Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

231542

Mục lục:
1. Định nghĩa trái phiếu trang 4

2. Lợi tức và rủi ro của việc phát hành trái phiếu trang 4

3. Phân loại trái phiếu trang 6

4. Các điều kiện để phát hành trái phiếu trang 7

5. Các bước phát hành trái phiếu trang 8

6. Ưu nhược điểm của trái phiếu trong việc huy động vốn trang 8

7. Thực trạng và giải pháp thị trường trái phiếu Việt Nam trang 9

1.Định nghĩa trái phiếu
1.1. Trái phiếu là gì ?
Trái phiếu là loại chứng khoán có thu nhập cố định. Người nắm giữ trái phiếu sẽ nhận được một
khoản lợi tức hằng năm cố định và một khoản tiền xác định khi đáo hạn và bằng với giá gốc.
(Nguồn: Sách Phân tích Quản trị tài chính – Nguyễn Tấn Bình chủ biên – trang 159)
1.2. Các thông số đặc trưng: có ba thông số cơ bản
- Giá gốc: là số lượng tiền mà người nắm giữ trái phiếu sẽ nhận được vào ngày trái phiếu đáo hạn
và bằng với số tiền người mua trái phiếu bỏ ra để mua nó.
- Lãi suất trái phiếu: là tỷ lệ phần trăm theo giá gốc mà người phát hành hứa sẽ thanh toán hằng
năm cho nhà đầu tư như là lãi suất tiền vay.
- Thời gian đáo hạn: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả vốn
lần cuối.
(Nguồn: Sách Phân tích Quản trị tài chính – Nguyễn Tấn Bình chủ biên – trang 160)
2. Lợi tức và rủi ro đầu tư trái phiếu.
2.1.Lợi tức
Nhà đấu tư mua trái phiếu được hưởng lợi tức từ các nguồn sau:
2.1.1. Tiền lãi định kì
Thường được trả 1 năm/lần hay nửa năm/lần. Số tiền lãi này được tính trên cơ sở lãi suất cuống
phiếu (coupon interest rate) được quy định trước nhân (x) với mệnh giá trái phiếu.
C = c% x F
Ví dụ: trái phiếu mệnh giá 1 triệu đồng, lãi coupon 9% vậy hằng năm trái chủ nhận được số tiền lãi
là :
C = 9% x 1.000.000 = 90.000 đ
2.1.2. Chênh lệch giá:
Là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua trái phiếu. Với loại trái phiếu có tính thanh khoản cao,
nhà đầu tư sẽ bán trái phiếu khi giá trái phiếu tăng và được hưởng chênh lệch giá.
2.1.3. Lãi của lãi:
Trong trường hợp nhà đầu tư lãnh tiền lãi định kì và tái đầu tư ngay, tiền lãi này sẽ sinh ra lãi gọi
là lãi tái đấu tư. Như vậy, sau một số năm nắm giữ trái phiếu, số tiền lãi coupon được tái đầu tư sẽ
mang lại cho trái chủ một khoản lợi tức tiềm năng bao gồm lãi coupon và lãi tái đầu tư.
(Nguồn: sách Phân tích chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư – PGS.TS Bùi Kim Yến – trang
267)
2.2. Rủi ro của đầu tư trái phiếu :
Trên thị trường chứng khoán, trái phiếu được đánh giá là loại hàng hóa ít rủi ro nhất. Tuy nhiên,
đầu tư vào trái phiếu vẫn có rủi ro, mặc dù mức độ rủi ro ít hơn so với cổ phiếu. Sau đây là một số
rủi ro điển hình có thể xảy ra với trái phiếu:
2.2.1. Rủi ro lãi suất
Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất : khi lãi
suất tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm; khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu sẽ tăng. Nếu người đầu tư
phải bán trái phiếu trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãi suất vốn tăng lên, thì người đầu tư đó
sẽ bị lỗ vốn, tức là bán trái phiếu dưới giá mua. Tất cả các loại trái phiếu, trừ trái phiếu có lãi suất
thả nổi, đều phải chịu rủi ro lãi suất.
2.2.2. Rủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể
vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành. Trái phiếu
Chính phủ được coi là được coi là không có rủi ro thanh toán. Trái phiếu công ty khác nhau sẽ có
mức độ rủi ro khác nhau.
2.2.3. Rủi ro lạm phát
Rủi ro lạm phát, còn gọi là rủi ro sức mua, phát sinh do sự biến đổi trong giá trị dòng tiền mà
mua một chứng khoán đem lại, do lạm phát, được đo lường bằng sức mua.
Ví dụ : Nếu nhà đầu tư mua một trái phiếu có lãi suất coupon là 7% nhưng tỉ lệ lạm phát là 8%
thì sức mua của dòng tiền này thực sự đã giảm sút.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi có rủi ro lạm phát ở mức thấp hơn, trong chừng mực lãi suất phản
ánh được tỉ lệ lạm phát dự đoán.
2.2.4. Rủi ro tỷ giá hối đoái
Khi tỷ giá hối đoái thay đổi theo chiều hướng đồng tiền thanh toán trái phiếu bị giảm giá thì
nhà đâu tư nắm giữ loại trái phiếu này sẽ gặp phải rủi ro. Ví dụ như, nếu trái phiếu được thanh
toán bằng đồng Việt Nam, mà đồng Việt Nam lại giảm giá so với đôla Mỹ, thì người đầu tư sẽ
nhận được ít đôla Mỹ hơn. Đó là rủi ro tỷ giá.
2.2.5. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản tùy thuộc vào việc trái phiếu có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với
giá trị hay không. Thước đo chủ yếu đối với tính thanh khoản là độ lớn khoảng cách giữa giá hỏi
mua và giá chào bán trái phiếu mà nhà giao dịch yết lên. Nếu người đầu tư định năm giữ trái phiếu
cho tới khi đáo hạn thì rủi ro này không quan trọng lắm.
(Nguồn: sách Phân tích chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư – PGS.TS Bùi Kim Yến – trang
269)
3. Phân loại trái phiếu.
3.1.Phân loại theo người phát hành :
 Trái phiếu của Chính phủ : Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ phát hành trái
phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi
là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại
chứng khoán có ít rủi ro nhất.
 Trái phiếu của doanh nghiệp: Là những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần
và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có
nhiều loại và rất đa dạng.
 Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức này có thể phát hành trái phiếu
để tăng thêm vốn hoạt động.
3.2 Phân loại lợi tức trái phiếu
 Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần
trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.
 Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong các
kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu.
 Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng
được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái
phiếu đó đáo hạn.
3.3 Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành
3.3.1 Trái phiếu bảo đảm: Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị
làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có
quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm
thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:
▪Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một
bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh
giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
▪Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người
phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài
sản bảo đảm.
3.3.2. Trái phiếu không bảo đảm: Là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo
đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.
3.4 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
3.4.1. Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ
sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
3.4.2. Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách
của người phát hành.
3.5 Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu
3.5.1.Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được
quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và
tỷ lệ khi mua trái phiếu.
3.5.2.Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái
chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.
3.5.3.Trái phiếu có thể mua lại: Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua
lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A1i_phi%E1%BA%BFu)
4. Điều kiện phát hành trái phiếu.
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu khi có đủ các điều kiện sau:
▪ Là doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình sau: công ty cổ phần, công ty nhà nước trong thời
gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam.
▪ Có thời gian hoạt động tối thiểu là 01 năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động.
▪ Có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán.
▪ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề năm phát hành phải có lãi.
▪ Có phương án phát hành trái phiếu được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua.
(Nguồn: http://www.saga.vn/view.aspx?id=13778)
5. Các bước phát hành trái phiếu.
Thông thường, để phát hành trái phiếu, doanh nghiệp thường thuê một tổ chức tài chính như ngân
hàng, công ty chứng khoán làm đơn vị tư vấn phát hành. Vai phát hành theo đúng thông lệ thị
trường và đúng quy định của pháp luật, gồm:
1. Lập bản công bố thông tin về đợt phát hành trái phiếu, gồm: Phương án sử dụng tiền; rủi ro
khi đầu tư; đánh giá tín nhiệm và phân tích tài chính doanh nghiệp; phân tích ngành; một số vấn
đề về quản trị doanh nghiệp; kinh nghiệm và trình độ của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
2. Gửi bản công bố thông tin và dựng sổ (book building) tới các nhà đầu tư tiềm năng để cung
cấp thông tin và khảo sát nhu cầu, sự quan tâm của họ về quy mô vốn tham gia, mức lãi suất kỳ
vọng, kỳ hạn, cấu trúc của trái phiếu Nhà tư vấn sẽ đánh giá, tổng hợp nhu cầu của nhà đầu tư và
trên cơ sở những điều kiện đã dự kiến, nhà phát hành sẽ chốt lại những điều khoản cuối cùng.
3. Thông báo tới các nhà đầu tư về các điêu khoản cuối cùng của trái phiếu.
4. Kết thúc thời hạn chào bán, nhà tư vấn sẽ tiếp nhận đơn đặt mua trái phiếu, tổng hợp và thông
báo phân bổ số lượng trái phiếu.
(Nguồn: www.baomoi.com/Khi-nao-nen-phat-hanh-trai-phieu/126/3104651.epi)
6. Ưu nhược điểm của trái phiếu trong việc huy động vốn.
Ưu điểm Nhược điểm
- Có thể huy động vốn nhanh với lượng
vốn có thể huy động lớn từ nhiều đối
tượng có tiềm lực tài chính(quỹ đầu tư,
Cty và tập đoàn bảo hiểm, tài chính )
- DN có thể áp dụng lãi suất linh hoạt
cũng như nhiều phương án trả lãi và gốc
- Phát hành trái phiếu không làm pha
loãng lợi ích cổ đông, chủ động hơn về
nguồn vốn với lãi suất thấp, do lãi suất
trái phiếu thường xác định trước và là
chi phí được khấu trừ thuế.
- Không cần có tài sản thế chấp và được
chủ động sử dụng số tiền huy động mà
không có sự giám sát của ngân hàng,
thời gian hoàn lại tiền cũng lâu hơn
- Chỉ có công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được phép phát hành trái phiếu.
- Thông tin về doanh nghiệp phải được
công bố rộng trên hệ thống thông tin,
nên đối thủ cạnh tranh có thể biết được
những thông tin bất lợi của công ty, làm
giảm tính cạnh tranh so với đối thủ.
- DN phải thanh toán đầy đủ khi đáo hạn
đúng theo cam kết trong hợp đồng với
mức lãi suất cố định
( Nguồn: http://thegioiketoan.com/ke-toan-quan-tri-quan-tri-tai-chinh-dn/26654-phan-tich-uu-
diem-va-han-che-cua-cac-hinh-thuc-huy-dong-von-cua-dn.html và
http://www.vntrades.com/tintuc/name-News-file-article-sid-48849.htm)
7. Thực trạng và giải pháp thị trường trái phiếu Việt Nam
7.1. Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Hiện nay thị trường trái phiếu Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển với sự tồn tại của thị
trường trái phiếu Chính phủ. Dư nợ trái phiếu còn rất thấp (khoảng 7% GDP) so với các thị trường
trong khu vực (Trung Quốc 21%, Thái Lan 33%, Malaysia 62%), chủ thể phát hành không đa
dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị trường và hệ thống giao dịch, thanh toán còn nhiều hạn
chế. Hơn nữa, một thị trường để giúp hai đối tượng rất quan trọng là doanh nghiệp và chính quyền
địa phương huy động vốn thì hầu như chưa tồn tại.
1. Trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước: Hàng hoá giao dịch trên thị trường trái
phiếu chủ yếu là Trái phiếu Chính phủ nên chưa tạo được sức hấp dẫn cho nhà đầu tư.
2. Trái phiếu chính quyền địa phương: Chủ yếu cho các địa phương huy động vốn phục vụ cho
việc xây dựng các công trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ yếu phát hành
thông qua công chúng của chính địa phương đó thông qua KBNN. Hiện nay, chỉ có hai địa phương
là Hà nội và TP.HCM là thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương thường xuyên, với
số lượng lớn nhằm huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi tại địa
phương.
3. Trái phiếu doanh nghiệp :
Hiện nay Nhà nước rất ưu ái trong việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp nên chỉ mất khoảng 6
đến 8 tuần doanh nghiệp có thể hoàn tất hồ sơ phát hành. Tuy nhiên, nếu đi vay ngân hàng hay
phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn cho khâu chuẩn bị và xét duyệt hồ
sơ. Phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn. Nếu doanh nghiệp
có nhu cầu trên 1.000 tỉ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát hành trái phiếu dễ dàng hơn
so với việc đi vay hay phát hành cổ phiếu.
Từ những thực trạng trên, có thể rút ra vài nhược điểm của thị trường trái phiếu:
Thứ nhất: Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp
Thị trường trái phiếu Việt Nam có quy mô quá nhỏ. Chủ yếu trái phiếu Chính phủ đang ''thống
lĩnh'' thị trường, trong khi trái phiếu của các DN phát hành rất hạn chế. Tính thanh khoản của các
loại trái phiếu còn thấp.
Thị trường trái phiếu Chính phủ thiếu một cơ chế giao dịch có khả năng cung cấp thanh khoản cho
các trái phiếu Chính phủ như các nhà tạo lập thị trường, hợp đồng mua lại. trái phiếu Chính phủ
phát hành với khối lượng và giá trị niêm yết lớn, trong khi những người nắm giữ trái phiếu Chính
phủ trên thị trường sơ cấp là các nhà đầu tư có tổ chức (trừ các đợt phát hành riêng lẻ qua hệ thống
Kho bạc). Nhu cầu giao dịch phát sinh là các giao dịch lớn và ít mang tính tương thích thời điểm,
hạn chế tính thanh khoản của trái phiếu.
Thứ hai: Hệ thống các nhà đầu tư chưa phát triển
Hệ thống các nhà đầu tư chưa phát triển, nhất là các nhà đầu tư tổ chức. Hiện nay thiết lập được hệ
thống các nhà tạo lập thị trường; các thể chế trên thị trường chưa hoàn chỉnh. Nhiều định chế tài
chính trung gian như các quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ đầu tư mạo hiểm, công ty định mức tín nhiệm
chưa được thành lập.
Thị trường trái phiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư và có rất nhiều nguyên nhân khiến
các nhà đầu tư ít quan tâm đến loại chứng khoán này. Lý do là giao dịch trái phiếu đòi hỏi một
lượng vốn lớn, chỉ thích hợp với các nhà đầu tư có tổ chức, trong khi thị trường trái phiếu hiện nay
có rất ít các nhà đầu tư có tổ chức.
Thứ ba: Tính đồng bộ của thị trường này còn thấp
Khả năng tập trung và phân bổ nguồn lực tài chính qua thị trường chưa thực sự hiệu quả, còn có sự
chưa ăn khớp giữa cơ cấu và kỳ hạn huy động vốn với sử dụng vốn. Sự phối hợp giữa các kênh
huy động vốn còn chưa đồng bộ; vai trò của trái phiếu Chính phủ trong việc định hướng lãi suất
thị trường còn hạn chế. tỷ lệ huy động vốn dài hạn qua kênh tín dụng ngân hàng hiện nay thấp.
Trong khi đó, việc sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn cho đầu tư dài hạn, làm giảm hiệu quả sử dụng
và tăng nguy cơ rủi ro tài chính; việc phối hợp điều hành lãi suất giữa thị trường tiền tệ và thị
trường vốn chưa thật ăn khớp, tiến trình cải cách hệ thống tổ chức tín dụng còn chậm; việc kiểm
soát các dòng vốn trong nền kinh tế chưa thực sự có hiệu quả, vẫn còn tình trạng vốn dài hạn
chuyển sang đầu tư ngắn hạn và ngược lại.
Thứ tư: Hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh
Khung pháp luật mới được hình thành bước đầu; một số lĩnh vực vẫn chưa có hệ thống văn bản
pháp lý hoàn chỉnh, nhất là lĩnh vực chứng khoán. Các nguyên tắc quản lý và chuẩn mực quốc tế
về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán tuy đã được áp dụng nhưng còn ở phạm vi hẹp.
Thể chế pháp luật còn thiếu các qui định cần thiết nên hạn chế sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi
ro như hoán đổi lãi suất, mua bán kỳ hạn hay tái mua lại nhằm giúp nhà đầu tư có thể bảo vệ rủi ro
cho mình.
Thứ năm: Tính cạnh tranh thấp
Trái phiếu Chính phủ chưa cạnh tranh được với sự thuận tiện của hình thức gửi tiết kiệm, đầu tư
kỳ phiếu ở các ngân hàng thương mại cùng với tính thanh khoản kém hơn nên chưa thu hút được
tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.
Thứ sáu: Từ phía các công ty, chưa quen với kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
Thị trường trái phiếu công ty kém phát triển do các công ty chưa quen với việc huy động vốn vay
trực tiếp qua phát hành trái phiếu mà vẫn dựa vào nguồn vốn vay của ngân hàng, đặc biệt là các
Tổng công ty lớn, các DN Nhà nước do có khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ngân hàng, vay
ưu đãi. Các đơn vị này cũng thiếu tổ chức định mức tín nhiệm giúp cho việc xác định tín nhiệm và
làm tăng tính minh bạch cho các trái phiếu phát hành; chưa xây dựng được đường cong lợi suất phi
rủi ro cho trái phiếu Chính phủ phát hành làm tiêu chuẩn cho việc định lãi suất phát hành các công
cụ nợ khác như trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị
Thứ bảy: Thông tin thị trường
Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, nguyên nhân quan trọng khiến thị trường trái phiếu
của Việt Nam kém hấp dẫn chính là việc thiếu một hệ thống cung cấp thông tin đầy đủ. Thể hiện
rõ nhất là cho đến nay vẫn chưa có những công ty định mức tín nhiệm.
Thứ tám: Phí giao dịch cao
Theo quy định, việc giao dịch trái phiếu Chính phủ phải thông qua các CTCK- là tổ chức trung
gian thu phí cả người mua lẫn người bán. Để một giao dịch trái phiếu Chính phủ 100 tỉ đồng được
hoàn tất thì nhà đầu tư phải mất đến cả 100 triệu đồng tiền phí, mà thông thường những giao dịch
mua bán trái phiếu Chính phủ là những giao dịch lớn, ít nhất có giá trị từ 100-300 tỉ đồng. Chính
điều này làm cho thị trường trái phiếu Chính phủ của VN không thu hút được nhiều nhà đầu tư
giao dịch, nhất là các NH nước ngoài.
7.2. Giải pháp phát triển thị trường Trái phiếu Việt Nam hiện nay .
Thị trường trái phiếu của Việt Nam cần phát triển theo hướng thị trường hóa với sự đa dạng hóa
các chủ thể tham gia và hàng hóa giao dịch để tạo nền tảng cho phát triển lâu dài của thị trường
vốn nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng.
* Giải pháp ngắn hạn
Thứ nhất: Cần cụ thể hoá các tiêu chuẩn phê duyệt trái phiếu
Bộ Tài chính và Ngân hàng nước (NHNN) cần phải cụ thể hoá các tiêu chuẩn phê duyệt phát hành
trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu của các tổ chức tín dụng.
Cần có những biện pháp và hệ thống đánh giá chuẩn hơn để xác định lãi suất phát hành hợp lý, qua
đó giảm gánh nặng nợ vay. Ttăng khối lượng phát hành thay vì phát hành nhiều đợt với số lượng
nhỏ nhằm giảm chi phí phát hành và thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư có tổ chức tham gia.
Thể chế pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô cần được cải thiện hơn nữa nhằm nâng mức xếp
hạng, đủ điều kiện để đạt được tiêu chuẩn đầu tư của các nguồn quỹ lớn trên thế giới.
Bộ Tài chính nên tiến hành ban hành mẫu Bản cáo bạch chung cho các công ty muốn phát hành
trái phiếu và công bố thông tin về kế hoạch ngân sách trung hạn của chính quyền địa phương.
Thứ hai:Thành lập sàn giao dịch trái phiếu
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nên tham khảo ý kiến của các nhà làm
luật và các tổ chức tham gia thị trường chứng khoán để thành lập một sàn giao dịch trái phiếu giữa
các nhà môi giới. Sàn giao dịch trái phiếu này phải tạo được môi trường giao dịch có hiệu quả cho
các nhà tạo lập thị trường, vì trái phiếu không thể áp dụng một phương thức giao dịch giống như
giao dịch cổ phiếu. Đồng thời, phải hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp phát hành. Bên cạnh đó,
thủ tục chuyển nhượng cũng phải đơn giản, nhanh chóng.
Thứ ba: Chính sách đa dạng hóa các chủ thể phát hành trái phiếu
Thứ tư: Đa dạng hóa phát hành trái phiếu chính quyền địa phương
Thứ năm: Thu hút và phát triển các “nhà kiến tạo thị trường”
Các nhà kiến tạo thị trường thường là các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán với các hoạt động
cơ bản như: đầu tư, môi giới, đại lý, bảo lãnh phát hành trái phiếu. Họ là những nhà phân phối trái
phiếu thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao nên có thể đưa trái phiếu vào giao dịch trên thị
trường theo những phương thức khác nhau.
Để thu hút các nhà kiến tạo thị trường, cần dần nới lỏng sự can thiệp và điều hành của cơ quan
quản lý tức Bộ Tài chính về lãi suất trái phiếu như lâu nay. Nên bãi bỏ lãi suất trần trái phiếu, hay
nói cách khác lãi suất trái phiếu không nhất thiết phải ổn định theo thời gian mà thay đổi theo thị
trường. Bộ Tài chính cần đa dạng các kỳ hạn với việc phát hành trái phiếu dài hạn hơn để tạo
đường cong lãi suất chuẩn cho thị trường vốn, kèm theo đó là xây dựng kế hoạch phát hành theo
lịch biểu chặt chẽ để cung cấp điều đặn khối lượng trái phiếu cho thị trường; đồng thời, sử dụng
kỹ thuật phái sinh để phòng chống rủi ro đối với các trái phiếu dài hạn và điều chỉnh đường cong
lãi suất chuẩn bằng việc đưa vào áp dụng hợp đồng mua bán lại.
Thứ sáu: Tạo tính thanh khoản cho trái phiếu
Tách thị trường trái phiếu ra khỏi thị trường cổ phiếu để hình thành thị trường trái phiếu chuyên
biệt.
Cần đa dạng hoá phát hành trái phiếu: Trái phiếu có lãi suất thay đổi theo lãi suất thị trường, trái
phiếu có kỳ hạn thay đổi, trái phiếu với các loại tiền tệ khác nhau như USD, EUR, …
Thứ bảy: Khuyến khích hình thành tổ chức định mức tín nhiệm trong và ngoài nước
Công ty định mức tín nhiệm (CRA) giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế. CRA sẽ đánh giá các ngành
kinh tế, phân tích tiền tệ, phân tích đánh giá các phương trình đầu tư của Chính phủ, chẳng hạn
như chương trình phát triển mía đường, chương trình xây dựng các nhà máy xi măng,…giúp minh
bạch hoá thông tin của doanh nghiệp, tổ chức phát hành trái phiếu. Từ đây, nhà đầu tư có thể biết
được mức độ rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu địa phương và trái phiếu
chính phủ. Từ đó, họ có cơ sở để ra quyết định có đầu tư hay không, và đầu tư thì với lãi suất
mong đợi của họ là bao nhiêu? Điều này cũng giúp cho những doanh nghiệp, địa phương và Chính
phủ có mức độ tín nhiệm cao sẽ được huy động vốn với chi phí thấp, chứ không cào bằng lãi suất
trái phiếu như trước đây.
Ngoài CRA trong nước, thì cần cho phép một số tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín của nước
ngoài thực hiện hoạt động định mức tín nhiệm ở Việt Nam. Như vậy, với CRA trong nước và
nước ngoài sẽ gọi vốn đầu tư vào Việt Nam: Một trong những lý do khiến các nhà đầu tư chưa
dám đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam như chúng ta mong đợi, cũng là vì thiếu một công
ty định mức tín nhiệm trên thị trường vốn Việt Nam.
Thứ tám: Các doanh nghiệp cần nâng cao, đổi mới tư duy quản lý doanh nghiệp và sử dụng vốn
có hiệu quả
Cần tạo được niềm tin cho nhà đầu tư; bảo đảm an toàn tài chính; yêu cầu các doanh nghiệp phát
hành trái phiếu phải tuân thủ theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Quốc tế; đầu tư đổi mới
công nghệ, các số liệu phải được hạch toán kịp thời, chính xác với thực trạng.
Xây dựng và thẩm định dự án thật kỹ trước khi quyết định đầu tư; phải nhân diện được rủi ro trong
hoạt động kinh doanh và có biện pháp hạn chế rủi ro; đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận phải cao hơn lãi suất
tiền gửi tiết kiệm.
Thứ chín: Đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế
Để đảm bảo cho việc huy động vốn ở thị trường quốc tế với chi phí rẻ, Việt Nam cần hoàn thiện
hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ Quốc tế và minh bạch hoá thông tin; khi đó mới được các
tổ chức xếp hạng tín nhiệm đánh giá cao.
Thứ mười: Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước
Hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ đáp ứng được yêu cầu quản lý, giám
sát và hội nhập với thị trường trái phiếu của khu vực và quốc tế.
Bổ sung các chế tài xử lý nghiêm minh về dân sự, hình sự để phòng ngừa và xử lý các hành vi vi
phạm trong hoạt động trên thị trường trái phiếu.
Áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thị trường theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm
tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường; kiểm tra, giám sát
hàng hoá đưa ra thị trường, đảm bảo tính công khai, minh bạch; tăng cường năng lực giám sát,
cưỡng chế thực thi của cơ quan giám sát thị trường.
* Giải pháp dài hạn
Thứ nhất: Phát triển thị trường trái phiếu theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, vận hành
theo các thông lệ quốc tế tốt nhất, có khả năng liên kết với các thị trường khu vực và quốc tế.
Thứ hai: Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường; mở rộng
hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; phát triển đầy đủ các định chế trung
gian; đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp, … đảm bảo có đầy đủ các yếu tố cấu thành một thị trường
trái phiếu phát triển trong khu vực.
Thứ ba: Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá; hài hoà giữa mục tiêu huy
động vốn thông qua thị trường trái phiếu cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thị trường
trái phiếu với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Thứ tư: Tăng cường quản lý nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra giám
sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị trường.
(Nguồn: http://www.saga.vn/dictview.aspx?id=7697)
CÁC NGUỒN TÀI LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG:
_ Sách Phân tích Quản trị tài chính – Nguyễn Tấn Bình chủ biên
_ Sách Phân tích chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư – PGS.TS Bùi Kim Yến

Xem chi tiết: 231542


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét