơ cấu kinh tế của nớc mình cho phù hợp với sự
phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu ở Việt Nam sẽ ngày
càng tiến bộ hơn phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của thế giới. Bên
cạnh đó đầu t trực tiếp nớc ngoài lại trực tiếp thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu của Việt Nam.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài tạo ra động lực và điều kiện để chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế của nớc nhận đầu t theo hớng tiến bộ.Thông qua đầu
t trực tiếp nớc ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực, ngành nghề mới ở
Việt Nam. Cùng với nó đầu t trực tiếp nớc ngoài giúp chúng ta sẽ phát triển
nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần
thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỷ phần của
nó trong nền kinh tế. Một tác động khác là đầu t trực tiếp nớc ngoài kích
thích phát triển một số ngành và đồng thời một số ngành bị mai một và đi
đến chỗ xóa sổ. Ngoài ra đầu t trực tiếp nớc ngoài còn làm phát triển một
số vùng nhất định nhất là những vùng có nhiều lợi thế và nhiều năng lực
phát triển và đợc khuyến khích nhiều. Những tác động này đã làm cho cơ
cấu nền kinh tế của nớc đầu t thay đổi một cách mạnh mẽ.
1.e. Một số lợi ích khác của đầu t trực tiếp n ớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần cải thiện căn bản cán cân thanh
toán quốc tế. Bởi vì hầu hết các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài là sản xuất
Bùi Hải Linh - Lớp Đầu T 40B 14
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phát triển nông nghiệp Việt Nam
sản phẩm"hớng vào xuất khẩu". Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã và đang góp
vào việc xuất khẩu hàng hoá là khá lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần quan trọng vào tổng giá trị sản
phẩm quốc nội, tạo nguồn thu ngân sách lớn cho đất nớc.
Thông qua hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài chúng t có thể tiếp
cận với thị trờng thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài đều do các công ty đa quốc gia thực hiện mà các quốc gia này có lợi
thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hoạt động dài hạn dựa
trên cơ sở thanh thế, uy tín của họ về chất lợng kiểu dáng của sản phẩm
Với Việt Nam sử dụng đầu t trực tiếp nớc ngoài nh một công cụ để
hợp tác quốc tế và "kích thích" liên kết kinh tế với các cơ sở kinh tế trong
nớc. Thông qua tiếp xúc với các doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài các doanh nghiệp trong nớc mở rộng đợc quy môvà năng lực kinh
doanh của mình.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những hình thức hợp tác đầu t
quốc tế. Thông qua hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài, chúng ta có thêm
điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, tăng cờng hoạt động ngoại th-
ơng.
I.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu t trực tiếp nớc ngoài
2.a. Về kinh tế
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài nhiều khi làm lợi ích của nhà
đầu t nớc ngoài vợt qua lợi ích của nớc chủ nhà nhận đợc. Vì để thu hút đầu
t trực tiếp nớc ngoài, nớc nhận đầu t phải áp dụng một số u đãi cho các nhà
đầu t nh: giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn
các dự án đầu t nớc ngoài. Hoặc việc trả tiền của họ cho việc thuê đất, nhà
xởng và một số dịch vụ trong nớc thấp, nhiều trờng hợp còn thấp hơn so với
nhà đầu t trong nớc. Hay trong một số trờng hợp đợc nhà nớc bảo đảm thuế
quan.
Trong nhiều trờng hợp, các nhà đầu t thờng tính giá cao cho những
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập gây ra chi
phí sản xuất cao ở nớc chủ nhà và nớc chủ nhà phải mua hàng hoá với giá
cao do nhà đầu t nớc ngoài sản xuất. Việc làm này đã mang lại nhiều lợi ích
cho chủ đầu t, chẳng hạn nh trốn đợc thuế của nớc chủ nhà đánh vào lợi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét