Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

phong tuc viet nam dinh sang

Mục III: Giao thiệp
30. Xưng hô như thế nào cho đúng?
31. Vợ chồng xưng hô với nhau như thế nào?
32. Cách xưng hô trong họ
33. Phải chăng "Lời chào cao hơn mâm cỗ"?
34. "Nhập gia vấn huý" nghĩa là gì?
35. Ai vái lạy ai?
36. Đạo thầy trò
37. "Miếng trầu là đầu câu chuyện?
38. Xuất xứ của tục nhuộm răng và cách nhuộm?
39. Tại sao gọi là "Tóc thề?"
40. Màu sắc với truyền thống văn hoá dân tộc
41. Vì sao có tục bán mở hàng?
Bán mở hàng thế nào cho đắt khách?
Mục IV: Đạo hiếu
42. "Đạo hiếu" là gì?
43. Tục khao lão
44. Yến lão
45. Tại sao những năm gần đây có phong trào khôi phục
việc họ?
46. Quan hệ giữa họ hàng và làng xã như thế nào?
47. "Ruộng hương hoả" có ý nghĩa như thế nào?
48. Vai trò của tộc trưởng xưa và nay
49. Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng
50. "Hợp tự" là gì? Tại sao phải hợp tự.
51. "Gia phả" là "Gia bảo", có đúng không?
52. Một gia phả hoàn chính có những mục gì?
Mục V: Lễ tang
53. "Thọ mai gia lễ" là gia lễ nước ta hay Trung Quốc?
54. "Ba cha tám mẹ" là những ai?
55. "Chúc thư" là gì?
56. "Cư tang" là gì?
57. Vì sao có tục "Mũ đai gai chuối và chống gậy"?
58. "Năm hạng tang phục" là gì?
59. Cha mẹ có để tang con không?
60. Tại sao cha mẹ không đưa tang con?
61. Đám tang trong ngày Tế tính liệu ra sao?
62. Lễ cưới đã chuẩn bị sẵn vấp phải lễ tang tính sao đây?
63. Người đi dự đám tang nên như thế nào?
64. Đi đường gặp đám tang nên như thế nào?
65. Người sắp chết có những dấu hiệu gì báo trước?
66. Trong giờ phút thân nhân hấp hối, cần làm gì?
67. Sau khi thân nhân chết, gia đình cần làm gì?
68. Tại sao có tục hú hồn trước khi nhập quan?
69. Chết đã cứng, làm thế  nào để bỏ lọt vào áo quan?
70. Những vật liệu gì lót vào áo quan?
71. Tại sao trước khi khâm liệm lại đưa người chết nằm xuống đất?
72. Sau lễ thành phục, trước khi an tán làm những gì?
73. Những người điều hành công việc trong lễ tang.
74. Lễ an táng tiến hành như thế nào?
75. Hơi lạnh ở xác chết - Cách phòng
76. Tại sao? Tại sao? Và tại sao?
77. Hiện tượng "Quỷ nhập tràng"
78. Lễ "Ba ngày" tính từ ngày nào?
79. Lễ "Cúng cơm trong trăm ngày" có ý nghĩa gì?
80. Làm lễ Chung thất và Tốt khốc có chọn ngày không?
81. Lễ nào là lễ trọng?
82. Sau khi hết tang làm lễ trừ phục thế nào?
83. Vì sao có tục đốt vàng mã?
84. "Chiêu hồn nạp táng" là gì?
85. "Hình nhân thế mạng" là gì?
86. Tại sao phải cải táng? Khi nào không nên cải táng?
87. "Thiên táng" là gì?
88. "Đất dưỡng thi" là gì?
89. Tại sao kiêng không đắp mộ trong vòng tang?
90. Tại sao phải cất mộ ban đêm hoặc sáng sớm khi mặt trời chưa
mọc hoặc nếu làm ban ngày thì phải có lán che?
91. "Ma trơi" hay "Ma chơi"?
Mục VI: Giỗ Tết tế lễ
92. "Tục bái vật" là gì?
93. Lễ giỗ cúng vào ngày nào?
94. Mấy đời tống giỗ?
95. Chết yểu có cũng giỗ không?
96. Cúng giỗ và mừng ngày sinh thế nào?
97. Tết Nguyên Đán có từ  bao giờ?
98. Ngày Tết có những phong tục gì?
99. Vì sao kiêng hót rác trong ba ngày Tết?
100. Tại sao cúng giao thừa ở ngoài trời?
101. Tại sao có "Tết Hàn Thực?"
102. Tết Đoan Ngọ có những tục gì?
 
Mục VII: Vấn đề chọn ngày, giờ
103. Có ngày tốt hay xấu không?
104. Xem ngày, kén giờ
105. Chú giải bài "Xem ngày, kén giờ" của Phan Kế
Bính
106. Thế nào là "Âm dương, ngũ hành?
107. "Thiên can, địa chi" là gì?
108. "Lục thập hoa giáp" là gì?
109. Cách tính ngày tiết, ngày trực và nhị thập bát tú
theo dương lịch
110. Các đổi ngày dương lịch ra ngày can chi
111. "Giờ hoàng đạo" là gì? Cách chọn giờ hoàng
đạo
112. Cách tính ngày hoàng đạo, hắc đạo?
 
1. Nam nữ thụ thụ bất thân nghĩa là gì?
Đây là câu nói cửa miệng, quen dùng chỉ mối quan hệ nam nữ theo
quan niệm của nhà nho.
Người đàn ông và người đàn bà ngày xưa trao cho nhau cái gì, nhận
của nhau cái gì, đều không trực tiếp tận tay, sợ bấm nháy, ra hiệu gì
với nhau chăng? (Hai chữ "thụ thụ" trái ngược nghĩa: một chữ "thụ" là
trao cho, một chữ "thụ" là nhận).
Hai người muốn mời nhau ăn trầu, thì người chủ têm trầu, xếp vào cơi
trầu, đặt giữa bàn, khách tự nhặt lấy mà ăn. Lễ giáo phong kiến thật
khắt khe, việc tỏ tình yêu trực tiếp khó mà thực hiện được, họa chăng
chỉ còn đôi mắt thầm lén nhìn nhau!
Người châu Âu từ nhỏ đến già, theo phép lịch sự bắt tay nhau, nhảy
với nhau là chuyện thường. Nhưng, người Việt Nam và ngườiáĐông
nói chung, nam nữ vô ý chạm vào da của người khác giới thì coi như
có cử chỉ không đứng đắn.
Người đàn ông có thái độ suồng sã sẽ bị đàn bà xa lánh, nhưng không
đáng lo bằng người con gái lẳng lơ, bị xã hội dèm pha thì khó mà lấy
được tấm chồng cho đáng tấm chồng. Vì vậy các nhà quyền quý
thường "cấm cung" con gái. Ngay từ tuổi thơ đã sớm hình thành sự
ngăn cách giới tính. Thời phong kiến xưa, chỉ những người có tư tưởng
tân tiến mới cho con gái đi học, và có đi học thì con trai ngồi riêng con
gái ngồi riêng. Trai gái đi cùng nhau, vui chơi cùng nhau bị bạn bè
cùng lứa chế nhạo. Có hội hè đình đám cũng phải phân biệt đàn ông
đứng bên trái, đàn bà đứng bên phải.
ởthành thị, vợ chồng nằm ngủ với nhau một giường là chuyện bình
thường, nhưng xin các bạn lưu ý, ở nông thôn đàn bà nằm nhà trong,
đàn ông nhà ngoài đã trở thành nếp rồi. Ngày xưa, phổ biến mọi nơi
đều thế, ngày nay lệ đó vẫn còn ở nhiều vùng, nhiều nhà. Nếu các bạn
có dịp về thăm bà con họ hàng ở quê thì tốt nhất hai vợ chồng nên
tránh nằm chung giường kẻo các cụ còn cảm thấy chướng mà phật ý.
2. Mối lái là gì?
Trong xã hội phong kiến xưa "Nam nữ thụ thụ bất thân" nên hôn nhân
cần phải người môi giới. nếu yêu nhau, cưới hỏi không cần mối lái sẽ
bị chê trách là "Phải lòng nhau" "Mắc phải bùa yêu". Nguyễn Du đã
vạch đường cho Kim Trọng. Thuý Kiều cứ yêu nhau rồi sẽ "Liệu bài
mối manh" nên các cụ nhà nho mới kịch liệt phản đối khuyên con cháu
rằng:
"Đàn ông thì chớ Phan Trần,
Đàn bà thì chớ Thuý Vân, Thuý Kiều"
Chu Mạnh Trinh vịnh Kiều còn nói: "Chỉ vì một tội mối manh chưa
có, thề thốt đã nhiều; trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi" Nếu
không có "Nhà băng đưa mối" thì nhà trai làm sao biết được người
thục nữ trong cửa các phòng khuê.
Trong xã hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi
vừa lứa thì bà mối sẽ trở thành ân nhân suốt đời. lễ tơ hồng xong, tạ bà
mối một nửa mâm xôi, nửa con gà kèm theo chiếc áo lụa. Chẵn tháng
con đầu lòng thế nào cũng cố mời bà mối đến dự, để tỏ nghĩa tri ân.
Nhưng cũng có nhiều tai hoạ do những bà mối có động cơ bất chính
gây nên, để đôi trẻ suốt đời mang mối hận vì phận hẩm duyên hiu:
"Hoặc là bởi "Mẹ thầy lộn quýt", quên những thói mơ tôm mảng cá,
qua lại ít nhiều ngọt miệng, ép uổng duyên cô nông nỗi thế, nặng tiền
tài mà nhẹ gánh tình chung. Hay vì chưng "Mối lái đèo bòng", chẳng
nhằm khi vào lộng ra khơi, nói phô mật ngọt rót vào tai, dỗ dành phận
gái ngẩn ngơ tình, già nhân sự để non quyền tạo hoá"
(Trích "Văn tế sống người con gái" - Một bài văn tế khuyết danh được
truyền tụng ở Hà Tĩnh vào đầu TKXX).
ởxã hội mới cũng cần có bà mối, bà mối thời nay là người cố vấn,
người đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu dài. trong tương lai,
có lẽ vai trò của bà mối là những phương tiện thông tin đại chúng (như
quảng cáo trên Đài truyền thanh truyền hình, báo chí, chụp ảnh) và
những công ty du lịch, câu lạc bộ những người độc thân
3. Lễ vấn danh có ý nghĩa gì?
"Lễ vấn danh" là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay
gọi là lễ "Chạm ngõ" hay là lễ "Dạm" (có nơi kiêm cả lễ dạm và hỏi
cùng một lúc gọi là lễ dạm hỏi). Truyện Kiều có câu "Tiện đưa canh
thiếp trước cầm làm ghi". "Canh thiếp" là giấy ghi họ tên, tuổi, quê
quán, con ai.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nhiều vùng nông thôn, con gái
từ khi sinh đến khi lấy chồng vẫn chưa đặt tên, nếu như gia đình không
cho con gái đi học. Con gái không cần vào sổ họ, sổ làng, không đi học
nên cũng không cần dặt tên vội.ởtrong nhà con gái mới sinh ra được gọi
là con Hĩm, con Mực, con Chắt em Trong nhà gọi tên gì thì xóm
giềng gọi theo tên đó. Đến làm lễ vấn danh, ông bác hoặc bố mới đặt
cho cái tên để ghi trong giấy hôn thú, có khi chính người mang tên
cũng không biết mình mang tên gì trong giấy hôn thú, vì khi về nhà
chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con gọi theo tên con, có cháu đích
tôn gọi theo tên cháu. Lễ vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ yếu là
hỏi tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được
nhau, tuổi xung khắc thì thôi.
Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ đối hay không, có
hợp tuổi hay không, gia đình nào thận trọng mới tìm hiểu kỹ "Công,
dung, ngôn, hạnh" (thường là các gia đình gia giáo). Chẳng những các
chàng trai, trước khi cưới chưa biết mặt vợ, mà có những ông bố chồng
là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu, do đó trong
gia đình sau này mới xảy ra nhiều chuyện oái oăm:
-"Cảm ơn ông bà thương đến, tôi xin đồng ý gả, nhưng xin thưa chuyện
trước: con tôi mồm mép chẳng bằng ai!"
Tưởng như vậy là mình tìm được con dâu hiền hậu, không đanh đá
chua ngoa, ai ngờ cưới về mới biết con dâu sứt môi!. Nhưng đã nhỡ
việc, biết tính sao?
Lại có trường hợp đánh tráo: Khi đi hỏi thì cho thằng em nhanh nhẹn
và "sạch mặt" hơn đóng vai chàng rể, đến khi cưới thì lại cưới cho
thằng anh đần độn, xấu xí. "Miếng trầu để dâu nhà người", biết tính sao
đây? Dầu sao cũng mang tiếng một đời chồng.
4. Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống có đúng
không? có cần thiết không?
Đối với các cụ thì câu hỏi này thừa, vì "Nòi nào giống ấy","Cây nào
quả ấy","Giỏ nhà ai quai nhà ấy","Con nhà công chẳng giống lông
cũng giống cánh", "Tìm nơi có đức gửi thân", ai chẳng muốn có trai
hiền gái đảm, rể thảo dâu hiền. Thời nay, một số bạn trẻ coi thường cho
là phong kiến lạc hậu. Có những đôi trai gái mới chỉ gặp nhau trên một
đoạn đường, đã vội đính ước, tính chuyện vuông tròn, thậm chí họ đã
biết rõ cả "Ngọn nguồn lạch sông"!!!Đành rằng cũng có trường hợp
"Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên duyên", song thành công là cá
biệt, thất bại là phổ biến.
"Tìm tông, tìm họ" không có nghĩa là tìm chốn sang giàu, khinh người
nghèo khó, mà chủ yếu là tìm nơi có gia giáo, có đức độ.
"Cha mẹ hiền lành để đức cho con","Đời cha ăn mặn, đời con khát
nước". Con người sinh ra lớn lên do nhiều yếu tố xã hội chi phối,
nhưng nam nữ thanh niên mới lớn lên, trường đời chưa từng trải, giáo
dục gia đình là yếu tố quan trọng và chủ đạo. Hôn nhân là việc hệ
trọng, tác động cả đời, mà con người rất dễ mù quáng trong tình yêu.
Qua tuần trăng mật không phải mọi việc trong quan hệ vợ chồng đều
suôn sẻ. khi có những việc khó khăn, trục trặc trong cuộc sống, ai cũng
muốn tìm điều hay lẽ phải để giải quyết cho thoả đáng. Lúc đó cần dựa
vào "Tông", vào họ hàng, tìm những tình cảm chân thành và tri thức
đúng đắn.
"Môn đăng hộ đối", tức là tìm nơi hai gia đình, hai bên thân thuộc, có
những mặt cân đối phù hợp với nhau, chứ đâu phải bắc bậc leo thang,
kẻ khinh người trọng.
Ngoài ra còn một yếu tố nữa: Tính đến gien di truyền.
Ngày xưa trong một vài hoàn cảnh đặc biệt có ông chồng thoả thuận
ngầm với vợ đi "Xin nòi". Xin lưu ý: những người đàn bà đó không
thuộc loại lẳng lơ đâu - ta cũng chỉ cần biết nói nhỏ với nhau thôi và
nhấn mạnh "Hoàn cảnh đặc biệt"!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét