Vấn đề về vùng
Chương II: VÙNG KINH TẾ
2.1. Khái niệm vùng kinh tế
Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất nước
ra thành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc tiếp tục
điều chỉnh ranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng; định hướng chuyên
môn hoá sản xuất cho vùng và xác định cơ cấu kinh tế vùng ứng với các kế
hoạch phát triển dài hạn nền kinh tế quốc dân (15-20 năm). Trên cơ sở
phân vùng kinh tế, Nhà nước có kế hoạch tổ chức, lãnh đạo và quản lý kinh
tế theo vùng được sát đúng, cũng như để phân bố sản xuất được hợp lý,
nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí sản xuất thấp nhất.
Theo P.M. Alampiep thì: “ Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ toàn
vẹn của nền kinh tế quốc dân, có những ngành sản xuất chuyên môn hóa
và những mối liên hệ kinh tế nội bộ chặt chẽ, đồng thời luôn luôn gắn chặt
với những phần lãnh thổ khác của đất nước trên cơ sở phân công lao động
theo lãnh thổ”
Cũng theo P.M.Alampiep và Minh Chi khi bàn về những vấn đề
phân vùng kinh tế ở Miền Bắc Việt Nam, 1996, đã phát biểu rằng: “ Mỗi
vùng phải là một lãnh thổ đặc thù có khả năng hoàn chỉnh về mặt kinh tế.
Các đặc điểm tự nhiên, những di sản văn hóa trước đây và dân cư vốn có
kinh nghiệm sản xuất ở lãnh thổ đó phải làm cho nó trở thành một khâu
trong chiếc xích lớn của nền kinh tế quốc dân. Do đó phân vùng có thể tạo
ra khả năng liên kết mật thiết giữa tài nguyên thiên nhiên, kĩ năng của dân
cư, tinh hoa của nền văn hóa quá khứ, có khả năng thực hiện liên hợp sản
xuất hoàn thiện nhất, một mặt giữa các vùng với nhau, thực hành được sự
phân công hợp lí, mặt khác tổ chức mỗi vùng thành một hệ thống kinh tế
liên hợp lớn, nhờ đó mà đạt đến hiệu quả cao nhất”.
Nhóm 6 – Cao học k21
5
Vấn đề về vùng
Theo định nghĩa thì vùng kinh tế vừa chuyên môn hóa vừa phát
triển tổng hợp để trở thành một nền kinh tế hoàn chỉnh cân đối giữa nông
nghiệp và công nghiệp
Theo phân loại vùng kinh tế, vùng kinh tế gồm có vùng kinh tế
tổng hợp và vùng kinh tế ngành. Phân vùng kinh tế ngành là cơ sở để xây
dựng kế hoạch hoá theo ngành và quản lý kinh tế theo ngành, đồng thời còn
là cơ sở để qui hoạch vùng kinh tế tổng hợp theo từng ngành. Phân vùng
kinh tế tổng hợp dài hạn nền kinh tế quốc dân, hoàn thiện kế hoạch hoá
theo lãnh thổ để phân bố lại lực lượng sản xuất hợp lý hơn, đồng thời là cơ
sở để cải tạo mạng lưới địa giới hành chính theo nguyên tắc thống nhất sự
phân chia vùng hành chính và vùng kinh tế.
Hiện nay trong các tài liệu tồn tại một số quan điểm về vùng do cách
nhìn nhận khác nhau với mục đích và tiêu chí phân vùng không giống
nhau. Dù ở quy mô nào, lớn hay nhỏ vùng đều có điểm chung. Đó chính là
một lãnh thổ có ranh giới nhất định mà trong đó diễn ra các mói quan hệ
qua lại giữa các yếu tố tự nhiên và con người.
Như vậy, vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ giữa các bộ
phận hợp thành với các dạng liên hệ địa lý, kĩ thuật, kinh tế, xã hội bên
trong cũng như bên ngoài hệ thống.
Quy mô của vùng rất khác nhau. Sự tồn tại của nó là khách quan và
có tính lịch sử. Điều đó có nghĩa là quy mô và số lượng vùng có thể thay
đổi tùy theo các giai đoạn phát triển của đất nước. Vùng là sản phẩm nhận
thức của con người nhưng lại có tính khách quan. Vấn đề là ở chỗ nhận
thức của con người phải phù hợp với quy luật khách quan. Các tiêu chí và
phương pháp phân vùng do con người đưa ra phải phản ánh được thực tế
khách quan.
Vùng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Nó
là cơ sở để hoạch định, triển khai, quản lí các chiến lược cũng như các kế
Nhóm 6 – Cao học k21
6
Vấn đề về vùng
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và theo từng lãnh
thổ nói riêng.
Có nhiều loại vùng khác nhau. Mỗi loại được phân chia phụ thuộc
vào mục đích, hệ thống chỉ tiêu và phương pháp xác định vùng thích hợp.
Về đại thể có một số loại vùng chủ yếu sau:
- Với mục tiêu hoạch định chiến lược, xây dựng và quản lý các kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ, nhiều quốc gia trên thế giới
đã chia đất nước thành các vùng kinh tế (kinh tế - xã hội)
- Dựa vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật và yêu cầu phát triển
của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế, lãnh thổ quốc gia được phân chia
thành các vùng kinh tế ngành.
- Để phát triển kinh tế -xã hội có trọng điểm, tránh dàn trải nhất là
trong lĩnh vực đầu tư người ta lại chia thành các vùng kinh tế trọng điểm.
- Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội để làm cơ sở cho
việc quản lí, điều hành các quá trình phát triển theo lãnh thổ thì có các vùng
phát triển, vùng chậm phát triển, vùng suy thoái.
- Nhằm mục đích quản lí các hoạt động kinh tế - xã hội theo đơn vị
hành chính, đất nước được chia thành các tỉnh cùng với các đơn vị hành
chính cấp thấp hơn.
2.2. Những căn cứ để phân vùng kinh tế
Vùng kinh tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan nên khi
tiến hành phân vùng kinh tế, cần phải dựa trên những căn cứ khoa học sau:
- Phân vùng kinh tế phải dựa trên nhiệm vụ cơ bản về xây dựng và phát
triển nền kinh tế quốc dân của cả nước do Đảng và Nhà nước đề ra, thể
hiện cụ thể bằng những chỉ tiêu nhiệm vụ lớn và dài hạn.
- Phân vùng kinh tế phải dựa vào yếu tố tạo vùng:
Vùng kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở tác động tổng
hợp của các yếu tố. Những yếu tố tạo vùng quan trọng nhất là:
Nhóm 6 – Cao học k21
7
Vấn đề về vùng
+ Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ (đây là yếu tố tạo vùng cơ
bản nhất).
+ Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, sự phân bố của các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên khác (núi cao, sông rộng, sự
khác biệt của các miền tự nhiên…).
+ Yếu tố kinh tế: Các trung tâm công nghiệp, các thành phố lớn, các
đầu mối giao thông vận tải quan trọng, các cơ sở sản xuất nông – lâm - ngư
nghiệp rộng lớn.
+ Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Tiến bộ kỹ thuật trong điều tra cơ
bản, thăm dò địa chất, tìm kiếm tài nguyên, đổi mới qui trình công nghệ sản
xuất.
+ Yếu tố lịch sử - xã hội - quốc phòng: Dân cư và sự phân bố dân cư,
địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, nền văn hóa của các dân tộc và các
địa giới đã hình thành trong lịch sử, các cơ sở sản xuất cũ, tập quán sản
xuất cổ truyền, đặc điểm chính trị, quân sự và các quan hệ biên giới với các
nước.
- Phân vùng kinh tế phải dựa vào kết quả phân vùng địa lý tự nhiên
tổng hợp của đất nước.
2.3. Các nguyên tắc phân vùng kinh tế
Khi tiến hành phân vùng kinh tế cần phải tuân theo những nguyên tắc
sau:
- Phân vùng kinh tế phản ánh trung thực tính chất khách quan của sự
hình thành vùng kinh tế; đồng thời phải phục vụ những nhiệm vụ cơ bản về
xây dựng và phát triển kinh tế quốc dân của cả nước.
- Phân vùng kinh tế phải dự đoán và phác hoạ viễn cảnh tương lai của
vùng kinh tế, kết hợp tính viễn cảnh với tính lịch sử.
- Phân vùng kinh tế phải thể hiện rõ chức năng cơ bản của nó trong nền
kinh tế cả nước bằng sản xuất chuyên môn hoá.
Nhóm 6 – Cao học k21
8
Vấn đề về vùng
- Vùng kinh tế phải đảm bảo cho các mối liên hệ nội tại của vùng phát
sinh một cách hợp lý, để cho sự phát triển của vùng được nhịp nhàng cân
đối như một tổng thể thống nhất, có một tiềm lực kinh tế mạnh.
- Phân vùng kinh tế phải xoá bỏ những sự không thống nhất giữa phân
vùng kinh tế và phân chia địa giới hành chính.
- Phân vùng kinh tế phải bảo đảm quyền lợi của các dân tộc trong cộng
đồng quốc gia có nhiều dân tộc.
2.4. Các loại vùng kinh tế
Căn cứ vào qui mô, chức năng, mức độ phát triển chuyên môn hoá và
phát triển tổng hợp. Hệ thống các vùng kinh tế trong một nước được phân
loại như sau:
2.4.1. Vùng kinh tế (kinh tế - xã hội)
Vùng kinh tế - xã hội là loại vùng tương đối phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới. Đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu lĩnh vực này phải kể
đến các nhà địa lí Xô viết.
Vùng kinh tế là đơn vị lãnh thổ có vị trí và ranh giới xác định gồm
các yếu tố tự nhiên, dân cư, cơ sở vật chất kĩ thuật với các hoạt động kinh
tế - xã hội diễn ra dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và sự tồn
tại của các dòng vật chất trong phạm vi nội vùng và liên vùng. Nó có thể
được coi là một hệ thống kinh tế - xã hội theo lãnh thổ.
Vùng kinh tế là một thực thể khách quan. Vì vậy phương pháp luận
và phương pháp phân vùng cũng như việc xây dựng hệ thống phân vị, chỉ
tiêu phải có cơ sở khoa học và phản ánh được thực tế khách quan trong mỗi
giai đoạn phát triển của đất nước. Vùng kinh tế có tính lịch sử bởi vì vòng
đòi của mỗi phương án phân vùng cũng chỉ tồn tại trong khoảng 10 -15
năm do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành.
Quy mô của vùng rất khác nhau do sự khác biệt của các yếu tố tạo
vùng. Ở Liên Xô trước đây và cả ở nước ta (nửa đầu thập niên 80 của thế kỉ
Nhóm 6 – Cao học k21
9
Vấn đề về vùng
XX), vùng kinh tế được gọi là vùng kinh tế cơ bản và dưới vùng này là các
cấp phân vị thấp hơn. Giữa các quốc gia khác nhau các vùng có sự chênh
lệch rất lớn về diện tích lãnh thổ.
Khác với một số loại vùng, việc phân vùng kinh tế phải đảm bảo sao
cho mỗi một điểm lãnh thổ của đất nước đều phải nằm trong một vùng cụ
thể. Trình độ phát triển của vùng được thể hiện thông qua cơ cấu kinh tế.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt khái niệm vùng kinh tế là chuyên môn hóa và phát
triển tổng hợp. Chuyên môn hóa chính là đặc trưng của vùng nhằm sử dụng
có hiệu quả tính trội về nguồn lực để tạo ra các ngành chuyên môn hóa.
Còn việc phát triển tổng hợp với mục đích khai thác tối đa mọi nguồn lực
vốn có đẻ nền kinh tế của vùng có thể hoạt động bình thường.
Về mặt lãnh thổ, mỗi vùng đều có khu nhân với tư cách như là trung
tâm tạo vùng. Trung tâm càng lớn thì sức hút càng mạnh và phạm vi lãnh
thổ của vùng càng rộng.
Vùng kinh tế hình thành là do kết quả của quá trình phân công lao
động theo lãnh thổ. Nó được coi là công cụ không thể thiếu trong việc
hoạch định phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, là cơ sở để xây dựng,
triển khai, quản lí các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo
các vùng lãnh thổ.
2.4.1.1. Tính chất khách quan của vùng kinh tế
Khi LLSX XH phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của phân công
LĐXH. Phân công LĐXH được biểu hiện ở 2 hình thức cơ bản là phân
công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ. Phân công
lao động theo lãnh thổ dẫn tới hình thành các không gian kinh tế đặc thù -
Các vùng kinh tế.
Vùng kinh tế (cũng giống như bất kỳ thực thể kinh tế nào đó) hình
thành, hoạt động & phát triển đều có tính qui luật. Con người (có thể) &
Nhóm 6 – Cao học k21
10
Vấn đề về vùng
cần phải nhận thức được những qui luật vận động của nó, để trên cơ sở đó
mà cải tạo & xây dựng vùng phát triển một cách hướng đích.
Vùng là sản phẩm của quá trình phát triển phân công lao động theo
lãnh thổ, vùng kinh tế hình thành & hoạt động phù hợp với với những đặc
trưng cơ bản của một hình thái KT-XH nhất định. Nhưng cần hiểu rằng,
không phải ở mọi hình thái KT-XH trong lịch sử đều tồn tại vùng kinh tế.
Cụ thể:
- Thời kỳ trước Tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế tự nhiên là chủ yếu,
LLSX còn kém phát triển, PCLĐXH theo lãnh thổ còn thô sơ, chưa có
những tiền đề vật chất cần thiết cho việc hình thành vùng kinh tế.
- Đến thời kỳ TBCN, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mang
tính chất phổ biến. Thời kỳ công trường thủ công là thời kỳ bắt đầu phát
triển mạnh nền sản xuất hàng hóa, nhiều ngành mới xuất hiện, số lượng các
ngành riêng biệt & độc lập tăng lên, thị trường được mở rộng đã hình thành
các vùng SX CMH' thúc đẩy mạnh mẽ sự PCLĐ theo lãnh thổ. Công
trường thủ công không chỉ tạo ra từng khu vực rộng lớn mà còn CMH'
những khu vực đó nữa (sự phân công theo hàng hóa). Như vậy, đến thời kỳ
công trường thủ công thì vùng kinh tế mới được hình thành..Chủ nghĩa tư
bản càng phát triển càng thúc đẩy phân công lao động theo lãnh thổ phát
triển, mỗi vùng nhất định chuyên sản xuất một bộ phận của sản phẩm được
hình thành, và ta thấy "có mối quan hệ chặt chẽ giữa phân công (nói chung)
và phân công (khu vực); Tức là một khu vực nhất định chuyên chế tạo một
sản phẩm, đôi khi chuyên làm một loại sản phẩm, thậm chí làm một bộ phận
nào đó của sản phẩm". Chính PTSX Tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ tính chất
cô lập nền kinh tế tự nhiên của chế độ phong kiến, làm cho các mối liên hệ
kinh tế giữa các thị trường dân tộc phát triển, thúc đẩy nhanh chóng thị
trường thương mại quốc tế cùng với sự bành trướng của thị trường thế giới.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những mối liên hệ có ý nghĩa thế giới
Nhóm 6 – Cao học k21
11
Vấn đề về vùng
& tạo ra sự phân công lao động quốc tế rất nhiều vẻ, sự phân công lao động
quốc tế này cũng tác động mạnh đến sự phân công lao động theo lãnh thổ ở
trong từng khu vực và ở từng nước tư bản.
- Sang hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa, lực lượng sản xuất tiếp tục
được phát triển, phân công lao động (nói chung) & phân công lao động
theo lãnh thổ (nói riêng) càng trở nên sâu sắc. Vùng kinh tế được hình
thành nhưng khác tư bản chủ nghĩa ở chỗ là dựa trên cơ sở nhận thức tính
qui luật khách quan của sự hình thành & phát triển vùng kinh tế và trên cơ
sở vận dụng một cách sáng tạo các qui luật kinh tế vào hoàn cảnh cụ thể
của đất nước mình (Tư bản chủ nghĩa, vùng kinh tế được hình thành dưới
áp lực của tự do cạnh tranh & lợi nhuận). Nhà nước xã hội chủ nghĩa tác
động có ý thức vào quá trình hình thành & phát triển vùng kinh tế, phục vụ
cho các mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước; Nhà nước XHCN không
chỉ có khả năng xây dựng những vùng kinh tế mới, mà còn có khả năng cải
tạo những vùng kinh tế cũ một cách khoa học phù hợp với chiến lược phát
triển quốc gia.
2.4.1.2. Các yếu tố tạo vùng kinh tế.
• Phân công lao động theo lãnh thổ (PCLĐ): Phân công lao động
theo lãnh thổ vừa là cơ sở - vừa là động lực của sự hình thành vùng kinh tế.
Phân công lao động theo lãnh thổ được biểu hiện bằng sự tập trung các loại
sản xuất riêng biệt trên một lãnh thổ nhất định; bằng việc CMH' sản xuất
của dân cư dựa vào những điều kiện & đặc điểm sản xuất đặc thù của lãnh
thổ đó; Mỗi phạm vi lãnh thổ có chức năng sản xuất đặc thù - đó là một
vùng kinh tế; Các vùng kinh tế thông qua mối liên hệ kinh tế - liên kết với
nhau trong một hệ thống phân công lao động theo lãnh thổ thống nhất. Như
vậy, vùng kinh tế là sự biểu hiện cụ thể của phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ & sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ là yếu tố tạo vùng
cơ bản nhất.
Nhóm 6 – Cao học k21
12
Vấn đề về vùng
• Yếu tố tự nhiên: Môi trường tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
- thường xuyên - vĩnh viễn tới quá trình phát triển & phân bố sản xuất; từ
đó ảnh hưởng tới phương hướng - qui mô và cơ cấu sản xuất của vùng kinh
tế. Những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng quan trọng nhất là:
- Nguồn tài nguyên khoáng sản & năng lượng. Mỗi loại tài nguyên
khoáng sản có thể đóng nhiều vai trò khác nhau & có tác động đến sự hình
thành & phát triển vùng kinh tế về nhiều mặt. (Ví dụ, than đá, dầu mỏ, khí
tự nhiên, . vừa là nhiên liệu, nhưng nó cũng là nguồn nguyên liệu để sản
xuất ra hàng trăm loại sản phẩm hóa chất khác nhau). Ảnh hưởng của tài
nguyên khoáng sản đối với việc hình thành vùng kinh tế ở các mặt trữ
lượng, chất lượng, sự phân bố, điều kiện khai thác, mức độ sử dụng . Việc
đánh giá sự ảnh hưởng của nó cần xem xét dưới góc độ tổng hợp, tìm ra
ảnh hưởng "trội" để có thể xác định khả năng CMH' sản xuất của vùng.
Các nguồn tài nguyên rừng, hải sản & nông sản cũng ảnh hưởng quan trọng
đến sự hình thành & phát triển vùng kinh tế. Cụ thể, các vùng rừng có trữ
lượng gỗ lớn có khả năng hình thành & phát triển các ngành sản xuất CMH'
gắn với tài nguyên rừng. Các nguồn cá biển, cá nước ngọt, các đặc hải sản
cho phép hình thành các vùng CMH' về CB' - khai thác - nuôi trồng các
loại thủy sản đặc biệt (tôm, cua, bào ngư, trai ngọc,.v.v.).
- Đất đai. Vùng kinh tế là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; Khái
niệm vùng gắn liền với khái niệm phạm vi nhất định của diện tích đất đai;
Đất đai là TLSX cơ bản trong nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp & hình thành các vùng chuyên canh; Yếu tố tạo vùng
quan trọng của đất đai là thổ nhưỡng, vì vậy cần đánh giá ý nghĩa kinh tế
của thổ nhưỡng để tạo ra các vùng chuyên canh phù hợp; Tác dụng tạo
vùng của thổ nhưỡng thể hiện ở chất đất, ở tính chất liền dải đối với việc
phát triển một loại cây trồng nào đó. Như vậy khi xem xét yếu tố tạo vùng
Nhóm 6 – Cao học k21
13
Vấn đề về vùng
của đất đai, cần xem xét cả 2 mặt (thổ nhưỡng & diện tích), ngoài ra còn
xem xét thêm về địa hình, khả năng tưới tiêu
- Khí hậu. Để tạo vùng, thì khí hậu đóng vai trò quan trọng. Ảnh
hưởng của khí hậu đối với SXNN là việc bố trí các loại cây trồng - giống
vật nuôi phù hợp. Khí hậu - thổ nhưỡng là những yếu tố trội tác động mạnh
mẽ đến việc hình thành các vùng CMH' sản xuất nông nghiệp. Nước ta, do
vị trí & hình dáng lãnh thổ kéo dài theo nhiều vĩ độ, nằm trong vùng nhiệt
đới - gió mùa, địa hình phân hóa đa dạng. Vì vậy, ng/cứu về đất đai & khí
hậu cần được đặc biệt chú ý trong quá trình hình thành vùng kinh tế.
• Yếu tố kinh tế:
- Trung tâm công nghiệp (TTCN), thành phố lớn. Thông thường, các
thành phố lớn hay TTCN đều tạo ra quanh mình một vùng ảnh hưởng,
trong đó mọi sinh hoạt kinh tế đều do thành phố, TTCN chi phối. Vì vậy,
khi nghiên cứu vùng kinh tế phải xuất phát từ thành phố & TTCN lớn để
xác định phạm vi ảnh hưởng không gian của chúng; Tùy theo qui mô và
loại hình thành phố & TTCN mà phạm vi ảnh hưởng khác nhau, những
thành phố & TTCN lớn thường là hạt nhân của vùng kinh tế.
- Các cơ sở sản xuất nông - lâm - ngư quan trọng (SX N - L - N). Các
cơ sở SX N-L-N thường sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, khối lượng sản
phẩm lớn và có mối quan hệ (cả bên trong & bên ngoài) phức tạp đều có
tác dụng tạo vùng. Ví dụ, hệ thống các nông trường có qui mô hoạt động
rộng lớn, có thể phát triển nhiều ngành CMH', tạo ra một phạm vi ảnh
hưởng xung quanh mình. Các vùng CMH' về cây công nghiệp, hay vùng
chuyên canh lúa đều là những hạt nhân tạo vùng.
- Quan hệ kinh tế đối ngoại. Việc mở rộng quan hệ kinh tế - thương
mại với nước ngoài, hay nói một cách khác là việc đẩy mạnh xuất - nhập
khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành, qui mô & mức độ CMH' của
các vùng kinh tế. Ví dụ, điều kiện khí hậu của nước ta thuận lợi cho phát
Nhóm 6 – Cao học k21
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét