HIỆP ĐNNH
SỐ 07/LPQT NGÀY 14 THÁNG 2 NĂM 2002 GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ AI-
XƠ-LEN VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN
LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
(Có hiệu lực từ ngày 27 tháng 12 năm 2002)
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà
Ai-xơ-len, mong muốn ký kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn
ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập,
Đã thoả thuận dưới đây:
Điều 1: Phạm vi áp dụng
Hiệp định này được áp dụng cho các đối tượng là những đối tượng cư trú của một
hoặc của cả hai nước ký kết.
Điều 2.: Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc các cơ quan
chính quyền cơ sở hay chính quyền địa phương của Nước đó, đánh vào thu nhập, bất
kể hình thức áp dụng của các loại thuế đó như thế nào.
2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập bao gồm
các loại thuế đối với lợi nhuận từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản,
các loại thuế đánh trên tổng số tiền lương hoặc tiền công do xí nghiệp trả, cũng như
các loại thuế đánh vào phần vốn tăng thêm đều được coi là thuế đánh vào thu nhập.
3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này là:
a) Tại Việt Nam:
(i) Thuế thu nhập cá nhân;
(ii) Thuế lợi tức; và
(iii) Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài;
(dưới đây được gọi là "thuế Việt Nam");
b) Tại Ai-xơ-len:
(i) Thuế thu nhập quốc gia;
(ii) Thuế thu nhập bổ sung;
(iii) Thu
ế thu nhập địa phương; và
(iv) Thuế đánh vào thu nhập của các tổ chức ngân hàng;
(dưới đây được gọi là "thuế Ai-xơ-len").
4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng cho các loại thuế có tính chất tương tự hay về
căn bản giống như các loại thuế được ban hành sau ngày ký Hiệp định này để bổ
sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Các nhà chức trách có thNm quyền của
hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau biết những thay đổi cơ bản trong các luật thuế
của từng nước.
Điều 3 : Các định nghĩa chung
1. Theo nội dung của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự giải thích
khác:
a) Từ "Việt Nam" có nghĩa là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi dùng
theo nghĩa địa lý, từ đó bao gồm toàn lãnh thổ quốc gia Việt Nam, kể cả lãnh hải Việt
Nam, và mọi vùng ở ngoài và đi liền với lãnh hải Việt Nam mà theo luật pháp Việt
Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt Nam có quyền chủ quyền đối với việc
thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và
khối nước ở trên;
b) Từ "Ai-xơ-len" có nghĩa là nước Cộng hoà Ai-xơ-len và, khi dùng theo nghĩa địa
lý, từ đó bao gồm nước Cộng hoà Ai-xơ-len kể cả lãnh hải Ai-xơ-len và mọi vùng ở
ngoài lãnh hải mà theo luật pháp quốc tế, Ai-xơ-len có quyền tài phán hay chủ quyền
đối với đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và khối nước ở trên, và tài nguyên thiên
nhiên ở đó;
c) Thuật ngữ "Nước ký kết" và "Nước ký kết kia" có nghĩa là Việt Nam hay Ai-xơ-len
tuỳ theo ngữ cảnh đòi hỏi;
d) Thuật ngữ "đối tượng" bao gồm cá nhân, công ty và bất cứ tổ chức nhiều đối tượng
nào khác;
e) Thuật ngữ "công ty" để chỉ các tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được
coi là tổ chức công ty dưới giác độ thuế;
f) Thuật ngữ "xí nghiệp của Nước ký kết" và "xí nghiệp của Nước ký kết kia" theo thứ
tự có nghĩa là một xí nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của một Nước ký
kết và một xí nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của Nước ký kết kia;
g) Thuật ngữ "các đối tượng mang quốc tịch" có nghĩa:
(i) Các cá nhân mang quốc tịch một Nước ký kết;
(ii) Các pháp nhân, tổ chức hùn vốn và hiệp hội có tư cách được chấp nhận theo các
luật có hiệu lực tại một Nước ký kết;
h) Thu
ật ngữ "vận tải quốc tế" có nghĩa là bất cứ sự vận chuyển nào bằng tầu thuỷ
hoặc máy bay được thực hiện bởi một xí nghiệp của một Nước ký kết, trừ trường hợp
khi chiếc tàu thuỷ hoặc máy bay đó chỉ hoạt động giữa những địa điểm trong Nước ký
kết kia; và
i) Thuật ngữ "nhà chức trách có thNm quyền" có nghĩa:
(i) Trong trường hợp đối với Việt Nam, là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại
diện được uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính; và
(ii) Trong trường hợp đối với Ai-xơ-len, là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại
diện được uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
2. Trong khi một Nước ký kết áp dụng Hiệp định này tại bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ
thuật ngữ chưa được định nghĩa trong Hiệp định này sẽ có nghĩa vào thời điểm đó
theo như định nghĩa trong luật của Nước đó đối với các loại thuế mà Hiệp định này áp
dụng, bất kỳ nghĩa nào theo các luật thuế được áp dụng sẽ có giá trị cao hơn nghĩa của
thuật ngữ đó theo các luật khác của nước đó, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự
giải thích khác.
Điều 4: Đối tượng cư trú
1. Theo nghĩa của Hiệp định này, thuật ngữ "đối tượng cư trú của một Nước ký kết"
có nghĩa là bất cứ đối tượng nào, mà theo các luật của Nước đó, là đối tượng chịu thuế
căn cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở điều hành, trụ sở thành lập, trụ sở đăng ký hoặc
các tiêu chuNn khác có tính chất tương tự. Tuy nhiên, thuật ngữ này không bao gồm
các đối tượng là đối tượng chịu thuế tại Nước đó chỉ đối với thu nhập từ các nguồn tại
Nước đó.
2. Trường hợp theo những quy định tại khoản 1, khi một cá nhân là đối tượng cư trú
của cả hai Nước ký kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
a) Cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà tại đó cá nhân đó có
nhà ở thường trú. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, cá nhân đó sẽ
được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó có các quan hệ cá nhân và
kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
b) Nếu như không thể xác định được Nước mà ở đó, cá nhân đó có trung tâm các
quyền lợi chủ yếu, hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước thì
cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó thường sống;
c) Nếu cá nhân đó thường sống ở cả hai Nước hay không sống thường xuyên ở Nước
nào thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó mang
quốc tịch;
d) Nếu cá nhân đó là đối tượng mang quốc tịch của cả hai Nước hay không mang
quốc tịch của cả hai Nước này thì các nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký
kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thoả thuận chung.
3. Trường hợp do những quy định tại khoản 1, khi một đối tượng không phải là cá
nhân, là
đối tượng cư trú của cả hai Nước ký kết, lúc đó, đối tượng trên sẽ được coi là
đối tượng cư trú của Nước có trụ sở đăng ký của đối tượng đó. Tuy nhiên, trường hợp
đối tượng đó có trụ sở đăng ký tại một trong hai Nước và trụ sở điều hành thực tế của
đối tượng đó nằm tại Nước kia, khi đó nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký
kết sẽ xác định Nước mà đối tượng đó sẽ là đối tượng cư trú theo nghĩa của Hiệp định
này bằng thoả thuận chung. Trong trường hợp không đạt được thoả thuận chung như
trên, thì theo nội dung của Hiệp định này, tại mỗi Nước ký kết đối tượng đó sẽ không
được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia.
Điều 5: Cơ sở thường trú
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ "cơ sở thường trú" có nghĩa là một cơ
sở kinh doanh cố định mà qua đó xí nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động
kinh doanh của mình.
2. Thuật ngữ "cơ sở thường trú" chủ yếu bao gồm:
a) Trụ sở điều hành;
b) Chi nhánh;
c) Văn phòng;
d) Nhà máy;
e) Xưởng;
f) Mỏ, giếng dầu hoặc khí, mỏ đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài nguyên thiên
nhiên nào khác; và
g) Công trình lắp đặt, hoặc thiết bị được sử dụng để thăm dò các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ngoài khơi.
3. Thuật ngữ "cơ sở thường trú" cũng bao gồm:
a) Một địa điểm xây dựng, công trình xây dựng lắp ráp hoặc lắp đặt hoặc các hoạt
độnh giám sát có liên quan, nhưng chỉ khi địa điểm, công trình hoặc các hoạt động đó
kéo dài trong giai đoạn hơn sáu tháng;
b) Việc cung ứng các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn do một xí nghiệp thực hiện
thông qua người làm công cho xí nghiệp hay một đối tượng khác được xí nghiệp uỷ
nhiệm thực hiện tại Nước ký kết kia, nhưng chỉ trong trường hợp những hoạt động
mang tính chất nói trên (trong cùng một dự án hoặc một dự án có liên quan) kéo dài
tại một Nước trong khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian gộp lại hơn sáu
tháng trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng.
4. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, thuật ngữ "cơ sở thường trú" sẽ được
coi là không bao gồm:
a) Việc sử dụng các phương tiện riêng cho mục đích lưu kho hoặc trưng bày hàng hoá
hay tài s
ản của xí nghiệp;
b) Việc duy trì kho hàng hoá hoặc tài sản của xí nghiệp chỉ với mục đích lưu kho hoặc
trưng bày;
c) Việc duy trì kho hàng hoá hoặc tài sản của xí nghiệp với mục đích chỉ để cho xí
nghiệp khác gia công;
d) Việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích mua hàng hoá hoặc
tài sản hay để thu thập thông tin cho xí nghiệp đó;
e) Việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất kỳ hoạt
động nào khác mang tính chất phụ trợ hoặc chuNn bị cho xí nghiệp;
f) Việc duy trì một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích kết hợp bất kỳ hoạt
động nào nêu từ điểm (a) đến điểm (e), với điều kiện toàn bộ hoạt động của cơ sở
kinh doanh cố định từ sự kết hợp trên mang tính chất chuNn bị hay phụ trợ.
5. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2, trường hợp một đối tượng - trừ đại lý
có tư cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản 7 - hoạt động tại một Nước ký kết thay
mặt cho một xí nghiệp của Nước ký kết kia, xí nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở
thường trú tại Nước thứ nhất đối với các hoạt động mà đối tượng này thực hiện cho xí
nghiệp, nếu đối tượng đó:
a) Có và thường xuyên thực hiện tại Nước thứ nhất thNm quyền ký kết hợp đồng đứng
tên xí nghiệp, trừ khi các hoạt động của đối tượng này chỉ giới hạn trong phạm vi các
hoạt động nêu tại khoản 4 mà những hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một
cơ sở kinh doanh cố định sẽ không làm cho cơ sở kinh doanh cố định này trở thành
một cơ sở thường trú theo những quy định tại khoản đó; hay
b) Không có thNm quyền trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho
hàng hoá hoặc tài sản, từ đó đối tượng trên thường xuyên thực hiện việc giao hàng
hoá hoặc tài sản đại diện cho xí nghiệp.
6. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, một tổ chức bảo hiểm của một Nước
ký kết, trừ trường hợp tái bảo hiểm, sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết
kia nếu tổ chức đó thu phí bảo hiểm hoặc bảo hiểm các rủi ro tại Nước kia thông qua
một đối tượng không phải là một đại lý có tư cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản
7.
7. Một xí nghiệp sẽ không được coi là có cơ sở thường trú ở một Nước ký kết chỉ vì xí
nghiệp đó chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh tại Nước kia thông qua một đại lý môi
giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác có tư cách độc lập, với điều
kiện những đối tượng này hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh thông thường của
họ. Tuy nhiên, khi các hoạt động của đại lý đó giành toàn bộ hay hầu như toàn bộ cho
hoạt động đại diện cho xí nghiệp đó, đại lý đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách
độc lập theo nghĩa của khoản này.
8. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự
kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc tiến hành hoạt
động kinh doanh tại Nưóc kia (có thể thông qua một cơ sở thường trú hay dưới hình
thức khác), sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công
ty kia.
Điều 6: Thu nhập từ bất động sản
1. Thu nhập mà một đối tượng cư trú tại một Nước ký kết thu được từ bất động sản
(kể cả thu nhập từ nông nghiệp hoặc lâm nghiệp) nằm tại Nước ký kết kia thì có thể bị
đánh thuế tại Nước kia.
2. Thuật ngữ "bất động sản" sẽ có nghĩa theo như luật của Nước ký kết nơi có bất
động sản đó. Thuật ngữ này trong mọi trường hợp sẽ bao gồm cả những phần tài sản
phụ kèm theo bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và lâm
nghiệp, các quyền lợi được áp dụng theo như những quy định tại luật chung về điền
sản, quyền sử dụng bất động sản và các quyền được hưởng các khoản thanh toán thay
đổi hay cố định trả cho việc khai thác hay quyền khai thác các mỏ, nguồn khoáng sản
và các tài nguyên thiên nhiên khác; các tầu thuỷ và máy bay sẽ không được coi là bất
động sản.
3. Những quy định tại khoản 1 sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực tiếp
sử dụng, cho thuê hay sử dụng các loại bất động sản dưới bất kỳ hình thức nào khác.
4. Những quy định tại khoản 1 và 3 cũng sẽ áp dụng cho thu nhập từ bất động sản của
một xí nghiệp và đối với thu nhập từ bất động sản được sử dụng để thực hiện các hoạt
động dịch vụ cá nhân độc lập.
Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp
1. Lợi tức của một xí nghiệp của một Nước ký kết sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ
trường hợp xí nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông
qua một cơ sở thường trú tại Nước kia. Nếu xí nghiệp có hoạt động kinh doanh theo
cách trên, thì các khoản lợi tức của xí nghiệp có thể bị đánh thuế tại nước kia, nhưng
chỉ trên phần lợi tức phân bổ cho:
a) Cơ sở thường trú đó;
b) Việc bán tại Nước kia các hàng hoá hoặc tài sản cùng loại tương tự với các loại
hàng hoá hoặc tài sản được bán thông qua cơ sở thường trú đó; hoặc
c) Các hoạt động kinh doanh khác được thực hiện tại Nước kia cùng loại hay tương tự
với những hoạt động được thực hiện thông qua cơ sở thường trú đó.
2. Thể theo các quy định tại khoản 3, khi một xí nghiệp của một Nước ký kết tiến
hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, thông qua một cơ sở thường trú tại
Nước kia, thì tại mỗi Nước ký kết sẽ có những khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở
thường trú nói trên mà cơ sở đó có thể thu được, nếu nó là một xí nghiệp riêng, tách
biệt cùng tham gia vào các hoạt động như nhau hay tương tự trong cùng điều kiện như
nhau hay tương tự và có quan hệ hoàn toàn độc lập với xí nghiệp mà cơ sở đó được
coi là cơ sở thường trú.
3. Trong khi xác định lợi tức của một cơ sở thường trú, cơ sở này sẽ được phép khấu
trừ các khoản chi phí phát sinh phục vụ cho mục đích kinh doanh của cơ sở thường trú
này, bao gồm cả chi phí điều hành và chi phí quản lý chung cho dù chi phí đó phát
sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú đó đóng hoặc ở bất kỳ nơi nào khác. Tuy nhiên, sẽ
không cho phép tính vào các khoản chi phí được trừ bất kỳ khoản tiền nào, nếu có, do
cơ sở thường trú trả cho (trừ khi là khoản thanh toán các chi phí thực tế) trụ sở chính
của xí nghiệp hay bất kỳ văn phòng nào khác của xí nghiệp dưới hình thức tiền bản
quyền, các khoản lệ phí hay bất kỳ khoản thanh toán nào tương tự khác để được phép
sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho
việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hay trả cho công việc quản lý, hay dưới hình
thức lãi tính trên tiền cho cơ sở thường trú vay, trừ trường hợp tiền lãi của cơ sở ngân
hàng. Cũng tương tự, trong khi xác định lợi tức của cơ sở thường trú sẽ không tính
đến các khoản tiền (trừ các khoản tiền thanh toán các chi phí (thực tế) do cơ sở
thường trú thu từ trụ sở chính của xí nghiệp hay bất kỳ văn phòng khác của xí nghiệp,
dưới hình hình thức tiền bản quyền, các khoản lệ phí hay các khoản thanh toán tương
tự để cho phép sử dụng bằng phát minh hay các quyền khác, hay dưới hình thức tiền
hoa hồng trả cho việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hay trả cho công việc quản lý,
hay dưới hình thức lãi tính trên tiền cho trụ sở chính của xí nghiệp hay bất kỳ văn
phòng nào của xí nghiệp vay, trừ trường hợp lãi từ tiền cho vay của cơ sở ngân hàng.
4. Không nội dung nào tại Điều này ảnh hưởng tới việc áp dụng bất kỳ luật nào của
một Nước ký kết liên quan tới việc xác định nghĩa vụ thuế của một đối tượng trong
các trường hợp mà thông tin cung cấp cho nhà chức trách có thNm quyền của Nước đó
không đủ để có thể xác định các khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường trú, với
điều kiện là luật này sẽ được áp dụng, trong phạm vi thông tin cung cấp cho nhà chức
trách có thNm quyền cho phép, phù hợp với các nguyên tắc tại Điều này.
5. Trường hợp tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi tức phân bổ
cho cơ sở thường trú trên cơ sở phân chia tổng lợi tức của xí nghiệp thành các thành
phần khác nhau, thì không có nội dung nào tại khoản 2 ngăn cản Nước ký kết đó xác
định lợi tức chịu thuế theo cách phân chia theo thông lệ đó; tuy nhiên, phương pháp
phân chia được áp dụng như vậy phải đưa ra kết quả phù hợp với những nguyên tắc
của Điều này.
6. Theo nội dung những khoản trên, các khoản lợi tức được phân bổ cho cơ sở thường
trú sẽ được xác định theo cùng một phương pháp qua các năm trừ khi có đủ lý do
chính đáng để thay đổi phương pháp tính.
7. Khi lợi tức bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của
Hiệp định này, thì các quy định chung của các Điều đó không bị ảnh hưởng bởi những
quy định tại Điều này.
Điều 8: Vận tải hàng không và vận tải biển
1. Lợi tức do một xí nghiệp của một Nước ký kết thu được từ hoạt động của các tàu
thuỷ hoặc máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
2. Những quy định tại khoản 1 cũng sẽ áp dụng cho các khoản lợi tức thu được từ việc
tham gia vào m
ột tổ hợp, một liên doanh hay một hãng hoạt động quốc tế.
Điều 9.: Những xí nghiệp liên kết
Khi:
a) Một xí nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản
lý, kiểm soát hoặc góp vốn vào một xí nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc
b) Các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý, kiểm soát
hoặc góp vốn vào một xí nghiệp của một Nước ký kết và vào một xí ngiệp của Nước
ký kết kia, và trong cả hai trường hợp, trong mối quan hệ tài chính và thương mại
giữa hai xí nghiệp trên có những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt khác với điều kiện
được đưa ra giữa các xí nghiệp độc lập, lúc đó mọi khoản lợi tức mà một xí nghiệp có
thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay vì những điều kiện này mà
xí nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn bị một Nước ký kết tính vào các khoản lợi tức
của xí nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
Điều 10.:Tiền lãi cổ phần
1. Tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho
một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký
kết nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó,
nhưng nếu đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng tiền lãi cổ phần thì thuế được tính
khi đó sẽ không vượt quá:
a) 10 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là một công ty
(không phải là một tổ chức hùn vốn) nắm giữ trực tiếp ít nhất 25 phần trăm vốn của
công ty trả lãi cổ phần;
b) 15 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần trong tất cả các trường hợp khác.
Các nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký kết sẽ xây dựng phương thức áp
dụng giới hạn này bằng thoả thuận chung.
Khoản này sẽ không ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với lợi tức dùng để
chia lãi cổ phần.
3. Mặc dù các quy định tại điểm (a) khoản 2, chừng nào theo các luật của một Nước
ký kết tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Nước đó trả có thể được
khấu trừ vào lợi tức chịu thuế hoặc có thể được chuyển sang năm sau như lỗ trong
hoạt động của công ty đó dưới giác độ thuế thu nhập, tiền lãi cổ phần do công ty đó
trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết
thứ nhất và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng nhận là đối tượng thực
hưởng tiền lãi cổ phần, thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 15 phần trăm đối với
phần tiền lãi cổ phần được khấu trừ vào lợi tức chịu thuế của công ty hoặc có thể được
chuyển sang năm sau như một khoản lỗ hoạt động của công ty.
4. Thu
ật ngữ "tiền lãi cổ phần" được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ
cổ phần, hoặc các quyền khác, không kể các khoản nợ, được hưởng lợi tức, và thu
nhập từ các quyền lợi công ty khác phải chịu thuế giống như thu nhập từ cổ phần theo
các luật của Nước nơi công ty chia lãi cổ phần là đối tượng cư trú.
5. Những quy định tại khoản 1, 2 và 3 sẽ không áp dụng trong trường hợp đối tượng
thực hưởng các khoản tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có tiến
hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối
tượng cư trú thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước đó, hay tiến hành tại Nước
kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia,
và quyền nắm giữ các cổ phần được hưởng tiền lãi cổ phần, có sự liên hệ thực tế đến
cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy các quy định
tại Điều 7 hoặc Điều 14, tuỳ từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
6. Khi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có lợi tức hay thu nhập
phát sinh từ Nước ký kết kia thì Nước kia có thể không đánh thuế đối với những
khoản tiền lãi cổ phần do công ty này trả, trừ trường hợp những khoản tiền lãi cổ phần
do công ty này trả, trừ trường hợp khoản tiền lãi cổ phần này được trả cho đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia, hoặc quyền nắm giữ cổ phần có các khoản tiền lãi cổ phần
được trả có sự liên hệ thực tế với một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố định nằm tại
Nước kia, đồng thời Nước kia cũng không buộc các khoản lợi tức không chia của
công ty trên phải chịu thuế đối với những khoản lợi tức không chia của công ty, cho
dù những khoản tiền lãi cổ phần được chia hoặc các khoản lợi tức không chia bao
gồm toàn bộ hay một phần các khoản lợi tức hoặc thu nhập phát sinh tại Nước kia.
Điều 11: Lãi từ tiền cho vay
1. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, khoản tiền lãi này cũng có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát sinh
lãi và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu người nhận là đối tượng thực hưởng các
khoản tiền lãi này thì mức thuế khi đó được tính sẽ không vượt quá 10 phần trăm của
tổng số khoản lãi từ tiền cho vay. Các nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký
kết sẽ xây dựng phương thức áp dụng giới hạn bằng thoả thuận chung.
3. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2,
a) Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam sẽ được miễn thuế Việt Nam nếu số tiền
lãi đó được trả cho:
(i) Nhà nước Ai-xơ-len, một cơ quan chính quyền cơ sở, chính quyền địa phương
hoặc một tổ chức hợp pháp của Nhà nước đó,
(ii) Ngân hàng Trung ương Ai-xơ-len;
(iii) Quỹ Vay Công nghiệp hoặc Quỹ phát triển Công nghiệp, hoặc bất kỳ tổ chức
tương tự nào khác được nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký kết thoả thuận
trong từng thời kỳ;
(iv) Bất kỳ tổ chức nào khác tương tự như những tổ chức được đề cập tới tại điểm (iii)
được nhà chức trách có thNm quyền của hai Nước ký kết thoả thuận trong từng thời
kỳ;
b) Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Ai-xơ-len sẽ được miễn thuế Ai-xơ-len nếu lãi từ
tiền cho vay được trả cho:
(i) Chính phủ Việt Nam, một cơ quan chính quyền cơ sở, chính quyền địa phương
hoặc một tổ chức hợp pháp của Chính phủ đó;
(ii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
(iii) Một tổ chức hợp pháp, hoặc bất kỳ tổ chức nào khác có vốn thuộc sở hữu toàn bộ
hay chủ yếu của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được nhà chức
trách có thNm quyền của hai Nước ký kết thoả thuận trong từng thời kỳ.
4. Thuật ngữ "lãi từ tiền cho vay" dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản
cho vay dưới bất kỳ dạng nào, có hay không được đảm bảo bằng thế chấp và có hoặc
không có quyền được hưởng lợi tức của người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ
chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường, kể
cả các khoản tiền thưởng và giải thưởng kèm theo các khoản chứng khoán, trái phiếu
hoặc trái phiếu thông thường đó. Tiền phạt thanh toán chậm sẽ không được coi là lãi
từ tiền cho vay theo nội dung của Điều này.
5. Những quy định tại khoản 1, 2 và 3 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng
các khoản lãi từ tiền cho vay là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt
động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi phát sinh các khoản lãi từ tiền cho vay thông
qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước kia hoặc thực hiện tại Nước kia các hoạt động
dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia và khoản nợ có các
khoản tiền lãi được trả có sự liên hệ thực tế với (a) cơ sở thường trú hay cơ sở cố định
đó hoặc (b) với hoạt động kinh doanh nêu tại điểm (c) khoản 1 Điều 7. Trong trường
hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tuỳ từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
6. Lãi từ tiền cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả chính
là Nhà nước đó, chính quyền cơ sở, cơ quan chính quyền địa phương, hoặc đối tượng
cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả lãi có ở một Nước ký kết một cơ sở
thường trú hay một cơ sở cố định liên quan đến các khoản nợ đã phát sinh các khoản
lãi này, và khoản tiền lãi đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối
tượng có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, khoản tiền lãi này sẽ
vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở thường trú hay cở sở cố định đó đóng.
7. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả lãi và đối tượng hưởng lãi
hoặc giữa cả hai đối tượng trên và các đối tượng khác, khoản lãi tiền cho vay được trả
cho khoản nợ có liên quan, vượt quá khoản tiền được thoả thuận giữa đối tượng đi
vay và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ này, thì khi đó, các quy định
tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh toán khi không có mối quan
hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế theo các
luật của từng Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 12.:Tiền bản quyền
1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của
Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Tuy nhiên, những khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký
kết nơi phát sinh, và theo luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng nhận là đối tượng
thực hưởng tiền bản quyền thì mức thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần
trăm tổng số tiền bản quyền.
3. Thuật ngữ "tiền bản quyền" được sử dụng trong Điều này có nghĩa là các khoản
thanh toán ở bất kỳ dạng nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản
quyền tác giả của một tác phNm văn học, nghệ thuật hay khoa học, kể cả phim điện
ảnh hoặc phim hoặc các loại băng dùng cho phát thanh hoặc truyền hình, bằng phát
minh nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí
mật, hệ thống máy tính hay phần mềm mạng máy tính, hay trả cho việc sử dụng, hay
quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hay trả cho thông tin
liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp thương mại hoặc khoa học.
4. Những quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các
khoản tiền bản quyền, là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động
kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi có khoản tiền bản quyền phát sinh, thông qua một
cơ sở thường trú nằm tại Nước kia, và quyền hay tài sản có các khoản tiền bản quyền
được trả có sự liên hệ thực tế với (a) cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó hoặc (b)
các hoạt động kinh doanh được được nêu tại điểm c khoản 1 Điều 7. Trong trường
hợp này các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tuỳ từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Tiền bản quyền sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi đối tượng trả tiền
bản quyền chính Nhà nước đó, chính quyền cơ sở, cơ quan chính quyền địa phương
hoặc là đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi một đối tượng trả tiền bản
quyền, là hay không là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có ở một Nước ký kết
một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố định liên quan đến trách nhiệm trả tiền bản
quyền đã phát sinh và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó
chịu thì khoản tiền bản quyền này sẽ vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở
thường trú hay cơ sở cố định đó đóng.
6. Trường hợp vì mối quan hệ đặc biệ giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng
hoặc giữa cả hai đối tượng trên với các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền được trả
cho việc sử dụng, quyền hoặc thông tin, vì bất cứ lý do gì, vượt quá khoản tiền được
thoả thuận giữa đối tượng trả tiền và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ
đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với khoản tiền thanh
toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ
bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kêt có xem xét đến các quy định khác
của Hiệp định này.
Điều 13: Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản
1. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được từ việc chuyển
nhượng bất động sản được nêu tại Điều 6 và nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh
thuế tại Nước kia.
2. Lợi tức từ việc chuyển nhượng động sản là một phần của tài sản kinh doanh của
một cơ sở thường trú mà một xí nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia
hoặc động sản thuộc một cơ sở cố định của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết
có ở Nước ký kết kia để tiến hành hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập, kể cả lợi tức từ
việc chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (riêng cơ sở thường trú đó hoặc cùng với
toàn bộ xí nghiệp) hoặc cơ sở cố định đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
3. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng tầu thuỷ hoặc máy bay do xí nghiệp của
một Nước ký kết điều hành trong vận tải quốc tế hoặc động sản gắn liền với việc hoạt
động của các tầu thuỷ hay máy bay đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
4. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ việc chuyển
nhượng các cổ phần hay các quyền lợi tương ứng trong một công ty mà tài sản của
công ty đó bao gồm toàn bộ hay chủ yếu bất động sản nằm tại Nước kia có thể bị
đánh thuế tại Nước kia.
5. Lợi tức thu được từ việc chuyển nhượng các cổ phần trong một công ty là đối
tượng cư trú của một Nước ký kết không phải là những cổ phần được đề cập tới khoản
4 có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
6. Lợi tức từ việc chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với những tài sản đã được
nêu tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 sẽ chỉ bị đánh thế tại Nước ký kết nơi đối tượng chuyển
nhượng là đối tượng cư trú.
Điều 14: Hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập
1. Thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các
hoạt động dịch vụ ngành nghề hay các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị
đánh thuế tại Nước đó trừ các trường hợp sau, khi đó các khoản thu nhập đó cũng có
thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia:
a) Nếu đối tượng đó thường xuyên có tại Nước ký kết kia một cơ sở cố định để thực
hiện các hoạt động này; trong trường hợp đó, chỉ phần thu nhập phân bổ cho cơ sở cố
định đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia; hoặc
b) Nếu đối tượng đó có mặt tại Nước ký kết kia trong khoảng thời gian hay nhiều
khoảng thời gian gộp lại đến hay vượt quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng
nào bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tài chính có liên quan; trong trường hợp đó, chỉ
phần thu nhập phát sinh từ các hoạt động của đối tượng đó được thực hiện tại Nước
kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Thuật ngữ "dịch vụ ngành nghề" bao gồm chủ yếu những hoạt động khoa học, văn
học, nghệ thuật, giáo dục hay giảng dạy mang tính chất độc lập như các hoạt động độc
lập của các thầy thuốc, bác sỹ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sỹ và kế toán viên.
Điều 15.: Hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc
1. Thể theo các quy định tại Điều 16, 18, 19, 20 và 21 các khoản tiền lương, tiền công,
và các kho
ản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của Nước ký kết thu
được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi công việc của đối
tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu công việc lao động được thực hiện
như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Mặc dù có những quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một
Nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước thứ nhất nếu:
a) Người nhận tiền công hiện có mặt tại Nước kia trong một thời gian hoặc nhiều thời
gian gộp lại không quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng liên tục bắt đầu hay
kết thúc trong năm tài chính liên quan, và
b) Chủ lao động hay người đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là
đối tượng cư trú tại Nước kia, và
c) Số tiền thù lao không phải phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà
đối tượng chủ lao động có tại Nước kia.
3. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, tiền công từ công việc làm trên tàu
thuỷ hoặc máy bay do một xí nghiệp của một Nước ký kết hoạt động trong vận tải
quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
Điều 16.: Thù lao cho giám đốc
Các khoản thù lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối
tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của ban giám
đốc hoặc các bộ phận tương tự khác của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký
kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
Điều 17: Nghệ sỹ và vận động viên
1. Mặc dù có những quy định tại Điều 15 và 16, thu nhập của một đối tượng cư trú
của một Nước ký kết thu được với tư cách người biểu diễn như diễn viên sân khấu,
diễn viên điện ảnh, nghệ sỹ phát thanh hay truyền hình, hoặc nhạc công, hoặc với tư
cách là vận động viên từ những hoạt động cá nhân của mình thực hiện tại Nước ký kết
kia, có thể bị đánh thuế ở Nước kia.
2. Trường hợp thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân của người biểu
diễn hoặc vận động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc
vận động viên, mà trả cho một đối tượng khác thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại
Nước ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn của người biểu diễn hoặc vận
động viên, mặc dù đã có những quy định tại Điều 7, 15 và 16.
3. Mặc dù đã có những quy định tại khoản 1 và 2, thu nhập do các nghệ sỹ hoặc vận
động viên là đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động tại
Nước ký kết kia theo khuôn khổ chương trình trao đổi văn hoá giữa hai Chính phủ của
hai Nước ký kết, sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết kia.
Điều 18.:Tiền lương hưu
1. Thể theo các quy định tại khoản 2 Điều 19, tiền lương hưu và các khoản tiền thù
lao tương tự khác được trả cho một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết
do các công việc đã làm trước đây sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
2. Mặc dù có các quy định tại khoản 1, và quy định tại khoản 2 Điều 19, tiền lương
hưu được trả và các quyền lợi khác dù được cấp định kỳ hay một lần, theo luật bảo
hiểm xã hội của một Nước ký kết hay bất kỳ chương trình công nào do một Nước ký
kết tổ chức vì mục đích phúc lợi xã hội có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
Điều 19.: Phục vụ nhà nước
1.a. Tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác, trừ tiền lương hưu,
do một Nước ký kết hoặc cơ quan chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương
của Nước đó trả cho một cá nhân đối với việc phục vụ cho Nhà nước hoặc chính
quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
b. Tuy nhiên khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác nói
trên sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu việc phục vụ này được thực hiện tại
Nước ký kết kia và nếu cá nhân này là đối tượng cư trú của Nước kia, đồng thời:
(i) Là đối tượng mang quốc tịch của Nước kia; hoặc
(ii) Không trở thành đối tượng cư trú của Nước kia chỉ đơn thuần vì thực hiện những
công việc trên.
2.a. Bất kỳ khoản tiền lương hưu nào do một Nước ký kết hoặc cơ quan chính quyền
cơ sở hoặc cơ quan chính quyền địa phương của Nước đó hoặc do các quỹ của những
cơ quan đó lập ra trả cho một cá nhân đối với công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc
các cơ quan chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế
tại Nước đó.
b. Tuy nhiên, những khoản tiền lương hưu này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia
nếu cá nhân này là đối tượng cư trú và là đối tượng mang quốc tịch của Nước ký kết
kia.
3. Các quy định của Điều 15, 16 và 18 sẽ áp dụng đối với những khoản tiền lương,
tiền công và tiền thù lao tương tự khác và lương hưu đối với các công việc liên quan
đến một hoạt động kinh doanh được tiến hành bởi một Nước ký kết hoặc cơ quan
chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của Nước đó.
Điều 20.: Sinh viên và thực tập sinh
Những khoản tiền mà một sinh viên hay thực tập sinh nhận được để trang trải các chi
phí sinh hoạt, học tập hay đào tạo mà người sinh viên hay thực tập sinh này ngay
trước khi đến một Nước ký kết đã hoặc đang là người cư trú của Nước ký kết kia và
hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với mục đích học tập hay đào tạo, sẽ không bị đánh
thuế tại Nước đó, với điều kiện những khoản tiền đó có nguồn gốc từ bên ngoài Nước
này.
Điều 21.: Giáo viên, giáo sư và nhà nghiên cứu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét