- Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, tăng cường khả
năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế nhờ mở rộng được thị trường
tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được những hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước
nhận đầu tư , giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với các hàng hoá
nhập từ các nước khác. Tuy nhiên nếu nhà đầu tư, đầu tư vào nơi có môi trường
bất ổn về kinh tế và chính trị thì rất dễ bị mất vốn .
b - Đối với nước tiếp nhận đầu tư
- Bổ sung cho nguồn vố trong nước: FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho
phát triển kinh tế xã hội do tích luỹ nội bộ thấp cản trở đầu tư và đổi mới kĩ
thuật trong điều kiện khoa học kĩ thuật thế giới phát triển mạnh.Các nước NICs
trong gần 30 năm qua nhờ nhận được trên 50 tỉ USD đầu tư nước ngoài cùng với
chính sách kinh tế năng động, hiệu quả đã trở thành những con rồng Châu á.
- Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý : thông qua FDI các công ty ở
nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác cho nước
tiếp nhận đầu tư do đó các nước tiếp nhận đầu tư có thể nhận được những công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại (thực tế cho thấy có những công nghệ không thể
mua được bằng quan hệ thương mại đơn thuần ), những kinh nghiệm quản lý,
năng lực marketing, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt (kỷ
luật lao động, trình độ kỹ thuật , phương pháp làm việc …)
- Tăng nguồn thu ngân sách : FDI góp phần tăng thu cho ngân sách nhà
nước qua việc đánh thuế vào công ty nước ngoài; thông qua hợp tác với nước
ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới. Như
vậy các nước có khả năng tốt hơn trong việc huy động tài chính cho các dự án
phát triển.
- Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc đẩy
tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khai thác có
hiệu quả các tiềm năng của đất nước .
- Tăng số lượng việc làm và đào tạo công nhân : các công ty, xí nghiệp FDI
sẽ thuê mướn lao động địa phương, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp.Từ đó tạo ra
một đội ngũ lao động có trình độ tay nghề .
Mặc dù FDI mang lại nhiều lợi ích cho nước nhận đầu tư song nếu nước sở
tại không quy hoạch cho đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dẫn đến đầu tư tràn
lan , kém hiệu quả , tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và dẫn đến ô
nhiễm môi trường .
4 ) Khái quát về FDI tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên nhu cầu về vốn rất lớn . Chính phủ
và Nhà nước đã và đang tìm rất nhiều biện pháp để thu hút đầu tư đặc biệt là đầu
tư trực tiếp nước ngoài .Tính đến hết tháng 9/ 2007 FDI của nước ta đạt 9,6 tỉ
USD tăng 38% so với cung kỳ năm 2006
Quá trình thu hút FDI vào Việt Nam từ 1988 đến nay trải qua 4 giai đoạn :
- Giai đoạn 1988 -1990: Là giai đoạn khởi đầu, FDI chưa có tác động mạnh
mẽ đến tình hình kinh tế xã hội .Vào giai đoạn này, ngoài việc có 1 bộ luật đầu
tư nước ngoài khá hấp dẫn, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thu hút FDI. Mặt khác các nhà đầu tư
nước ngoài coi Việt Nam như một vùng đất mới hứa hẹn hấp dẫn nhưng lại rất
thận trọng trong việc quyết định tiến hành đầu tư ; vì vậy trong suốt giai đoạn
này chỉ có 214 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký là 1,58 tỉ USD, vốn
thực hiện không đáng kể vì các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép còn
phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới có thể đưa các dự án vào hoạt động .
- Giai đoạn 1991- 1997 : Là giai đoạn FDI tăng trưởng mạnh, góp phần
quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước; chỉ tính
riêng thời kỳ 1991-1995 đã thu hút được 16,2 tỉ USD vốn đăng ký .Đây là mức
tăng trưởng hết sức ngoạn mục; vốn thực hiện trong cả 5 năm của FDI là 6,086 tỉ
USD; chỉ 2 năm 1996 và 1997 vốn thực hiện đã đạt 5,382 tỉ USD.Có thể khẳng
định đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi nổi, hàng nghìn đoàn khách tìm kiếm
cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án chờ thẩm định , hàng chục nhà máy được khởi
công cùng nột lúc.Trên thực tế cuối thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiện những trở
lực trước hết là quan điểm nhận thức đối với FDI và thủ tục hành chính trở nên
phiền hà .
- Giai đoạn 1997-2000 : Là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký bắt đầu
giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong các năm 1999, 2000. Vốn thực hiện cao
nhất vào năm 1997 đạt 3,215 tỉ USD, năm 1998 đạt 2,369 tỉ USD , đến năm
2000 đạt 2,413 tỉ USD .
- Giai đoạn 2001 đến nay : Là thời kỳ phục hồi của hoạt động FDI. Vốn
đăng ký 2001 là 2,592 tỉ USD = 128% năm 2000. Hai năm tiếp theo có sự giảm
sút: năm 2002 đạt 1,621 tỉ USD; năm 2004 đạt 1,914 tỉ USD; đến năm 2005
lượng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, đạt khoảng 3.5 tỉ USD; vốn thực hiện 5
năm của thời kỳ này khoảng 2,5 tỉ USD.
Trong những năm gần đây, hoạt động FDI đã có những nét mới đáng ghi
nhận; nhiều dự án triển khai có hiệu quả do đó đã mở rộng quy mô sản xuất; đến
cuối năm 2006 cả nước đã thu hút 10,2 tỉ USD vốn FDI trong đó có 1 số dự án
có số vốn tương đối lớn như: công ty Posco ( 1,126 6 tỉ USD ), công ty TNHH
Intel products VN ( 1 tỉ USD ), công ty TNHH Tycoons Worldwide steel VN
( 556 triệu USD).
Năm 2007 Việt Nam đã thu hút 9,6 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
số dự án quy mô lớn được cấp giấy phép đã tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm
trước.Riêng 15 dự án có quy mô vốn đầu tư lớn đã chiếm 45,7% tổng vốn đăng
kí cả nước trong 9 tháng đầu năm 2007.
Theo báo cáo của diễn đàn Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển
(UNCTAD) ngày 17/10/2007 Việt Nam lọt vào tốp 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất
về đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia giai đoạn 2007-2009.
Trên đây là những nét khái quát chung về nguồn vốn FDI tại Việt Nam
trong giai đoạn 1988 đến nay.Việc nghiên cứu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Nhật Bản vào Việt Nam sẽ mang đến một cái nhìn cụ thể về tình hình
thu hút FDI ở nước ta hiện nay.
II – Thực trạng quá trình thu hút FDI của Nhật Bản ở
Việt Nam
1- Một số nét chính trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản
Sự thay đổi nhanh chóng bối cảnh quốc tế với xu thế hoà bình, hợp
tác trong những năm gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ kinh tế thế
giới, khu vực nói chung và các quan hệ kinh tế song phương nói riêng trong đó
có quan hệ Việt Nam - Nhật Bản . Trước đây, quan hệ 2 nước đã có thời kỳ bị
gián đoạn; do các yếu tố quốc tế nên Việt Nam và Nhật Bản ít có điều kiện giao
lưu và mở rộng quan hệ kể cả quan hệ kinh tế.Trong điều kiện mới khi yếu tố
kiềm chế quốc tế giảm đi thì đây là cơ hội để 2 nước có điều kiện tăng cường
quan hệ với nhau nhất là quan hệ kinh tế. Giai đoạn này, Nhật Bản có sự điều
chỉnh rõ rệt trong chính sách đối ngoại của mình trong đó có quan hệ với Đông
Nam á và Việt Nam. Sự điều chỉnh này của Nhật Bản xuất phát từ nhu cầu mở
rộng thị trường và tăng cường vai trò của mình trong khu vực và thế giới .Mặt
khác đây cũng là thời kỳ Việt Nam bước đầu thực hiện có hiệu quả chính sách
đổi mới về kinh tế và chủ trương hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại trong đó mở rộng quan hệ với Nhật Bản là một hướng ưu tiên quan
trọng. Giai đoạn 1990 trở lại đây là giai đoạn mà quan hệ Việt Nam và Nhật Bản
phát triển khá toàn diện trên tất cả các mặt đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.
Mặc dù Nhật Bản là nước khởi đầu chậm song xét về tốc độ lại là nước có
số vốn cũng như số dự án đầu tư phát triển khá nhanh.Trong các năm gần đây cả
2 phía đều tích cực xúc tiến các hoạt động nhằm tạo ra những cơ hội hợp tác đầu
tư mới :
- Ngày 14/11/2003 , hiệp định về tự do xúc tiến và bảo hộ đầu tư đã được kí
kết tại Tokyo.
- Năm 2004 hai nước kí kết hiệp định khuyến khich và bảo hộ đầu tư .
- Ngày 14/4/2004 tại Osaka diễn ra cuộc hội thảo kêu gọi đầu tư vào Việt
Nam .
- Tháng 12/2005 thủ tướng 2 nước đã kí thoả thuận xây dựng “Sáng kiến
chung Việt -Nhật “ hai giai đoạn : giai đoạn 2003-2005 và giai đoạn 2006-2007
nhằm tiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư Nhật Bản
- 10/2006 hai bên đã kí tuyên bố chung “ Hướng tới quan hệ đối tác chiến
lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu á “ và một loạt thoả thuận quan trọng trên
nhiều lĩnh vực đặc biệt là mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư .
- Đầu năm 2007 , Việt Nam và Nhật Bản đã tiến hành các phiên đàm phán
đầu tiên về hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA).
- 8/2007 : Diễn ra hội thảo “ Cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư Việt Nam
– Nhật Bản “ tại thành phố Hồ Chí Minh.
- 25/5/2007 Tại thủ đô Tokyo hơn 400 đại diện doanh nghiệp Nhật Bản đã
tham dự hội thảo đầu tư “ Hướng về Việt Nam “
- Bên cạnh đó chuyến thăm của các nhà l•nh đạo cấp cao ( tháng 10/2006
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là vị khách mời chính thức của nội các mới Nhật
Bản; tháng 11/2006 thủ tướng Abe cùng 130 doanh nghiệp Nhật Bản đã đến
thăm chính thức Việt Nam ) đã tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt –
Nhật; từ đó tạo thêm nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà kinh doanh Nhật Bản
đầu tư vào Việt Nam
2) Thực trạng thu hút FDI của Nhật Bản tại Việt Nam
2.1- Khái quát chung : Trên thực tế hơn một năm sau khi luật đầu tư nước
ngoài của Việt Nam được ban hành ngày 29/12/1987 dòng vốn FDI từ Nhật Bản
vào Việt Nam mới có khoảng gần 1 triệu USD, mở đầu là dự án đầu tư của công
ty Kansai Kyodo trong lĩnh vực chế tạo thiết bị cảng ở Hải Phòng năm 1989; tiếp
theo là dự án xuất khẩu may mặc của công ty Hikosen Kara vào tháng
3/1990.Tính chung cả năm 1990 số vốn đầu tư tăng thêm trên 10 triệu USD ;
năm 1991 Nhật Bản có 6 dự án ở Việt Nam với tổng số vốn là 8 triệu USD .FDI
tăng nhanh trong những năm 1992-1997 đây có thể coi là đợt bùng nổ làn sóng
FDI của Nhật Bản vào Việt Nam; FDI hàng năm đạt mức kỉ lục 1,13 tỉ USD vào
năm 1995. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính trong 2 năm 1997 và 1998 ở
Đông Nam á và cuộc suy thoái kéo dài tại Nhật Bản, FDI giảm mạnh từ
1998.Năm 2000 sự sụp đổ của ngành công nghệ cao ở Mĩ với hàng loạt các công
ty đa quốc gia phá sản đã tác động không nhỏ tới tình hình FDI tại VN.Năm
2002 tổng vốn đầu tư của Nhật đạt 97 triệu USD; Năm 2003 Nhật Bản đứng thứ
3 về số vốn đầu tư(4,4 tỉ USD) và đứng đầu về số vốn thực hiện(3,7 tỉ USD).Từ
năm 2004 nguồn vốn FDI bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại .Năm 2005 cả nước
thu hút 6,4 tỉ USD vốn FDI thì Nhật Bản chiếm 922 triệu USD. Năm 2006 FDI
đăng kí của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam đạt 7,4 tỉ USD tăng 30%
so với năm 2005.
Tuy số vốn FDI của Nhật chỉ đứng thứ 3 trong các nước và vùng l•nh thổ
đầu tư vào nước ta nhưng lại đứng đầu về số vốn thực hiện. 9 tháng đầu năm
2007 ,Nhật Bản ản đứng thứ 4 về tổng vốn đầu tư (trên 7,8 tỉ USD) nhưng vẫn là
quốc gia có tỉ lệ vốn thực hiện cao nhất 73%.
2.2 - Cơ cấu thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
a - Cơ cấu theo ngành:
Hai lĩnh vực mà Nhật Bản quan tâm hàng đầu là khai thác nguyên liệu và
chế tạo máy. Do vậy các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều vào sản xuất các
mặt hàng nhằm xuất khẩu về Nhật hoặc sang nước thứ 3 trong đó sử dụng nhiều
nhân công như : may mặc,tạp hoá, trang sức…Đồng thời việc sản xuất các mặt
hàng đáp ứng nhu cầu tại chỗ của thị trường Việt Nam cũng được chú trọng
như:sản xuất ô tô , xe máy, đồ điện tử, cơ sở hạ tầng, khách sạn…
Nhật bản là 1 trong các đối tác đầu tư rất chú trọng vào khu vực sản xuất vật
chất, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp.Tính đến 2000, công nghiệp nặng chiếm
1/3 số dự án và chiếm 50% tổng vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam; tiếp
sau là các dự án trong công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, bưu điện…Tỉ lệ này
ngày càng tăng thể hiện sư quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản vào lĩnh vực
công nghiệp. Kết quả thống kê cho thấy khu vực nông nghiệp là khu vực
chưa thực sự hấp dẫn đối với việc thu hút FDI của Nhật Bản. Theo Vụ hợp tác
quốc tế, những năm gần đây, tuy nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ nhưng đầu
tư FDI của Nhật Bản chỉ đạt 18% đứng thứ 2 sau Đài Loan ( 21%). Nguyên nhân
chính dẫn đến việc thu hút FDI đạt hiệu quả thấp là do hệ thống quản lí của
ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mặt khác tính rủi ro của các dự án
FDI nông nghiệp rất lớn do phụ thuộc vào thiên nhiên . Do đó trong những năm
tới cần đẩy mạnh các biện pháp thu hút FDI nhằm tạo dựng nền nông nghiệp
hàng hoá hiệu quả cao, hướng mạnh ra xuất khẩu , trên cơ sở phát huy các lợi thế
so sánh và áp dụng các công nghệ mới.
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo ngành (1988-
2005)
(tính tới ngày 31/12/2005 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn
đầu tư (USD) Vốn pháp định (USD) Vốn đã thực hiện
(USD)
I Công nghiệp 431 5.174.954.333 2.140.981.799
3.510.402.776
CN dầu khí 2 58.500.000 58.500.000 1.067.420.718
CN nhẹ 99 469.842.558 219.270.529 174.849.913
CN nặng 288 3.411.876.543 1.394.322.013 1.614.502.216
CN thực phẩm 21 209.576.796 126.931.969 112.994.674
Xây dựng 21 1.025.158.436 341.957.288 540.635.255
II Nông ,Lâm nghiệp 52 138.333.062 62.906.700 85.458.612
Nông- Lâm nghiệp 42 108.269.232 46.798.426 54.976.649
Thuỷ sản 10 30.063.830 16.108.274 30.481.963
III Dịch vụ 117 1.056.441.038 680.388.546 547.668.814
GTVT-Bưu điện 10 483.913.242 397.275.907 172.571.192
Khách sạn-Du lịch 8 113.588.361 61.664.627 83.514.783
Tài chính – Ngân hàng 4 66.000.000 64.200.000 49.200.000
Văn hoá- Y tế- Giáo dục 18 69.072.198 37.105.475 37.728.838
XD văn phòng-căn hộ 12 179.478.464 69.586.952 157.224.979
XD hạ tầng KCN-KCX 1 90.346.000 24.750.300 23.107.000
Dịch vụ khác 55 54.042.773 25.805.285 24.322.022
Tổng số 600 6.369.728.433 2.884.277.045 4.143.530.202
b – Cơ cấu đầu tư theo l•nh thổ :
Giai đoạn đầu FDI của Nhật Bản đầu tư chủ yếu ở khu vực đồng bằng, nơi
tập trung nhiều dân cư và nhu cầu tiêu dùng cao.Ví dụ: tính đến cuối năm 1994
trong tổng số khoảng 60 dự án FDI của Nhật Bản vào Việt Nam thì Thành phố
Hồ Chí Minh là địa bàn chiếm tỉ lệ cao nhất:19 dự án với tổng số vốn đầu tư gần
700 triệu USD ; số vốn còn lại rải rác ở một số tỉnh phía Bắc và vùng ven biển
như : Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai ,Hải Phòng, Quảng Ninh,…Mặt khác, Nhật
Bản cũng chỉ chú trọng đầu tư vào những đô thị lớn như: Tp Hồ Chí Minh và Hà
Nội , còn các tỉnh khu vực miền núi thì đầu tư không đáng kể.Gần đây, tỷ lệ này
có sự biến đổi theo chiều mở rộng hơn: tính đến cuối năm 1999 FDI của Nhật
Bản đã co mặt ở 25 tỉnh thành phố trong cả nước; trong đó Đồng Nai đứng đầu
với 27 dự án , chiếm 22%; thành phố Hồ Chí Minh có nhiều dự án nhất với 106
dự án nhưng chỉ đứng thứ 3 về số vốn đầu tư, chiếm 19%.Những số liệu này tính
đến năm 2005 đã có những bước tiến đáng kể.
Tính đến đầu năm 2006 , các doanh nghiệp của Nhật Bản đã có mặt ở trên
34 tỉnh, thành phố,trong đó tập trung chủ yếu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh,Đồng Nai, Bình Dương…
Qua bảng số liệu sau đây có thể thấy, cơ cấu đầu tư theo l•nh thổ của
Nhật Bản vào Việt Nam có xu hướng đi từ hai đầu đất nước tiến về Miền Trung,
từ ven biển dần vào sâu trong nội địa. Đó cũng là một tất yếu vì ở Hà Nội và Tp.
Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh ven biển có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng,
thông tin liên lạc và một số điều kiện thuận lợi khác.
Mấy năm gần đây, các địa phương đã hết sức chú trọng vai trò của FDI, đưa
mục tiêu thu hút FDI vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương
mình, kèm theo đó là các biện pháp khuyến khich, ưu đãi các nhà đầu tư. Một số
tỉnh ,thành phố có được ‘ ưu thế tuyệt đối” về tốc độ tăng trưởng, thị phần,vùng
nguyên liệu, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…Trong khi đó các tỉnh không
có được ưu thế trên thì tập trung vào vấn đề mặt bằng (đã được giải phóng sẵn ,
giá thuê ưu đãi…). thông thoáng hơn trong thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí
đầu vào của một số dịch vụ thiết yếu…như vậy giữa các tỉnh, thành phố cũng có
sự cạnh tranh nhau trong vấn đề thu hút FDI .Đặc biệt năm 2006, một số tỉnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét