Đề án môn học
giảm 5%so với năm 2000 còn 592 triệu USD. Theo số liệu mới nhất của Bộ
Thơng mại thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản
đạt dới 500 triệu USD, giảm 20% so với năm 2001. Nguyên nhân chính là do
sức ép cạnh tranh của hàng Trung Quốc có chất lợng, mẫu mã đa dạng và giá
rẻ, hiện đã chiếm tới gần 90% thị phần hàng may mặc nhập khẩu của Nhật
Bản. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ nghĩ tới việc thay đổi mẫu mã sản
phẩm khi chu kỳ sống của sản phẩm đó đã bớc sang giai đoạn thoái trào,
hàng không bán đợc nữa. Còn xuất khẩu cả năm qua cũng giảm 1,8% so với
năm 2002.
Thị trờng Hoa Kỳ.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trờng Mỹ: năm
1998 đạt 26.4 triệu USD, năm 1999 đạt 48 triệu USD, năm 2000 đạt 60 triệu
USD, năm 2001 đạt 49 triệu USD.
Năm 2001 Việt Nam và Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ thơng mại trở lại
bằng việc ký kết một hiệp định thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ. Có thể nói đây
là một cơ hội mới rất tốt cho thơng mại của Việt Nam, trong đó có ngành
may mặc. Bởi Hoa Kỳ đợc xếp là nớc có lợng nhập khẩu hàng may mặc lớn
nhất trên thế giới, thêm vào đó trong thời gian đầu Mỹ không áp dụng quator
cũng nh việc mức thuế sẽ giảm từ 40% xuống còn 20% sau khi hiệp định th-
ơng mại có hiệu lực.
Sau một năm thực hiện Hiệp định thơng mại Việt- Mỹ, hàng dệt may v-
ơn lên đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Kim ngạch
xuất khẩu của hàng dệt may tăng lên tới 1,9 tỷ USD. Các mặt hàng dệt may
xuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng đa dạng hơn so với trớc. Tháng 1 năm 2001,
Việt Nam mới chỉ có khoảng 17 chủng loại có kim ngach xuất khẩu đáng kể
nhng đến tháng 7 năm 2002 đã có đến 42 chủng loại khác nhau xuất khẩu
vào Hoa Kỳ. Đồng thời tỷ trọng của hàng dệt may trong tổng xuất khẩu của
Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng lên rõ rệt. Năm 2001 hàng dệt may chỉ chiếm
4,7% tổng xuất khẩu của Việt Nam thì đến tháng 7 năm 2002 đã lên đến
24,2%, chỉ đứng sau nhóm hàng hải sản, vợt qua các nhóm hàng truyền
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
5
Đề án môn học
thống là khoáng sản và giầy dép. Mặc dù có sự đa dạng hoá mặt hàng xuất
khẩu, nhng tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may tập trung chủ yếu vào các loại
quần áo dệt kim và dệt thoi, các mặt hàng khác chiếm tỷ trọng không lớn.
1.2.2. Thị trờng trong nớc.
Nớc ta với số dân khá đông ( Khoảng 75 triệu dân ) nên nhu cầu tiêu thụ
cũng rất lớn, thu nhập quốc dân bình quân đầu ngời mới đạt 250 USD/ năm
nhng có sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của ngời dân thành thị và nông thôn.
Những ngời dân thành thị có yêu cầu về hàng Dệt May cao hơn nhiều so
với những ngời ở nông thôn và miền núi. Nghĩa là họ có thể mua sắm quần
áo hàng tháng, đặc biệt là vào các dịp lễ tết. Ngợc lại, ngời có nhu cầu thấp
hiện nay cũng thích xài hàng Dệt May một mùa hợp với túi tiền của họ.
Điều này cho thấy tại sao hàng may mặc Trung Quốc cần rất ít nguyên liệu,
mẫu mã đẹp, rẻ lại tràn ngập thị trờng Việt Nam. Hàng Dệt May Việt
Nam lại chủ yếu xuất khẩu xuất chủ yếu sang thị trờng EU, Nhật Bản là
những khách hàng rất kỹ tính với đòi hỏi cao về chất lợng. Nếu có sai sót bị
trả lại và bán trên thị trờng nội địa thì không phải ai cũng có thể mua đợc
ngoại trừ tầng lớp có thu nhập cao và tơng đối cao nên rất khó tiêu thụ. Đó
chính là hạn chế của nền kinh tế hớng về xuất khẩu.
Một số doanh nghiệp chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu, bỏ rơi thị trờng
nộiđịa trong khi điều kiện cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, tỷ lệ
sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thấp đã dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ.
Đối với những sản phẩm may mặc cao cấp, lâu nay chúng ta vẫn mặc thừa
của các khách hàng nớc ngoài, thị trờng nội địa đang bị các nhà sản xuất bỏ
quên. Nhiều doanh nghiệp chỉ bán những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn
xuất khẩu trên thị trờng nội địa mà không có chiến lợc phát triển thị trờng
trong nớc, điều đó làm uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng nội địa bị giảm
sút. Đó là do các hoạt động nghiên cứu thị trờng còn yếu, không chủ động
xây dựng chiến lợc mở rộng thị trờng sản phẩm, không thờng xuyên nghiên
cứu thiết kế mẫu, mốt nên không chủ động trong việc sản xuất hàng cao cấp
tiêu thụ trong nớc. Mặt khác, do bộ máy đôi lúc còn quan liêu, ỷ lại, khách
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
6
Đề án môn học
hàng nớc ngoài thờng đặt với lô hàng lớn, có sẵn mẫu mã, chỉ phải tính giá
thành và thơng lợng giá bán với khách hàng và sản xuất theo mẫu khách hàng
đặt mà thôi.
Đặc điểm chu kỳ sống của sản phẩm Dệt May là ngắn. Tuy nhiên,
đối với các thị trờng có thu nhập thấp nh nông thôn, miềm núi, chu kỳ sống
cuẩ sản phẩm lại dài hơn. Vì vậy, bên cạnh việc phát triển thị trờng cao cấp ở
các đô thị, còn phải phát triển mạnh mẽ thị trờng cấp thấp và trung bình ở
nông thôn. Đây là chiến lợc phù hợp với trình độ và các điều kiện về thiết bị
công nghệ ngành Dệt May nớc ta hiện nay.
Để duy trì và mở rộng thị trờng nội địa, ngoài việc nắm chắc các hoạt
động nh nghiên cứu thị trờng, chính sách các sản phẩm, còn phải tổ chức tốt
các kênh tiêu thụ sản phẩm thành một mạng lới rộng khắp cả nớc. Tổ chức ra
các trung tâm chuyên buôn bán kinh doanh hàng Dệt May, phân phối
hàng hóa đến mọi vùng của đất nớc.
1.3. Các yêu cầu đối với sản xuất và kinh doanh sản phẩm dệt may.
1.3.1. Đặc điểm sản phẩm.
Đặc điểm của sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu phong phú
đa dạng tuỳ thuộc vào thị hiếu, văn hoá, phong tuc, tập quán, tôn giáo, địa lý,
khí hậu, giới tính, tuổi tác và thu nhập của ngời tiêu dùng.
Sản phẩm dệt may còn mang tính thời trang cao, vì vậy phải thờng
xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng đợc tâm lý
chuộng cái mới có những nét độc đáo riêng và gây ấn tợng đối với ngời tiêu
dùng. Bên cạnh đó nhà sản xuất phải tạo ra đợc những nhãn hiệu sản phẩm
của riêng mình. Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thờng là yếu tố
chứng nhận chất lợng hàng hoá và uy tín của nhà sản xuất.
Ngoài ra khi buôn bán các sản phẩm dệt, may cần chú trọng đến yếu tố
thời vụ trong năm. Vì vậy, hàng dệt, may cần đợc giao đúng thời hạn để đảm
bảo cung cấp hàng hoá kịp vụ mùa.
1.3.2. Yêu cầu về nguồn nhân lực.
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
7
Đề án môn học
Nghề dệt may không đòi hỏi kĩ thuật cao siêu, điêu luyện nên ngành rất
dễ thu hút nhiều lao động. Đến nay cac doanh nghiệp Dêt may đã thu hút hơn
500.000 lao động góp phần đáng kể trong việc giải quyết khó khăn về việc
làm cho ngời lao động. Tuy rằng lao động Việt Nam có đôi bàn tay khéo léo,
tiếp thu kiến thức mới nhanh nhng do cha đợc đào tạo bài bản, hệ thống nên
trình độ của họ còn rất hạn chế. Hơn nữa, do điều kiện làm việc chuyên môn
hoá cao nên cờng độ lam việc căng thẳng trong khi tiền lơng nói chung còn
thấp và có sự chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp nên có nhiều biến động
lớn trong đội ngũ lao động ngành. Thực tế cho thấy rằng các công ty sản xuất
phát triển, đủ việc làm, thu nhập cao, biến động lao động nhỏ, công nhân gắn
bó với công ty, thậm chí nhiều ngời xin vào làm việc. Ngợc lai ở những
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, sản xuất đình trệ, thiếu việc làm, thu
nhập thấp sẽ nảy sinh tinh trạng đất không lành, chim không đậu, công
nhân lành nghề , công nhân mới đào tạo sau thơi gian quen việc cung sẽ dần
chuyển sang công ty khác.
Bên cạnh đó ngành đang có tình trạng thiếu nguồn lao động quản lý và
kĩ thuật, nghiệp vụ. Hầu hết, các cán bộ quản lý chủ chốt trong các doanh
nghiệp Dệt may đều có trinh đọ đại học hoặc cao đẳng, chuyên môn khá nh-
ng trình độ quản lý theo phong cánh công nghiệp còn yếu, tiếp cận với phơng
thức quản lý hiện đại còn ít. Cán bộ kĩ thuật chủ yếu trởng thành từ công
nhân bậc cao nên chỉ giỏi về chuyên môn của nhng sản phẩm cụ thể con nh
việc sáng tác mẫu, tạo dang sản phảm còn rất kém. Các doanh nghiệp rất cần
những kỹ s có bằng cấp, công nhân kĩ thuật và các nhà quản lý- những ngời
có khả năng nắm bắt công nghệ hiện đại. Có một thực tế là nhiều doanh
nghiệp bỏ ra một số tiền lớn để mua thiết bị và công nghệ hiện đại, giá cao để
chuẩn bị cho việc sản xuất các mặt hàng cao cấp, song ngời vận hành các
thiết bị này lại có trình độ chuyên môn thấp.
Nhìn chung tăng trởng nhanh trong khi những cán bộ kĩ thuật và quản lý
đợc đào tạo tại các trờng có xu hớng giảm dần nên dẫn đến tình trạng thiếu
đội ngũ công nhân lành nghề và cán bộ khoa học cho ngành Dệt may.
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
8
Đề án môn học
1.3.3. Yêu cầu về nguyên vật liệu.
Việc sản xuất nguyên liệu bông từ các nguồn trong nớc hiện đang thu
hút sự quan tâm đặc biệt. Hiện nay, Việt Nam chỉ có t5hể sản xuất hơn 3.000
tấn bông/năm, đáp ứng đợc 5% nhu càu của ngành Dệt trong nớc. Sợi tổng
hợp phải nhập khẩu hoàn toàn và sợi bong cho sản xuất hàng dệt kim cũng
phải nhập khẩu với số lợng lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá chất trong
nớc tơng đối phát triển nhng 100% hoá chất nhuộm và hơn 80%hoá chất
khác vẫn phải nhập khẩu. Nh vậy vấn đề nguyên liệu chính là vấn đề nan giải
cho ngành dệt. Cho đến nay mặc dù cây bông Việt Nam có những điều kiện
thuận lợi để phát triển nhng cơ chế và tổ chức thực hiện còn lúng tong. Có tới
95% nguyên liệu chính(bông) phải nhập khẩu với giá không ổn đinh. Hiện tại
các doanh nghiệp Dệt vẫn phải chạy theo thị trờng mua bông theo kiểu mớ
món, giá cả thất thờng làm cho sản xuất kinh doanh ở thế bị động và bất lợi.
Đầu ra của dệt chính là đầu vào cho may hay nói cách khác là sản phẩm
của ngành Dệt chính là nguyên liệu cho ngành May. Nhng nguyên vật liệu
trong nớc (ngành Dệt) cha đáp ứng đợc do chất lợng thấp, nên phải nhập do
đó rất bị động, thờng không đồng bộ. Các sản phẩm Dệt thờng không đạt tiêu
chuẩn về chất lợng và có tính chất đơn điệu. Vải sợi sản xuất trong nớc phần
lớn đợc sử dụng ở các doanh nghiệp địa phơng để sản xuất quần áo cho nông
thôn và vùng xa, chỉ thoả mãn một số nhu cầu của thành thị. Điều này chính
là nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà chế tạo may mạc và thời trang,
cũng nh các nhà thiết kế để nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn nguyên
liệu trong nớc.Trên 80% vải sẵn có trong nớc hiẹn nay đều phải nhập khẩu.
Thậm chí các doanh nghiêp may thuộc Tổng công ty Dệt may cũng hông sử
dụng vải do các công ty trong nớc sản xuất, có tới 90% nguyên vật liệu để
sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ nớc ngoài nên bị phụ thuộc
vào khách hàng bên ngoài. Vì vậy giá trị xuất khẩu của ngành may lớn nhng
nguyên liệu chính và phụ phần lớn phải nhập khẩu nên hiệu quả thấp.
1.3.4. Yêu cầu về công nghệ kỹ thuật.
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
9
Đề án môn học
Thiết bị công nghệ ngành Dệt may Việt Nam vừa lạc hậu vừa thiếu đồng
bộ, sản phẩm làm ra không có năng lựccạnh tranh. Theo chơng trình phát
triển Liên hợp quốc ngành Dệi may Việt Nam đang ở trình độ 2/7 của thế
giới, thiết bị máy móc lạc hậu 3-3 thế hệ. Điều này làm cho năng lực sản xuất
của ngành Dệt may còn nhiều hạn chế.
Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từ
nhiều nớc. Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên h
hang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lợng
sản phẩm thấp, giá thành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh
nghiệp đã sử dụng nguồn vốn tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm
thiết bị,góp phần năng cao chất lơng công nghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng
ngàn máy dệt không thoi, có thoi khổ rông đã đợc nhập về, nhiều bộ đồ mắc
mới , hiện đại đã đợc trang bị thay thế cho những thiết bị quá cũ. Tuy ngành
Dệt đã có nhiều cố gắng trong đầu t đổi mới công nghệ nhng cho đến nay
trình độ kỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực và thế giới.
Trong 5 năm gần đây, toàn ngành đã tranh bị thêm đợc gần 20.000 máy
may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao
động, áo phông các loại cải thiện một bớc chất lợng hàng may xuất khẩu và
nội địa. Ngành may liên tục đầu t mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp
ứng yêu cầu chất lợng của thị trờng thế giới.Các máy may đợc sử dụng hiện
nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút), có bơm dầu
tự động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Một số doanh nghiệp đã đầu t dây
chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặt hàng nh
đây chuyền may sơ của May 10, đây chuyền may quần đứng có thao tác bộ
phận tự động theo chơng trình, đây chuyền sản xuất quần Jean có hệ thống
máy giặt mài.
II. thực trạng và định hớng phát triển công
nghiệp dệt may Việt Nam
2.1. Quá trình phát triển của ngành dệt may Việt Nam.
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
10
Đề án môn học
2.1.1. Giai đoạn trớc năm 1990.
Quá trình phát triển của dệt may Việt Nam trớc năm 1990 đợc chia làm
hai giai đoạn.
Từ 1945- 1975: Giai đoạn vừa xây dựng, vừa chiến đấu và chi viện cho
tiền tuyến lớn.
Đợc sự quan tâm chăm lo phát triển của Đảng và nhà nớc, ngành dệt
may đã phát triển nhanh chóng. Lực lợng sản xuất tăng nhanh chóng với
nhiều nhà máy đợc xây dựng. Đội ngũ công nhân đông đảo hàng vạn ngời đã
hăng say lao động với tinh thần mỗi ngời làm việc bằng hai theo lời kêu
gọi của Bác Hồ kính yêu để tăng nhanh sản lợng hàng hoá nhằm đảm bảo cơ
bản về sợi, vải chăn, màn, bông băng y tế cho nhân dân và lực lợng vũ trang.
Với khảu hiệu Tất cả cho tiền tuyến- tất cả để đánh thắng giặc mỹ xâm lợc,
mặc dù cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt, nhng công
nhân quyết tâm bám ca, bám máy với tinh thần đội bom để sản xuất liên tục
hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc giao. Vì vậy ngành đã chi
viên đầy đủ ngời và của cho tiền tuyến vải không thiếu một mét, quân
không thiếu một ngời. Từ phong trào thi đua sản xuất và anh dũng chống
chiến tranh phá hoại thời kỳ này, nhiều công nhân ngành dệt may đã đợc
Đảng và nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều tổ đội
lao động xã hội chủ nghĩa.
Từ 1967- 1990: Thời kỳ xây dựng hoà bình và hợp tác toàn diện với các
nớc XHCN ngành dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về lực lợng
sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp dệt may ở phía Nam và
tiếp tục xây dựng nhiều nhà máy lớn trên cả nớc nh nhà máy sợi Hà Nội, Sợi
Vinh, Sợi Huế, Sợi Nha Trang, Dệt Kim Hoàng Thị Loan Trong kế hoạch 5
năm (1976- 1980, 1981- 1985và 1986- 1990), bằng nhiều phong trào thi đua
lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, ngành dệt may Việt
Nam đã hoàn thành xuất sắc trớc thời hạn các chỉ tiêu kế hoạch của nhà nớc
giao, đảm bảo các nguyên liệu cho sản xuất, vải, quần áo, chăn màn cho
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
11
Đề án môn học
tiêu dùng và đầu mối xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hoá theo nghị đinh th
hàng năm với các nớc xã hội chủ nghĩa, tạo việc làm và đổi về từ 55- 60 ngàn
tấn bông xơ mỗi năm từ Liên Xô.
Cho đến năm 1990, ngành đã có quy mô: về dệt có 129 DNNN, 1.979
HTX và hộ cá thể về may có 166 DNNN, 620 HTX và hộ cá thể. Năng lực
thiết bị có 860.000 cọc sợi và 2000 rô to, 43.000 máy dệt(kể cả khugn dệt thủ
công), 60.000 thiết bị và máy may. Đã xây dựng một viện công nghệ sợi dệt
và một trung tâm nghiên cứu may. Toàn nganh có trên 2.000 tiến sĩ, phó tiến
sĩ và kĩ s công nghệ dệt may.
Sản lợng thực hiện cuối năm 1990 đạt 50 ngàn tấn sợi và hơn 450 triệu
mét vải( khổ 0.80m), sản xuất 150 triệu sản phẩm may.
So với toàn ngành, Liên hiệp dệt, tổng công ty dệt và các xí nghiệp may
Việt Nam với 64 doanh nghiệp thành viên hoạt động trên phạm vi cả nớc giữ
vai trò chủ đạo, thể hiện trên các mặt sau:
- Về thiết bị kéo sợi chiếm 100%, hơn 11.000 máy dệt các loại sản
xuất trên 80% vải lụa thanh phẩm, hơn 60% thiết bị may, sản xuất trên 50
triệu sản phẩm.
- Kim ngạch xuất khẩu chiếm 100% (độc quyền nhà nớc).
- Bảo đảm 100% bông xơ và sợi cho toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp
dệt, may trong cả nớc.
2.1.2. Giai đoạn từ 1990 đến nay.
Từ 1991- 1999: Sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trờng theo đinh h-
ớng XHCN.
Tuy quy mô công suất thiết bị đã tăng lên nhanh chóng trong thời kì kế
hoạch hoá, nhng do mới chỉ mới làm ra đợc những sản phẩm chất lợng trung
bình và thấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trờng, ngành dệt may Việt Nam
đứng trớc những khó khăn hết sức gay gắt: Thiết bị công nghệ, sợi, nhuộm,
hoàn tất(khoảng 50%) cũ kĩ, lạc hậu, đã sử dụng 30- 40 năm (có nhà máy đã
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
12
Đề án môn học
sử dụng 50- 60 năm), may dệt đa phần khổ hẹp, tieu hao năng lợng và lao
động cao, thiếu vốn cho đầu t đổi mới công nghệ và thiếu kĩ năng quản trị
doanh nghiệp thị trờng. Nhng nhờ có đờng lối đúng đắn của Đảng và nhà n-
ớc, đợc sự phối hợp của các bộ ngành trong việc mở thị trờng mới, cùng với
tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công nhân, các doanh nghiệp
đã mạnh dạn đầu t nâng cấp thiết bị và đầu t công nghệ mới để sản xuất ra
những sản phẩm theo yêu cầu thị trờng. Bên cạnh đó với luật khuyến khích
đầu t nớc ngoài, các xí nghiệp liên doanh và 100% vốn nớc ngoài bắt đầu đầu
t vào lĩnh vực dệt may. Trong vòng 10 năm, có gần 170 dự án với số vốn
đăng kí hơn 1.600 triệu USD, đã góp phần làm cho ngành công nghiệp dệt
may Việt Nam có sự phát triển mới cả về quy mô và trình độ công nghệ, mẫu
mã hàng hoá và kim nghạch xuất khẩu. Vì vậy, đến cuối năm 1999, hơn 30%
thiết bị dệt và 95% thiết bị may đã đợc đầu t bằng thiết bị, công nghệ tiên
tiến. Công suất kéo sợi đạt 177 ngàn tấn, đã sản xuất gần 100 ngàn tấn, trong
đó có các loại sợi chỉ số cao cho hàng dệt kim đạt 34.000 tấn, khăn bông
10.000 tấn, mền chăn 1triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu m2, sản phẩm may
khoảng 250 triệu sản phẩm. Tổng số lao động sử dụng trên 1 triệu ngời, trong
đó số có trình độ kĩ s trở lên hơn 3000 ngời. Có 2 viện và một trung tâm
nghiên cứu, 4 trờng đào tạo trung học và công nhân lành nghề. Các trờng Đại
học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Kĩ thuật thành phố Hồ Chí Minh đều có
khoa đào tạo kĩ s công nghệ sợi, dệt, nhuôm.
Từ 1991- 1999 ngành dệt may Việt Nam đã có những biến đổi về chất
rất quan trọng, từ thiết bị công nghệ đến sản phẩm (nhất là công nghệ may và
sản phẩm may). Từ chỗ chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
trong nớc và thực hiện một phần theo nghị đinh th với Liên Xô và các nớc
XHCN Đông Âu, đầu vào đầu ra do nhà nớc quyết định, các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam đã thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối, tự chọn mua
nguyên phụ liệu, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tự định giá mua, giá
bán. Đến nay sản phẩm dệt may Việt Nam đã thoả mãn một phần nhu cầu
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
13
Đề án môn học
của ngời tiêu dùng trong nớc và có kim ngạch xuất khẩu lớn sang các thị tr-
ờng khó tính trên thế giới nh EU, Nhật Bản, Mĩ, Canada
Thời kì 1991- 1999 toàn ngành đạt tốc độ tăng trởng bình quân khoảng
10%/năm. Kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ hạng cao trong 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của cả nớc, chỉ sau dầu thô nhng dẫn đầu các ngành chê
biến xuất khẩu, đạt gần 1,7 tỉ USD (năm1999), trong đó hơn 60% sản phẩm
xuất khẩu sang thị trờng phi hạn ngạch, chiếm 14,6% kim ngạch xuất khẩu
cả nớc. Tạo việc làm cho gần 1 triệu lao động công nghiệp, cha kể số lao
động sản xuất nguyên liệu trồng bông, trồng đay, trồng dâu nuôi tằm.
Từ năm 2000- nay: Thực hiện chiến lợc tăng tốc phát triển dệt may Việt
Nam đến năm 2010. Tổng công ty dệt may Việt Nam đã xây dựng và đợc
chính phủ phê duyệt đề án chiến lợc tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt
Nam đến năm 2010. Đề án này đã đa ra những mục tiêu cho ngành đến năm
2010 và để thực hiện đợc ngành dệt may Việt Nam cần tập trung đầu t hiện
đại hoá cả chiều sâu lẫn chiều rộng để vừa nâng cao chất lợng sản phẩm, vừa
mở rộng sản xuất. Mũi nhọn đầu t là sản phẩm may chất lợng chất lợng cao
xuất khẩu và nguyên liệu cung ứng cho ngành may. Đồng thời cần củng cố
chất lợng sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị để tăng năng lực cạnh tranh
trên thị trờng.
2.2. Thực trạng phát triển của ngành dệt may Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Chiếm lĩnh thị trờng trong nớc và thế giới.
Vi kt qu ó t c nm 2007, ngnh Dt May phn u nm 2008
t ch tiêu xut khu l 9,5 t USD, vt qua du thô (d kin t 9 t
USD). Nh vy, xut khu hng dt may s v đích trc gn 2 nm so vi
k hoch t kim ngch xut khu 10 t USD vo nm 2010.
Mc tiêu xut khu hng dt may ti các th trng chính trong nm
2008 l M t 5,3 - 5,5 t USD, th trng EU t 1,6 - 1,8 t USD v th
trng Nht t khong 800 triu USD.
Phạm Quang Huy Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét