Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Một số giải pháp để vận hành hiệu quả cơ cấu sở hữu ở nước ta

Sở hữu về mặt pháp lý đợc xem là quan hệ giữa ngời với ngời về đối tợng
sở hữu. Thông thờng về mặt pháp lý, sở hữu đợc ghi trong hiến pháp, luật của
nhà nớc, nó khẳng định ai là chủ thể của đối tợng sở hữu.
Sở hữu về mặt kinh tế biểu hiện thông qua thu nhập, thu nhập ngày càng
cao, sở hữu về mặt kinh tế ngày càng đợc thực hiện. Sở hữu luôn hớng tới lợi ích
kinh tế, chính nó là động lực cho hoạt động kinh tế.
Sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu về hình thức, phạm vi mức độ
không phải là sản phẩm của chủ quan mà là do yêu cầu của quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chấtl trình độ của lực lợng sản xuất. Haylà sự vận
động của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên. Sự biến động của quan hệ
sở hữu xét cả về mặt chủ thể và đối tợng sở hữu.
Đối tợng sở hữu: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ là cái sẵn có trong tự
nhiên (hiện vật). Đến xã hội nô lệ, cùng với sở hữu vật là sở hữu ngời nô lệ. Xã
hội phong kiến đối tợng sở hữu là t liệu sản xuất (đất đai, công cụ lao động )
trong xã hội t bản đối tợng sở hữu không chỉ về mặt hiện vật mà quan trọng
hơn về mặt giá trị, mặt tiền tệ.Ngày nay, cùng với sở hữu về mặt hiện vật và giá
trị của t liệu sản xuất, ngời ta chú trọng nhiều đến sở hữu công nghiệp, sở hữu
trí tuệ, giáo dục
c. Quan hệ sở hữu là gì?
Mối quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình chiếm hữu và sản xuất ra
của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu phản ánh sự
chiếm giữ t liệu sản xuất và các sản phẩm tiêu dùng, nó biểu hiện qua mối quan
hệ vật - vật. Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại và phát
triển trong quá trình chiếm hữu, mà khi xem xét dới góc độ pháp lý nó
bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ thể, khách thể và nội dung.
d. Các hình thức sở hữu: Hình thức đầu tiên, là công hữu, sau đó do sự
phát triển của lực lợng sản xuất, có sản phẩm d thừa, có kẻ chiếm làm của riêng
xuất hiện t hữu. Đó là hai hình thức sở hữu cơ bản thể hiện ở nớc đó, quy mô và
phạm vi sở hữu khác nhau, phụ thuộc vào trình độ lực lợng sản xuất và lợi ích
của chủ sở hữu chi phối. Chẳng hạn, công hữu thể hiện thông qua sở hữu nhà n-
ớc, sở hữu toàn dân. Ngoài ra còn có hình thức sở hữu hỗn hợp. Nó xuất hiện tất
yếu do yêu cầu phát triển lực lợng sản xuất và quy trình xã hội hoá nói chung
5
đòi hỏi. Sở hữu hỗn hợp hình thành thông qua hợp tác liên doanh liên kết tự
nguyện phát hành mua bán cổ phiếu v.v
Tựu trung lại, khái quát lại thì có hai hình thức cơ bản: Công hữu và t hữu.
Còn lại là kết quả của sự kết hợp giữa chúng với nhau.
e. Quyền sở hữu là gì?
Vì cơ sở kinh tế đảm bảo cho sự thống trị về chính trị - t tởng là các quan
hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị dùng từ một bộ phận
của công cụ pháp luật quy định về chế độ sở hữu để thể chế hoá ý chí của giai
cấp hình thành hệ thống các quy phạm pháp luật các quy phạm pháp luật này
quy định, củng cố và duy trì dự tính và địa vị thống trị giai cấp. Vì vậy quyền sở
hữu là một phạm trù pháp lý. Nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ quyền của chủ
sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tợng tài sản thuộc quyền
sở hữu của mình. Với t cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời
khi xã hội có phân chia giai cấp và có Nhà nớc. Còn theo nghĩa hẹp, quyền sở
hữu đợc hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể đợc thực hiện
các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định
(quyền năng dân sự). Ngoài ra theo một phơng diện khác quyền sở hữu là một
quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu (có ba yếu tố: Chủ thể, khách thể, nội dung).
g. Chế độ sở hữu là gì?
Phạm trù sở hữu khi đợc thể chế hoá thành quyền sở hữu (nh trình bày ở
trên), đợc thực hiện thông qua cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu. Chế độ sở
hữu đợc Nhà nớc xác lập và đợc ghi nhận trong hiến pháp. Nó chứa đựng hệ
thống các quy phạm pháp luật về sở hữu và cơ chế, kiều kiện, thủ tục pháp lý để
áp dụng, thực hiện các quy phạm đó.
2. Hai chế độ sở hữu cơ bản trong lịch sử.
a. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ sở hữu t nhân:
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ ở gian đoạn cuối do sự phát triển của
lực lợng sản xuất sau ba cuộc phân công lao động xã hội (lần 1, ngành trăn nuôi
tách khỏi trồng trọt; lần 2, thủ công nghiệp tách khỏi công nghiệp; lần 3,với sự
xuất hiện của tầng lớn thơng nhân). Do năng xuất lao động đã lao hơn trớc, con
ngời có kinh nghiệm hơn v.v
6
Trong xã hội có sản phẩm d thừa và xuất hiện những ngời chiếm đoạt của
cải d thừa đó và trở thành giàu có, (t hữu riêng) lại có những ngời do yếu kém
mà nghèo đói Tất cả đẩy nhanh quá trình phân hoá tầng lớp xã hội và giai cấp
xuất hiện. Có giai cấp thì tất yếu có đấu tranh giai cấp. Để cuộc đấu tranh giai
cấp nằm trong vòng trật tự nhất định không phá vỡ xã hội thì có một tổ chức đặc
biệt ra đời, tựa hồ nh đứng trên xã hội và quản lý xã hội. Đó là Nhà nứơc.
Sơ đồ vắn tắt: Sở hữu t nhân và các hình thái chủ yếu của nó.
I. Hình thái sở hữu t nhân đơn giản.
Qua sơ đồ trên cho ta thấy sở hữu t nhân trong các phơng thức sản xuất
khác nhau của lịch sử phát triển của loài ngời với tính chất và mức độ thể hiện
khác nhau:
7
Ngời sở hữu A
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Hàng hoá A
Ngời sở hữu B
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Hàng hoá B
Ngời sở hữu A
(Nhà t bản)
T liệu SX và TD
Ngời sở hữu B
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Sức lao động
Ngời sở hữu A
(Nhà nớc - ngời SX hàng hoá)
Hàng hoá A
Ngời sở hữu A
(Nhà nớc - nhà t bản)
T liệu SX và t liệu SH
Sở hữu thực tế
Ngời sở hữu B
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Hàng hoá B
Ngời sở hữu B
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Hàng hoá B
IV. hình thái nhà nớc của sở hữu t nhân TBCN
Sở hữu thực tế
III. hình thái nhà nớc của sở hữu t nhân đơn giản
Sở hữu thực tế
Sở hữu thực tế
II.Hình thái sở hữu t nhân TBCN
Sở hữu thực tế
Sở hữu thực tế
Ngời sở hữu B
(Ngời sản xuất hàng hoá)
Hàng hoá B
Ngời sở hữu B
(Ngời lao động làm thuê)
Sức lao động
Ngời sở hữu B
(Ngời lao động làm thuê)
Sức lao động
Sở hữu thực tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
* Trong chế độ chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của nhà nứơc chủ nô duy trì và
bảo vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tất cả các t liệu sản xuất của xã hội
ngay cả sở hữu bản thân ngời nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói không đợc xem là
ngời). ở đây, trình độ t hữu của còn thấp nhng tính chất khắc nghiệt và bất
bình đẳng là tuyệt đối.
* Trong xã hội phong kiến: Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện rõ ở chế
độ"phong tớc, cấp điền" của các vua chúa phong kiến. Nhà nớc và pháp luật
phong kiến bảo vệ, duy trì chế độ sở hữu của địa chủ lãnh chúa phong kiến đối
với ruộng đất và duy trì tình trạng nửa phong kiến của nông dân và giai cấp
phong kiến.
* Trong chế độ t bản chủ nghĩa: Trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong
kiến đã xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu t sản. Đó là chế độ chiếm hữu t
nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng d (do công nhân
làm thuê sáng tạo ra bị giai cấp t sản chiếm không)
ở đây là giai đoạn của trình độ t hữu gắn với đặc trng của xã hội t bản. Chế
độ t hữu đợc qui định là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Giai cấp t sản với ph-
ơng pháp, thủ đoạn bóc lột mới với trình độ cao t hữu trong xã hội t bản chủ
nghĩa nằm chủ yếu tập trung trong tay giai cấp t sản, các tập đoàn t bản, các nhà
t bản nắm trong tay t liệu sản xuất.
* Trong thời kỳ quá độ lên CNXH: Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lê nin thì có 2 phơng thức quá độ lên CNXH. Đối với những nớc nh
nứơc ta quá độ lên CNXH từ một nớc nghèo, lạc hậu cha qua giai đoạn phát
triển TBCN, thì nhất thiết cần có một thời kỳ lịch sử với sự tồn tại của đa thành
phần kinh tế với đa hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu t nhân để sử dụng sức
mạnh và u thế của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá, tất cả
nhằm tạo ra tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho CNXH. Mặc
dù vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay nhằm
phát triển lực lợng sản xuất thì sở hữu nhà nớc, kinh tế nhà nớc vẫn giữ vai trò
chủ đạo để định hớng cho sở hữu t nhân nói riêng và nền kinh tế nớc ta nói
chung đi theo đúng quĩ đạo.
Chính C.Mác và F. Ănghen trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng
sản, ông đã nhấn mạnh "chủ nghĩa cộng sản không xoá bỏ của ai quyền chiếm
8
hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao động
của ngời khác".
b. Chế độ sở hữu xã hội về t liệu sản xuất.
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: "Không thể xoá bỏ ngay t hữu và thiết lâp
ngay chế độ công hữu về t liệu sản xuất"
Sự bình đẳng về mặt xã hội của con ngời trong mối quan hệ qua lại của họ
đối với t liệu sản xuất tức là sự chiếm hữu mà tiêu chí duy nhất của nó là lao
động sống. Sự khẳng định mình nh là một chế độ sở hữu. Sự bất bình đẳng xã
hội cho phép một số ngời này (ngời chủ sở hữu) chiếm đoạt lao động của những
ngời khác (những ngời không phải là chủ sở hữu) đợc coi là chế độ sở hữu. Tùy
thuộc vào khả năng chiếm đoạt lao động của mình hay của ngời khác mà phân
ra 2 kiểu chế độ sở hữu: chế độ t hữu mang tính bóc lột dựa trên lao động của
ngời khác và chế độ t hữu lao động dựa trên lao động của chính bản thân mình.
Kiểu chế độ t hữu thứ hai, chẳng hạn nh các điền chủ hiện nay không sử dụng
hoặc hầu nh không sử dụng lao động làm thuê, ngày nay có thể liên kết vào các
hệ thống kinh tế cả TBCN và XHCN. Trên phơng diện chủ thể, chế độ t hữu
phân chia thành t hữu cá nhân và t hữu tập thể bao gồm cả sở hữu tập thể cổ
phần - sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể lao động.
Chế độ t hữu đợc đem so sánh với chế độ công hữu. Thực chất của sự so
sánh là ở chỗ: Sở hữu nhà nớc không phải mọi lúc mọi nơi đều có nghĩa là sở
hữu công cộng. Vấn đề không chỉ ở chỗ chế độ công hữu có thể có hình thức.
Sở hữu nhà nứơc và sở hữu tập thể, mà còn ở trong bản chất của chính các quan
hệ xã hội. Quốc hữu hoá đợc coi là phơng thức, biện pháp cải tạo chế độ t hữu
thành sở hữu nhà nớc, là việc làm mang tính chất chính trị pháp lý. Việc làm
này có ý nghĩa xã hội hoá sản xuất một cách hình thức, nghĩa là chỉ làm thay
đổi các quan hệ sản xuất về mặt pháp lý sao cho phù hợp ý chí của Nhà nớc làm
luật. Vì vậy ngày nay quan hệ sở hữu XHCN và quan hệ sở hữu TBCN đều có
sở hữu nhà nớc. Sở hữu nhà nớc trở thành chế độ công hữu XHCN chỉ khi thực
hiện đợc xã hội hoá sản xuất thực sự. Sẽ diễn ra một sự cải tiến tận gốc các quan
hệ sở hữu mà bản chất XHCN của chế độ sở hữu, đợc thẻ hiện thông qua lợi ích
của những ngời lao động (công dân, nông dân tri thức). Có thể nói rằng các mối
quan hệ xã hội đợc hình thành trên cơ sở xoá bỏ lao động làm thuê là biểu hiện
trực tiếp không chỉ riêng của chế độ sở hữu XHCN.
9
Qua phân tích trên ta có thể nhận xét nh sau:
*Thứ nhất, cần phân biệt chế độ có tính chất bóc lột với chế độ sở hữu lao
động không mang tính bóc lột.
* Thứ hai, không phải chế độ công hữu tự nó, mà chính chế độ sở hữu cá
nhân nảy sinh trên cơ sở những thành tựu của thời đại TBCN với sự tất yếu dẫn
đến sự xoá bỏ chế độ t hữu và khẳng định chế độ công hữu mới là sự phủ định
trực tiếp chế độ t hữu TBCN.
* Thứ ba, chế độ sở hữu cá nhân có thể xem là chế độ t hữu manh mún,
hay sở hữu cá nhân mang tính chất tiêu dùng và cũng có thể là chế độ sở hữu
mang tính chất sản xuất phát sinh từ chế độ công hữu.
* Thứ t, chế độ công hữu không thể phát triển nếu không có chế độ sở hữu
cá nhân. Cũng nh là việc quay trở lại sở hữu cá nhân trên cơ sở bổ xung lẫn
nhau của sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân lao động đó, trớc hết là trong hoạt
động trí tuệ, tạo ra tiền đề cho sự hình thành cái mà theo C.Mác là"nhân cách tự
do" "Sự phát triển toàn diện của con ngời".
Cũng cần phải phân biệt chế độ công hữu XHCN (biểu hiện tập trung của
chế độ sở hữu xã hội), với chế độ sở hữu công, công của tất cả các thành viên xã
hội trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đối với mọi của cải xã hội (không có sự
phân biệt thành phần, không ai có đặc quyền đặc lợi, mọi ngời đều bình đẳng,
hành vi của mọi ngời do các quy phạm xã hội điều chỉnh ).
3. Sự hình thành phát triển và biến đổi của sở hữu là một quá trình
lịch sử tự nhiên gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất.
a. Hai mặt của nền sản xuất xã hội (Phơng thức sản xuất xã hội).
Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội.
+ Lực lợng sản xuất: Phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời,
nó biểu hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình tạo ra của cải vật
chất. Lực lợng sản xuất xã hôi bao gồm: T liệu sản xuất và ngời lao động với
những kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo, và thói quen lao động của họ.
Trong sự phát triển của lực lợng sản xuất do công cụ lao động và trình độ khoa
học - kỹ thuật (ngày nay trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp là động lực phát
triển nhanh, mạnh) phát triển, trong đó kỹ năng, lao động của con ngời là quyết
10
định. Con ngời là nhân tố trung tâm là mục đích của nền sản xuất xã hội. Trong
điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ rất phát
triển, vị trí trung tâm củ con ngời càng đợc nhấn mạnh. Do vậy, việc nâng cao
dân trí là nhu cầu bức bách. Nó vừa là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội, vừa là
điều kiện để thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
- Quan hệ sản xuất: Là quan hệ kinh tế giữa ngời với ngời trong quá trình
sản xuất và tái sản xuất xã hội: Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã
hội và quan hệ kinh tế - tổ chức. Trong đó quan hệ kinh tế - xã hội biểu hiện ở 3
mặt (3 yếu tố cấu thành).
Quan hệ sở hữu t liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý và quan hệ phân
phối sản phẩm. Trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định chi phối, theo
C.Mác:"Sở hữu với t cách là hình thái hiện thực của quan hệ sản xuất".
Giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất có mối quan hệ biện chứng,
trong đó lực lợng sản xuất là nội dung vật chất của sản xuất, còn quan hệ sản
xuất (quan hệ sở hữu trong đó) là hình thức xã hội - pháp lý của sản xuất. Lực l-
ợng sản xuất không ngừng vận động, biến đổi và phát triển qua các giai đoạn
lịch sử, qua các hình thái kinh tế - xã hội với tính chất và trình độ xã hội hoá
ngày càng cao Đòi hỏi tất yếu là quan hệ sở hữu xác lập tơng ứng với nó phải
phù hợp để mở đờng thúc đẩy cho lực lợng sản xuất phát triển đi lên (trái lại là
kìm hãm lực lợng sản xuất, ngay cả trờng hợp quan hệ sở hữu đi quá xa so với
trình độ của lực lợng sản xuất). ở nớc ta, trớc khi tiến hành đổi mới toàn diện
đã có thời kỳ quá nhấn mạnh quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu về t liệu
sản xuất, mà không xuất phát từ thực trạng của lực lợng sản xuất, dẫn đến nôn
nóng, chủ quan duy ý chí muốn xoá bỏ ngay các hình thức sở hữu phi XHCN,
xây dựng và thúc đẩy cao sở hữu XHCN (sở hữu toàn diện, và sở hữu tập thể)
bằng việc tập trung cao độ, hợp tác cao độ, thậm chí cả bằng quốc hữu hoá cỡng
bức trong điều kiện lực lợng sản xuất thấp kém nó đã làm kìm hãm lực lợng sản
xuất phát triển, làm cho năng suất lao động thấp, kinh tế không tăng trởng, và
khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Nhng sau đó Đảng ta đã nhận thức lại nhìn thẳng vào sự thật nhận khuyết
điểm và đi đúng qui luật bằng việc đề ra đờng lối đổi mới toàn diện từ 1986
(Đại hội VI của Đảng). Thực tế những thành tựu thu đợc của hơn 10 năm đổi
11
mới vừa qua đã minh chứng tính đúng đắn của việc vận dụng qui luật quan hệ
sản xuất - lực lợng sản xuất trên đất nớc ta.
b. Sự tách rời giữa quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng t liệu sản
xuất trong xã hội phong kiến và xã hội TBCN.
Chính quá trình phát triển của nền kinh tế quốc tế mà trực tiếp nhất, sâu xa
nhất là sự phát triển của lực lợng sản xuất với các cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật là động lực thúc đẩy nhanh mạnh nhất, nó cho biết rằng các quyền gắn
liền với phạm trù sở hữu đã có sự biến đổi đáng kể. Thờng ở thời kỳ đầu (Nh
trong thời kỳ CNTB cạnh tranh tự do) thì 3 quyền trong quyền sở hữu (quyền sở
hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng)thống nhất trong một chủ thể. Sự xuất
hiện của t bản cho vay đã làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng tách rời
nhau. Khi lực lợng sản xuất đợc xã hội hoá (trong điều kiện của kinh tế thị tr-
ờng) thì 3 quyền trên tách rời giữa các chủ thể (khi đó lao động quản lý trở
thành một nghề. Ví dụ trong công ty cổ phần, quyền sở hữu nằm trong tay các
cổ đông, quyền điều hành chung thuộc Hội đồng quản trị, còn quyền quản lý
trực tiếp thuộc về giám đốc(hoặc tổng giám đốc). Trong đó quyền sở hữu vẫn
giữ vai trò quyết định chi phối quyền quản lý, sử dụng, phân phối.
Mỗi phơng thức sản xuất bao giờ cũng có một loại hình sở hữu đặc trng,
giữ vai trò chủ đạo, đồng thời còn tồn tại các loại hình sở hữu khác.
*Dới chế độ phong kiến nông nghiệp giữ vai trò quyết định, t liệu sản xuất
chủ yếu là ruộng đất lại bị kìm hãm của "Đặc quyền, đặc lợi" và "chế độ đẳng
cấp phong kiến" hết sức hà khắc. Trong thời kỳ đầu của chế độ phong kiến,
nông cụ rất thô sơ, về sau công cụ bằng sắt phổ biến dần, súc vật đợc tận dụng
làm sức kéo Trong các trang trại sau này hình thức hiệp tác lao động giản đơn
đợc áp dụng. Do yêu cầu cải tiến công cụ sản xuất nông nghiệp mà thủ công
phát triển cùng với nông dân dẫn đến trao đổi phát triển Nói chung sản xuất
phong kiến chủ yếu dựa vào lao động thủ công của nông dân và thợ thủ công.
Những đặc điểm trên đã quyết định tính chất của quan hệ sản xuất phong
kiến mà trực tiếp nhất ở đây là quan hệ sở hữu phong kiến; Đó là việc: Bọn địa
chủ bóc lột nông dân, tá điền trên cơ sở chiếm hữu ruộng đất và duy trì họ
trong tình trạng lệ thuộc vào chúng. Địa chủ, chúa đất nằm tập trung phần lớn
t liệu sản xuất (Ruộng đất) còn nông dân là ngời sản xuất trực tiếp không có
12
hoặc có rất ít ruộng đất (và là giai cấp bị bóc lột nặng nề). Nh vậy có thể nói
rằng, sở hữu phong kiến về ruộng đất là cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến.
Nó quyết định địa vị của con ngời trong quá trình sản xuất, quyết định cơ cấu
xã hội - giai cấp và chế độ phân phối (bất bình đẳng).
Trong xã hội phong kiến, bên cạnh sở hữu của địa chủ phong kiến, còn có
sở hữu cá thể của ngời lao động(nông dân, thợ thủ công) về công cụ lao động,
nhà cửa để ở và một số vật dụng khác (họ không có quyền sở hữu t liệu sản xuất
mà chỉ "sử dụng" ruộng đất của địa chủ để làm thuê lấy công duy trì cuộc sống
cá nhân và gia đình họ); và còn có sở hữu của tiểu nông độc lập và thợ thủ công
tự do. Bản thân các chủ sở hữu nhỏ này cũng bị nhà nớc phong kiến và địa chủ
phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề (tuy cuộc sống có dễ chịu hơn so với nông
nô).
Một nét đặc trng khác nữa là giai cấp phong kiến cỡng bức siêu kinh tế
nhằm cột chặt nông dân vào ruộng đất và bóc lột phần lớn lao động của nông
dân (toàn bộ cả lao động sản phẩm thặng d).
* CNTB với phơng thức thủ đoạn bóc lột gia trị thặng d tinh vi hơn, xảo
quyệt hơn các giai cấp bóc lột trớc đó (chủ nô và phong kiến, địa chủ). Giai cấp
t sản trong thời kỳ đầu áp dụng phơng pháp bóc lột giá trị thặng d tuyệt đối (kéo
dài thời gian lao động), sau này do vấp phải sự đấu tranh quyết liệt của giai cấp
công nhân chúng chủ yếu áp dụng phơng pháp bóc lột giá trị thặng d tơng đối
(tăng cờng độ lao động). Theo chủ nghĩa Mác - Lênin xã hội TBCN là xã
hội bóc lột cuối cùng trong lịch sử, mặc dù C.Mác đã đánh giá rất cao chủ
nghĩa t bản. "Giai cấp t sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch
sử. Trong quá trình thống trị giai cấp cha đầy 1 thế kỷ đã tạo ra những lực lợng
sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lợng sản xuất của tất cả các thế hệ trớc gộp
lại"; Bởi vì trong XHTB: Giai cấp t sản (từng nhà t bản hoặc nhóm, tập đoàn t
bản ở giai đoạn độc quyền và độc quyền nhà nớc sau này) chiếm giữ các t liệu
sản xuất chủ yếu và là giai cấp bóc lột giai cấp công nhân, là ngời không có t
liệu sản xuất gì ngoài "sở hữu" sức lao động và để kiếm sống họ buộc phải bán
"cái mình có" đó cho t nhà t bản. Công nhân chỉ là ngời làm thuê, quản lý nhỏ
cho "Khối tài sản khổng lồ" của nhà t bản, chứ họ không đợc sở hữu gì ngoài
vật phẩm tiêu dùng, sinh hoạt và tiền công.
13
Trong XHTB ngoài sở hữu của giai cấp t sản, còn có sở hữu nhà nớc t sản,
sở hữu của ngời sản xuất nhỏ - cá thể, sở hữu của tiểu chủ Song đều do sở hữu
TBCN chi phối, quyết định.
* Dới góc độ pháp lý: Quyền sở hữu là quyền pháp luật dân sự gồm có 3
yếu tố cấu thành: chủ thể, khách thể và nội dung.
Chủ thể của quyền sở hữu là những ngời tham gia quan hệ pháp luật dân sự
về sở hữu về sở hữu. Chủ thể này đa dạng tơng ứng với các hình thức sở hữu,
bao gồm: Nhà nớc là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân;
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các tập thể, các công dân, các tổ
chức xã hội, tổ chức xãc hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế t nhân Tóm lại
đó là chủ thể(cá nhân hoặc pháp nhân) mà điều 173 bộ luật dân sự quy
định:"Có đủ 3 quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định
đoạt tài sản".
Khách thể của quyền sở hữu có thể là đối tợng của thế giới vật chất hoặc là
kết quả những hoạt động sáng tạo tinh thần (trí tuệ). Hay có thể hiểu: Khách thể
là cái mà các bên tham gia quan hệ pháp luật hớng tới với các hành vi của mình.
VD: tài sản (động sản, hay bất động sản), quyền tác giả
Nội dung của quyền sở hữu: Là các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự
mà pháp luật qui định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Đó là ba
quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong đó: Quyền chiếm hữu là
tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu. Đó cũng là quyền kiểm soát,
làm chủ, chi phối vật theo ý mình; Quyền sử dụng là việc khai thác công dụng
của đối tợng sở hữu; quyền định đoạt là sự quyết định "Số phần pháp lý" của vật
nh bán, tặng, cho
Việc phân biệt ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong quyền sở
hữu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Đặc biệt trong qúa trình giải
quyết các tranh chấp trong tố tụng dân sự.
II. Cơ cấu sở hữu trong qúa trình hình thành và phát triển
kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
1. Cơ cấu sở hữu của Việt Nam trớc khi tiến hành đổi mới (trớc 1986)
a. Giai đoạn 1945 - 1959
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét