Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

nâng cao hiệu quả việc áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với các tổ chức kinh tế trong công tác đánh giá và phân loại nợ tại ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao hiệu quả việc áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với các tổ chức kinh tế trong công tác đánh giá và phân loại nợ tại ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh hà nội": http://123doc.vn/document/1042118-nang-cao-hieu-qua-viec-ap-dung-he-thong-xep-hang-tin-dung-noi-bo-doi-voi-cac-to-chuc-kinh-te-trong-cong-tac-danh-gia-va-phan-loai-no-tai-ngan-hang-dau.htm


LỜI MỞ ĐẦU
Một trong lĩnh vực mà Việt Nam sớm mở cửa khi gia nhập WTO là lĩnh
vực tài chính ngân hàng. Do nhiều rào cản bị bãi bỏ nên hoạt động ngân hàng
chắc chắn sẽ trở nên sôi động và cạnh tranh khốc liệt hơn. Để tham gia vào
cuộc cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương
mại trong nước ngay từ bây giờ phải tự đổi mới mình, xây dựng hệ thống
quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Hoạt động tín dụng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất trong những hoạt
động của ngân hàng thương mại. Vì vậy để hoàn thiện các công cụ quản lý rủi
ro tín dụng một cách khoa học và hiệu quả mà các ngân hàng thương mại hiện
nay đang triển khai áp dụng. Mặc dù mang những tên gọi khác nhaum tùy
thuộc vào mỗi ngân hàng, có ngân hàng gọi là “hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ”, “hệ thống chấm điểm tín dụng “ nhưng bản chất đều nhằm đánh giá
mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng có quan hệ
dựa trên hệ thống xếp hạng.
Từ những lý do đó, em chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả việc áp dụng
hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với các tổ chức kinh tế trong công
tác đánh giá và phân loại nợ tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Chi
nhánh Hà Nội”.
Trong bài chuyên đề của mình, em xin đi sâu tìm hiểu đối tượng khách
hàng là các doanh nghiệp. Kết cấu bài chuyên để ngoài phần mở đầu và két
luận, mục lục gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng
Chương II: Thực trạng áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối
với các tổ chức kinh tế tại BIDV Hà Nội
5
Chương III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác xếp
hạng tín dụng tại BIDV Hà Nội.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, em xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn của thầy giáo TS. Lê Việt Thủy cũng như phòng Quan hệ khách
hàng 2 – BIDV Hà Nội đã giúp em hoàn thành chuyên đề này!
6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng
Theo Standards & Poor, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá
hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ
thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng
hạn.
Theo Moody's, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về chất
lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những
phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C.
Định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura: Xếp hạng tín nhiệm là đánh giá
hiện tại về mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc hoặc lãi đối với chứng khoán
nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó
Như vậy, có thể định nghĩa, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về
rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ
(gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính
một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu.
Trong thực tế, xếp hạng tín nhiệm mới chỉ đánh giá khả năng trả nợ của chủ
thể trong quá khứ và hiện tại. Nên các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn thường
cung cấp thêm những tín hiệu bổ sung thể hiện những sự kiện xảy ra trong
khoảng thời gian gần (3 tháng) mà có thể tác động đến hạng mức tín nhiệm
hay dựa trên cơ sở đánh giá triển vọng hạng mức tín nhiệm của doanh nghiệp
trong tương lai với thời hạn trung bình (6 - 24 tháng). Các tổ chức xếp hạng
tín nhiệm cũng dự báo hạng mức tín nhiệm, bằng cách dự phóng báo báo cáo
tài chính tương lai rồi xếp hạng lại hoặc xây dựng mô hình toán học để dự báo
hạng mức tín nhiệm doanh nghiệp.
7
1.2. Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng nội bộ các doanh nghiệp
trong ngân hàng thương mại.
1.2.1. Theo yêu cầu đảm bảo an toàn của các cơ quan giám sát hoạt động
Ngân hàng.
Ngân hàng là một trung gian tài chính lớn nhất và quan trọng nhất của
nền kinh tế, do vậy, hoạt động của Ngân hàng luôn bị theo dõi giám sát, quản
lý về các mặt rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng bởi các cơ quan giám sát. Một
trong những công cụ quản lý rủi ro mà các cơ quan giám sát hoạt động NH
theo tiêu chuẩn quản lý tốt nhất theo kiến nghị của Besel 2 đều hướng tới đó
là hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (IRS – Internal Rating System).
Hiệp định Basel II yêu cầu các NH hoạt động ở phạm vi quốc tế phải sử
dụng các biện pháp nhạy cảm với lãi suất hơn để tính toàn mức vốn tối thiểu
yêu cầu cho rủi ro tín dụng. Hiệp định cũng cho phép một NH được tính toán
yêu cầu vốn tối thiểu cho rủi ro tín dụng căn cứ vào một trong hai cách sau:
- Phương pháp cơ bản là sử dụng mức tín nhiệm của các tổ chức xếp
hạng để định mức rủi ro cho các khoản vay.
- Phương pháp tiếp cận sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho
phép tổ chức tín dụng tự ước lượng các nhân tố rủi ro tín dụng nhằm tính toán
yêu cầu tối thiểu về vốn rủi ro tín dụng.
Phương pháp tiếp cận theo hướng sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ được xây dựng trên cơ sở 4 tham số chính:
- PD: Xác suất vỡ nợ của một người vay trong khoảng thời gian một
năm.
- LGD: Tỷ lệ tổn thất vỡ nợ được tính bằng tỷ lệ phần trăm của khoản
vay bị rủi ro khi xảy ra vỡ nợ.
- EAD: Giá trị rủi ro vỡ nợ.
8
- M: Thời gian đáo hạn.
Trong thời gian đáo hạn, khoản lỗ (EL) được dự tính như sau:
- Giá trị lỗ dự tính: EL = PD x LGD x EDA.
- Tỷ lệ lỗ dự tính: %EL = PD x LGD.
Với Basel II, việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trở thành
một trong những công cụ xác định và quản trị rủi ro. Hiện nay, Ngân hàng
Trung Ương đều có những chính sách yêu cầu và khuyến khích các tổ chức
tín dụng trong hệ thống của mình xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ. Cũng theo xu thế hội nhập, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa
ra những văn bản nhằm khuyến khích các NHTM xây dựng cho mình hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Năm 2005, Thống đốc NHNN ban hành
Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN cho phép các tổ chức tín dụng trong thời
gian chưa xây dựng được hệ thống xếp hạng, phân loại nợ thì có thể xếp hạng
khách hàng theo thời gian quá hạn của khoản nợ tức là áp dụng theo điều 6
của quyết định trên, và NH nào đã xây dựng cho mình hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ phân loại và xếp hạng theo kết quả của hệ thống đó, tức là theo
Điều 7 quyết định 493. NHNN cũng ra quy định là sau tối đa 3 năm, tức đến
năm 2008, tất cả các tổ chức tín dụng đều phải hoàn tất công việc xây dựng và
đưa vào sử dụng hệ thống xếp hạng, phân loại nợ khách hàng làm công cụ
quản lý tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, tính đến thời điểm
này, mới chỉ có một số NHTM hoàn thành việc xây dựng cho mình hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ như: BIDV, NH ngoại thương Việt Nam, NH công
thương Việt Nam, NH TMCP Quân đội… Các mốc thời gian NHNN quy định
các NHTM phải trình đề án xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ bị lùi
lại và đến nay rất nhiều các NHTM đặc biệt là các NHTM CP chưa có hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho riêng mình.
9
1.2.2. Yêu cầu tăng cường quản lý tín dụng tập trung thống nhất trong
nội bộ Ngân hàng.
Lượng hóa rủi ro tín dụng mà cụ thể là ước lượng xác suất vỡ nợ đối với
mỗi khách hàng vay và tỷ lệ tổn thất khi xảy ra rủi ro đối với danh mục tín
dụng là một yêu cầu bắt buộc về quản lý giám sát an toàn NH của các cơ quan
giám sát cũng như về tăng cường quản trị điều hành trong NH. Hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ là một công cụ quản lý tín dụng cho phép các tổ chức tín
dụng đưa ra các mức ước lượng về xác suất vỡ nợ khách hàng và tỷ lệ tổn thất
vỡ nợ làm cơ sở cho việc định giá tín dụng và thực hiện việc trích lập dự
phòng rủi ro.
Mặt khác, tại các NH đang diễn ra việc tái cơ cấu NH theo hướng tập
trung hóa quản lý rủi ro với việc tăng cường năng lực quản lý rủi ro tại Hội sở
chính. Điều đó chỉ có thể áp dụng được trên cơ sở chính sách khách hàng
thống nhất từ cấp quản lý đến bộ phận kinh doanh. Một chính sách khách
hàng phù hợp chỉ có thể được xây dựng khi NH biết được khách hàng mang
lại lợi ích gì cho NH và các rủi ro đi kèm trong quan hệ tín dụng. Vì vậy, xếp
hạng tín dụng nội bộ là một công cụ quản lý rủi ro mà các NH cần phải xây
dựng khi thực hiện việc tập trung hóa quản lý.
1.3. Nội dung của công tác xếp hạng tín dụng trong NHTM
1.3.1. Phương pháp được sử dụng để xếp hạng tín dụng
1.3.1.1. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài
doanh nghiệp theo những mẫu câu hỏi được soạn thảo trong phiếu điều tra.
Các bước thực hiện phương pháp này như sau:
- Bước 1: lập các nhóm nhà phân tích và nhóm chuyên gia đánh giá.
Nhóm các nhà phân tích là nhứng người am hiểu về lĩnh vực ần đánh giá và
10
thành thạo kỹ năng phân tích, tổng hợp để soạn thảo các câu hỏi để hính thành
phiếu điều tra. Nhóm các chuyên gia đánh giá là những người có kiến thức
chuyên môn về xếp hạng tín dụng, có trách nhiệm đưa ra ý kiến xếp hạng,
cung cấp những thông tin dự báo thay đổi xếp hạng trong tương lai.
- Bước 2: Xây dựng bảng hỏi
Yêu cầu của bảng hỏi là nội dung của câu hỏi phải gắn liền với nội dung
cần đánh giá và hình thức của chúng có thể là câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở,
tùy theo yêu cầu đánh giá. Bên cạnh đó, cũng có thể đề nghị các chuyên gia
xác định tầm quan trọng của các yếu tố cần đánh giá bằng mức điểm trọng số.
- Bước 3: Phát phiếu điều tra cho chuyên gia trả lời.
- Bước 4: Tập hợp các ý kiến trả lời, phân tích và hình thành bằng tổng
hợp kết quả đánh giá
- Bước 5: Tổng hợp các ý kiến đánh giá lần 2 của các chuyên gia.
- Phương pháp này có ưu điểm là tận dụng được kinh nghiệm và kiến
thức của các chuyên gia. Kết quả có độ tin cậy cao, tránh được nhứng ảnh
hưởng của những người có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến. Tuy nhiên,
chi phí thực hiện có thể rất cao do số lượng người tham gia đông và số lần thu
thập ý kiến nhiều. Thêm vào đó, thời gian thực hiện kéo dài gây khó khăn cho
việc tổng hợp, phân tích. Và khi sử dụng phương pháp này thì cũng không thể
loại bỏ tính chủ quan trong kết quả đánh giá.
1.3.1.2. Phương pháp cho điêm theo tiêu chuẩn.
Các bước thực hiện:
- Bước 1: Xác định nội dung và tiêu thức cần đánh giá và xác định điểm
chuẩn cho từng tiêu thức.
11
- Bước 2: Tiến hành đánh giá: phân tích dữ liệu, thông tin về DN trên
cơ sở thang điểm đã xác định. Sau đó tổng hợp số điểm của các tiêu thức và
tiến hành xếp hạng DN
Phương pháp này cho điểm theo tiêu chuẩn đơn giản, dễ áp dụng, việc
đánh giá dựa trên cơ sở định lượng, thời gian tiến hành ngắn, chi phí thấp.
Nhưng kết quả lại mang tính chủ quan cao.
1.3.1.3. Phương pháp so sánh.
Các bước thực hiện:
- Bước 1: thu thập thông tin
- Bước 2: tiến hành so sánh
Phương pháp này khá đơn giản bởi có thể lấy tiêu thức của một DN khác
hay của ngành làm cơ sở cho sự đánh giá. Thời gian tiến hành ngắn nên chi
phí thấp. Tuy nhiên, việc so sánh sẽ gặp khó khăn trong trường hợp điều kiện
và đặc điểm của DN khác nhau, không xác định tiêu chuẩn để so sánh.
1.3.1.4. Phương pháp kết hợp.
Để tận dụng những ưu điểm, hạn chế nhược điểm của từng phương pháp
thì có thể sử dụng phương pháp kết hợp. Tức là với mỗi nội dung cần đánh
giá, có thể áo dụng từng phương pháp cho phù hợp.
1.3.2. Quy tình xếp hạng tín dụng nội bộ đối với các tổ chức kinh tế tại
NHTM
Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân tích:
Việc xếp hạng tín dụng các DN phải dựa trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu
liên quan nhằm mục đích đánh giá chính xác khả năng và thiện chí trả nợ của
khách hàng. Do vậy, bước đầu tiên trong quy trình là phải xây dựng hệ thống
các chỉ tiêu phân tích một cách khoa học. Số lượng các chỉ tiêu phải phù hợp
12
và phản ánh chính xác tình hình thực tế của DN cần đánh giá, phải gồm cả chỉ
tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính.
Bước 2: Thu thập thông tin về doanh nghiệp vay vốn:
Thông tin thu thập về Dn bao gồm: các thông tin từ báo cáo tài chính và
các nguồn thông tin khác.
Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng để phân tích rủi ro tín
dụng và xếp hạng tín dụng các DN đi vay, là báo cáo tổng hợp nhất về tình
hình tài sản, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN. Bóa cáo
tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của
DN. Báo cáo tài chính gồm các loại: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, thông tin trên báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng đáng
tin cậy, vì thế để có thể đưa ra các dự báo chính xác thì phương pháp phân
tích phải kết nối các dữ liệu trong quá khứ với hiện tại để đưa ra các dự báo
hợp lý trong tương lai.
Các số liệu tài chính của DN trong bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh
tình hình tài sản và nguồn vốn của Dn tại một thời điểm. Vì thế, các số liệu có
thể tốt cho một thời điểm nhất định mà không tốt trong cả kỳ kinh doanh, nhất
là đối với những DN hoạt động mang tính chất thời vụ. Hơn nữa, không phải
báo cáo tài chính nào cũng được kiểm toán, do đó độ tin cậy cũng khác nhau.
Khi phân tích, cần cẩn thận với một thái độ nghi ngờ cần thiết.
Việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau trong việc xác định giá
trị hàng tồn kho, cách tính khấu hao… có thể dẫn tới sự khác biệt về các chỉ
tiêu hàng tồn kho, lợi nhuận. Vì vậy, khi so sánh giá trị hàng tồn kho, hoặc
mức lợi nhuận giữa các DN cần phải xem xét phương pháp kế toán đối với
các chỉ tiêu này như thế nào.
13
Bên cạnh các thông tin từ báo cáo tài chính, thông tin có thể được thu
thập từ những nguồn khác như: từ khảo sát thực tế, từ cơ quan kiểm toán, từ
cơ quan quản lý… Số lượng thông tin cần thu thập phụ thuộc vào mục tiêu và
kinh nghiệm của người phân tích. Sự chính xác và đầy đủ các thông tin là yếu
tố quyết định đến kết quả phân tích. Thông tin có thể được thu thập từ các dối
thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào, khách hàng, các đại lý
tiêu thụ … của DN. Thông tin thu thập qua hình thức này đòi hỏi nhà phân
tích phải biết thu nhận một cách có chon lọc, xác định độ chính xác của thông
tin bằng các phương pháp khác nhau, đảm bảo tính khách quan trong đánh giá
và xếp hạng DN.
Bước 3: Phân tích và tính điểm hệ thống chỉ tiêu:
Trong phân tích và xếp hạng DN, phương pháp chủ yếu được thực hiện
là phương pháp so sánh các chỉ tiêu, hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa và
có cùng nội dung, tính chất tương tự nhau dưới hình thức:
- So sánh các chỉ tiêu thực tế giữa kỳ này với kỳ trước để thấy được sự
tiến bộ hay thụt lùi của chính DN vay vốn.
- So sánh các số liệu thực tế theo một chuỗi thời gian để tìm ra xu
hướng .
- So sánh các hỉ tiêu, số liệu của DN với số liệu trung bình của ngành,
nhóm ngành để thấy được vị trí của DN trong ngành, nhóm ngành đó.
- So sánh các chỉ tiêu thực tế của DN với DN tiên tiến có các điều kiện
khác tương tự hoặc với mức trung bình của thế giới.
Bước 4: Tổng hợp điểm, xếp hạng và xác định mức rủi ro tín dụng.
Trên cơ sở cho điểm các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu và trọng số của
từng chỉ tiêu, xác định được điểm số của DN. Từ đó, xác định thứ hạng của
DN và mức độ rủi ro tín dụng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét