- Đối với lĩnh vực chi sự nghiệp bảo vệ môi trường: Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh căn cứ dự toán Bộ trưởng Bộ Tài chính giao, chế độ chính sách, khối lượng
nhiệm vụ phải thực hiện, căn cứ vào thực tế của địa phương, trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp quyết định. Trong đó, tập trung bố trí kinh phí để xử lý rác
thải y tế, vệ sinh môi trường trong các trường học, bãi xử lý rác thải, mua sắm
phương tiện phục vụ cho thu gom rác thải, xử lý các điểm nóng về môi trường.
- Căn cứ dự toán ngân sách giao năm 2012, các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương bố trí kinh phí để thực hiện các chính sách, chế độ Trung ương ban
hành đến thời điểm giao dự toán ngân sách năm 2012 để các đối tượng hưởng
chính sách được nhận tiền hỗ trợ ngay từ những tháng đầu năm 2012.
3. Phân bổ, giao dự toán chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu để thực hiện các
chương trình, dự án, nhiệm vụ năm 2012:
a) Căn cứ dự toán chi thực hiện chương trình, dự án quan trọng và một số
nhiệm vụ khác Thủ tướng Chính phủ đã giao, các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện phân bổ, giao
dự toán cho các đơn vị trực thuộc, chính quyền cấp dưới đảm bảo đúng mục
tiêu, nội dung của từng chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền giao.
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lồng ghép các nguồn vốn
chương trình mục tiêu trên địa bàn theo chế độ quy định để thực hiện có hiệu
quả; ngoài nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương, các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chủ động bố trí ngân sách địa phương theo
cam kết và các nguồn tài chính hợp pháp để thực hiện.
b) Triển khai dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012:
Trên cơ sở danh mục các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia được
Thủ tướng Chính phủ quyết định thực hiện trong năm 2012, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Tài chính sẽ thông báo mức kinh phí cho các chương trình. Các Bộ,
cơ quan quản lý các chương trình xây dựng tiêu chí định mức và phương án
phân bổ kinh phí thực hiện chương trình gửi Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài
chính thẩm định và tổng hợp trình Chính phủ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội có ý kiến trước khi thực hiện và thông báo cho các Bộ, cơ quan trung ương
và các địa phương.
Sau khi nhận được thông báo kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia, các Bộ, cơ quan Trung ương phân bổ dự toán chi chương trình cho các
đơn vị trực thuộc; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
xây dựng phương án phân bổ dự toán chi các chương trình báo cáo Thường trực
Hội đồng nhân dân cùng cấp có ý kiến trước khi thực hiện và báo cáo Hội đồng
nhân dân trong kỳ họp gần nhất.
4. Phân bổ và giao dự toán vốn vay, viện trợ từ nguồn vốn ngoài nước:
Các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương phải phân bổ chi tiết cho từng
đơn vị sử dụng và đảm bảo khớp đúng với tổng mức dự toán đã được Thủ tướng
Chính phủ giao.
5. Bố trí dự phòng ngân sách các cấp chính quyền địa phương theo quy
định của Luật Ngân sách nhà nước và không thấp hơn mức dự phòng đã được
5
Thủ tướng Chính phủ giao để chủ động thực hiện phòng chống, khắc phục hậu
quả thiên tai, dịch bệnh theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
6. Trong quá trình quyết định phân bổ dự toán thu, chi ngân sách, trường
hợp Hội đồng nhân dân quyết định dự toán thu ngân sách cấp mình được hưởng
theo chế độ quy định cao hơn mức cấp trên giao, thì dự toán chi bố trí tăng thêm
tương ứng (không kể tăng chi từ nguồn thu tiền sử dụng đất), sau khi dành 50%
thực hiện cải cách tiền lương, phần còn lại cần ưu tiên để thực hiện những nhiệm
vụ, chế độ, chính sách quan trọng được cấp có thẩm quyền quyết định, xử lý
thanh toán nợ khối lượng xây dựng cơ bản theo chế độ quy định, bổ sung dự
phòng ngân sách địa phương, tăng dự trữ để chủ động trong quá trình điều hành
ngân sách.
7. Các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương giao kế hoạch vốn đầu
tư cho các chủ đầu tư chi tiết đến Loại, Khoản của Mục lục Ngân sách nhà nước
và mã số dự án theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 và văn
bản bổ sung của Bộ Tài chính.
Đơn vị dự toán cấp I lập phương án phân bổ chi thường xuyên giao cho
đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, chi tiết đến Loại, Khoản và mã số Chương
trình mục tiêu quốc gia ban hành theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày
02/6/2008 và văn bản bổ sung của Bộ Tài chính; trong đó giao cụ thể nguồn tiết
kiệm 10% (nếu có) theo quy định để thực hiện cải cách tiền lương.
Riêng đối với cơ quan nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ, việc phân bổ và giao dự toán
chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi ngân sách nhà nước giao thực hiện chế độ
tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phần dự toán chi ngân sách nhà nước giao không
thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm về
tài chính theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của
Chính phủ, việc phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước căn cứ vào
nhiệm vụ được giao, phân loại đơn vị sự nghiệp, dự toán kinh phí ngân sách nhà
nước bảo đảm hoạt động thường xuyên năm đầu thời kỳ ổn định được cấp có
thẩm quyền phê duyệt (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí
hoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí
hoạt động); dự toán chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi ngân sách nhà nước
bảo đảm hoạt động thường xuyên, phần dự toán chi hoạt động không thường
xuyên.
Đối với các đề tài, dự án khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 và Nghị định
96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định 115/2005/NĐ-CP, việc phân bổ và giao dự toán chi tiết theo 3
phần: kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ, kinh phí hoạt động
thường xuyên, kinh phí không thường xuyên. Khi thực hiện giao dự toán kinh
phí thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ cho các đơn vị sử dụng ngân sách,
các Bộ, cơ quan Trung ương giao chi tiết theo đề tài, kinh phí được giao khoán,
6
kinh phí không được giao khoán theo quy định tại Thông tư liên tịch số
93/2006/TTLT/BTC-KHCN ngày 4/10/2006 của Liên Bộ Tài chính - Khoa học
và công nghệ hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và
công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
Tiếp tục cấp kinh phí hoạt động thường xuyên năm 2012 từ ngân sách Nhà
nước theo phương thức và định mức như năm 2011 cho các tổ chức nghiên cứu
khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ
khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày
05/9/2009 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày
20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
115/2005/NĐ-CP. Trường hợp các tổ chức khoa học công nghệ đã có quyết định
phê duyệt của cấp có thẩm quyền chuyển đổi hoạt động sang hình thức tự trang
trải kinh phí hoạt động thường xuyên thì thực hiện tự trang trải kinh phí hoạt
động thường xuyên theo quyết định đã được phê duyệt.
8. Trường hợp các huyện, quận, phường thực hiện thí điểm không tổ chức
Hội đồng nhân dân, việc quyết định phân bổ và giao dự toán thực hiện theo
hướng dẫn tại Thông tư số 63/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính
quy định về công tác lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán ngân
sách huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.
9. Năm 2012, ngành tài chính triển khai mở rộng ứng dụng hệ thống thông
tin quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS); do vậy, ngoài các nội dung phân
bổ, giao dự toán hướng dẫn tại Thông tư này, các Bộ, cơ quan Trung ương và
các địa phương tham gia TABMIS có trách nhiệm thực hiện đúng quy định tại
Thông tư số 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính và văn bản
số 3528/BTC-NSNN ngày 23/3/2010 của Bộ Tài chính.
Điều 4. Thực hiện cơ chế tài chính tạo nguồn để thực hiện chế độ tiền
lương, trợ cấp trong năm 2012 theo các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định
của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ:
1. Các Bộ, cơ quan Trung ương khi phân bổ và giao dự toán ngân sách cho
các đơn vị trực thuộc; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương khi phân bổ và giao dự toán ngân sách cho ngân sách cấp dưới phải xác
định dành tiết kiệm 10% chi thường xuyên năm 2012 (không kể các khoản chi
tiền lương, có tính chất lương theo mức lương tối thiểu 830.000 đồng/tháng)
đảm bảo không thấp hơn mức Bộ Tài chính đã hướng dẫn; Ủy ban nhân dân các
cấp địa phương khi phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc không
bao gồm 10% tiết kiệm chi thường xuyên năm 2012 (không kể các đơn vị sự
nghiệp công lập thực hiện cơ chế tài chính theo quy định tại Nghị định số
43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày
05/9/2005, Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP và cơ quan Nhà nước thực
hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý
hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính
phủ), để thực hiện chế độ cải cách tiền lương trong năm 2012.
7
2. Các Bộ, cơ quan Trung ương hướng dẫn các đơn vị trực thuộc dành 40%
số thu được để lại theo chế độ năm 2012 (riêng ngành y tế 35%, sau khi trừ chi
phí thuốc, máu, dịch truyền, hoá chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao) để thực
hiện chế độ cải cách tiền lương trong năm 2012; trong đó chú ý một số khoản
thu sau:
- Đối với học phí học sinh chính quy học các trường công lập: 40% số thu
để thực hiện chế độ cải cách tiền lương được tính trên toàn bộ số thu học phí của
học sinh.
- Đối với học phí từ các hoạt động đào tạo tại chức, liên doanh liên kết, các
hoạt động đào tạo khác của các trường công lập: 40% số thu để thực hiện cải
cách tiền lương được tính trên toàn bộ số thu học phí từ các hoạt động trên sau
khi loại trừ các chi phí liên quan.
- Đối với số thu dịch vụ, các hoạt động liên doanh liên kết và các khoản thu
khác của đơn vị sự nghiệp (ngoài khoản thu theo Pháp lệnh phí và lệ phí): 40%
số thu để thực hiện cải cách tiền lương được tính trên toàn bộ số thu của các
hoạt động trên sau khi trừ các chi phí liên quan.
3. Các địa phương phải sử dụng:
+ 50% tăng thu ngân sách địa phương (không kể số tăng thu từ nguồn thu
tiền sử dụng đất) thực hiện năm 2011 so với dự toán năm 2011 được Thủ tướng
Chính phủ giao (đối với nguồn tăng thu này, trường hợp địa phương khó khăn,
tỷ lệ tự cân đối chi từ nguồn thu của địa phương thấp, số tăng thu năm 2011 so
với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao nhỏ và đối với các địa phương khi
thực hiện cải cách tiền lương có khó khăn về nguồn do không điều hoà được
tăng thu giữa các cấp ngân sách của địa phương, Bộ Tài chính sẽ xem xét cụ thể
để xác định số tăng thu đưa vào nguồn thực hiện cải cách tiền lương trong năm
2012; đồng thời tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện);
+ 50% tăng thu ngân sách địa phương (không kể tăng thu từ nguồn thu tiền
sử dụng đất) dự toán năm 2012 so dự toán năm 2011 được Thủ tướng Chính phủ
giao;
+ Nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2011 chưa sử dụng chuyển
sang;
+ 10% tiết kiệm chi thường xuyên (không kể tiền lương, có tính chất
lương) dự toán năm 2011 đã được cấp có thẩm quyền giao.
+ 10% tiết kiệm dự toán chi thường xuyên (không kể tiền lương, có tính
chất lương) dự toán chi năm 2012 tăng thêm so dự toán chi năm 2011 và số còn
dư (nếu có) sau khi đảm bảo nhu cầu kinh phí thực hiện cải cách tiền lương đến
mức lương tối thiểu 830.000 đồng/tháng.
+ 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2012 (riêng ngành y tế 35%, sau
khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao).
Số thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
không được trừ chi phí trực tiếp phục vụ cho công tác thu trong trường hợp số
thu này là thu từ các công việc, dịch vụ do Nhà nước đầu tư hoặc từ các công
việc, dịch vụ thuộc đặc quyền của Nhà nước và đã được ngân sách nhà nước
8
đảm bảo chi phí cho hoạt động thu như: số thu học phí để lại cho trường công
lập; số thu viện phí để lại cho bệnh viện công lập sau khi trừ chi phí thuốc, máu
dịch truyền, hóa chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao, Số thu được để lại theo
chế độ được trừ chi phí trực tiếp phục vụ cho công tác thu trong trường hợp số
thu này là thu từ các công việc, dịch vụ do Nhà nước đầu tư hoặc từ các công
việc, dịch vụ thuộc đặc quyền của Nhà nước, nhưng chưa được ngân sách nhà
nước đảm bảo chi phí hoạt động thu.
+ Số đã bố trí (nếu có) hỗ trợ từ ngân sách trung ương trong dự toán năm
2012 để thực hiện cải cách tiền lương đến mức lương tối thiểu 830.000
đồng/tháng.
4. Các Bộ, cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương sau khi thực hiện các biện pháp tạo nguồn như trên mà
không đủ nguồn thì ngân sách trung ương hỗ trợ để đảm bảo nguồn thực hiện.
Trường hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nguồn còn dư lớn
sau khi đảm bảo được nhu cầu kinh phí cải cách tiền lương theo lộ trình, có báo
cáo Bộ Tài chính xem xét giải quyết theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1,
Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 03/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 5. Thời gian phân bổ, giao dự toán:
1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về
giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định
dự toán thu, chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh và
mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới trước ngày
10/12/2011. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh về giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
quyết định dự toán thu, chi ngân sách huyện trước ngày 20/12/2011. Uỷ ban
nhân dân cấp xã căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp huyện về giao
nhiệm vụ thu, chi ngân sách trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự
toán thu, chi ngân sách và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp xã trước
ngày 31/12/2011 và thực hiện phân bổ dự toán chi thường xuyên theo từng Loại,
Khoản của Mục lục ngân sách nhà nước ban hành theo Quyết định số
33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và văn bản của
Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Quyết định này; đồng thời gửi Kho bạc nhà nước
nơi giao dịch (một bản) làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi.
Căn cứ dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, các Bộ, cơ
quan Trung ương (đối với ngân sách trung ương) quyết định phân bổ, giao dự
toán ngân sách đến từng đơn vị sử dụng ngân sách; Uỷ ban nhân dân các cấp
(đối với ngân sách địa phương) trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự
toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán chi ngân sách địa phương,
quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình đảm bảo giao dự toán thu, chi
ngân sách năm 2012 đến từng đơn vị sử dụng ngân sách trước ngày 31/12/2011
và tổ chức việc công khai dự toán ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách
nhà nước.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo kết quả phân bổ, giao dự
toán ngân sách địa phương về Bộ Tài chính chậm nhất là 05 ngày sau khi Hội
9
đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách theo đúng quy định tại
Điều 40 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và Điểm 5.3 Mục 5
Phần III Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính; báo
cáo mức huy động vốn năm 2012 theo Khoản 3 Điều 8 Luật Ngân sách nhà
nước, dư nợ vốn huy động của ngân sách địa phương đến 31/12/2011 về Bộ Tài
chính trước ngày 31/01/2012; báo cáo thu, chi và số dư Quỹ Dự trữ tài chính
theo quy định tại Điểm 19.3 Mục 19 Phần IV Thông tư số 59/2003/TT-BTC
ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính.
2. Căn cứ dự toán thu, chi ngân sách năm 2012 được Thủ tướng Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân giao, đơn vị dự toán cấp I của ngân sách trung ương và các cấp
ngân sách địa phương thực hiện phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách cho
các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo đúng quy định tại Nghị định
60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Luật Ngân sách nhà nước, Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày
23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP và
hướng dẫn bổ sung tại Thông tư này (báo cáo cơ quan tài chính theo mẫu số 1a,
1b và 1c đính kèm Thông tư này). Trong đó lưu ý một số điểm sau:
a) Trong phạm vi 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phương án phân
bổ dự toán ngân sách, cơ quan tài chính phải có văn bản thông báo kết quả thẩm
tra. Nếu quá 07 ngày làm việc mà cơ quan tài chính chưa có ý kiến coi như đồng
ý với phương án phân bổ của cơ quan, đơn vị đã gửi cơ quan tài chính. Trường
hợp cơ quan tài chính nhất trí với phương án phân bổ thì thủ trưởng cơ quan,
đơn vị phân bổ ngân sách giao ngay dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách
trực thuộc, đồng gửi cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước cùng cấp (theo các
mẫu số 2a, 2b và 2c đính kèm Thông tư này) và Kho bạc nhà nước nơi giao dịch
(gửi thông qua đơn vị sử dụng ngân sách bản chi tiết đối với đơn vị). Trường
hợp cơ quan tài chính đề nghị điều chỉnh thì trong phạm vi 03 ngày làm việc kể
từ khi nhận được văn bản của cơ quan tài chính, cơ quan, đơn vị phân bổ tiếp
thu, điều chỉnh và gửi lại cơ quan tài chính để thống nhất; trường hợp không
thống nhất nội dung điều chỉnh, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định
theo quy định tại Điểm 1.5, Mục 1, Phần IV, Thông tư số 59/2003/TT-BTC
ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính.
b) Trường hợp sau ngày 31/12/2011, vì khó khăn, vướng mắc mà đơn vị dự
toán cấp I chưa phân bổ xong dự toán được giao, đơn vị phải báo cáo với cơ
quan tài chính cùng cấp để xem xét, cho phép kéo dài thời gian phân bổ dự toán.
Đối với các nguyên nhân do chủ quan của đơn vị, thời gian phân bổ dự toán kéo
dài chậm nhất đến ngày 31/01/2012; quá thời hạn này, cơ quan tài chính tổng
hợp báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh giảm dự toán chi của đơn vị để điều
chuyển cho cơ quan, đơn vị khác, hoặc bổ sung vào dự phòng ngân sách theo
quy định của Chính phủ. Đối với các nguyên nhân do khách quan, vượt quá
thẩm quyền của đơn vị như chưa có phê duyệt của cấp có thẩm quyền về tổ chức
bộ máy, cơ chế thực hiện nhiệm vụ , đơn vị dự toán cấp I phải dự kiến thời hạn
hoàn thành để cơ quan tài chính cho kéo dài thời gian phân bổ, song chậm nhất
không quá ngày 31/3/2012; quá thời hạn này, dự toán còn lại chưa phân bổ sẽ xử
lý tương tự như đối với các nguyên nhân chủ quan nêu trên.
10
c) Khi phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự
toán cấp I phải chú ý phân bổ để hoàn trả các khoản đã được tạm ứng, tạm cấp,
các khoản phải thu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp đơn
vị không phân bổ dự toán cho các khoản phải thu hồi này, cơ quan tài chính có
văn bản thông báo cho các cơ quan, đơn vị để phân bổ lại, đồng thời thông báo
cho cơ quan Kho bạc nhà nước cùng cấp để tạm thời chưa cấp kinh phí cho đến
khi nhận được bản phân bổ theo đúng quy định trên.
d) Trường hợp trong tháng 01/2012 đơn vị sử dụng ngân sách chưa được
cấp có thẩm quyền quyết định giao dự toán, cơ quan tài chính và Kho bạc nhà
nước tạm cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chi cho các đơn vị sử dụng ngân
sách trực thuộc theo quy định tại Điều 45 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày
06/6/2003 của Chính phủ. Sau ngày 31/01/2012, cơ quan tài chính và Kho bạc
nhà nước dừng tạm cấp kinh phí cho các đơn vị sử dụng ngân sách (trừ trường
hợp đặc biệt phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài chính đồng cấp).
II. TỔ CHỨC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
Điều 6. Tổ chức quản lý thu ngân sách:
1. Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan liên
quan có trách nhiệm:
- Tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm công tác thu ngân sách,
đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức triển khai thực hiện tốt có hiệu quả Luật thuế bảo vệ môi trường,
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và các cơ chế, chính sách tài chính, thuế
có hiệu lực thi hành từ năm 2012.
- Tiếp tục thực hiện việc thu phí, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật,
các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày
01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện
các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các
khoản đóng góp của nhân dân. Để các đơn vị có nguồn kinh phí thực hiện các
nhiệm vụ được giao khi thực hiện miễn thu các loại phí, lệ phí theo Chỉ thị
24/2007/CT-TTg, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
báo cáo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp chủ động bố trí kinh phí hỗ trợ cho các
đơn vị từ nguồn ngân sách địa phương.
- Tổ chức thực hiện nghiêm các chính sách tài khóa và các kết luận, kiến
nghị của Cơ quan Kiểm toán, Thanh tra.
2. Cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc
khai báo tên hàng, mã hàng, thuế suất, kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân;
phát hiện kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải
nộp để có các biện pháp chấn chỉnh. Tổ chức thu kịp thời các khoản nợ thuế có
khả năng thu của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan chức năng để thực hiện có hiệu quả biện pháp cưỡng chế nợ
thuế; tổng hợp báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý dứt điểm các khoản nợ thuế
không có khả năng thu. Đẩy mạnh thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế, trong đó
đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp đầu tư
11
mới ngay năm đầu và năm thứ hai đã phát sinh lỗ hoặc có phát sinh hoàn thuế,
doanh nghiệp lỗ nhiều năm và lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu; các doanh nghiệp có
dấu hiệu chuyển giá; các lĩnh vực ngân hàng, dự án đất đai, kinh doanh bất động
sản, kinh doanh dược phẩm, và việc thực hiện miễn, giảm, gia hạn nộp thuế,
hoàn thuế để truy thu đầy đủ vào NSNN các khoản tiền thuế bị gian lận.
Đẩy mạnh việc rà soát, cải cách các thủ tục hành chính thuế theo Đề án 30
của Chính phủ để phát hiện, loại bỏ hoặc kiến nghị loại bỏ những thủ tục hành
chính không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế. Nâng
cao chất lượng hoạt động của bộ phận “một cửa” để giải quyết các thủ tục hành
chính thuế.
3. Các Bộ, cơ quan Trung ương, các địa phương quan tâm chỉ đạo công tác
quản lý tài sản công, quản lý sử dụng đất đai từ khâu quy hoạch sử dụng đất, lập
hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, chuyển nhượng đất đai để
quản lý và thu ngân sách đầy đủ, kịp thời theo đúng chế độ quy định, nhất là các
khoản thu từ đấu giá quyền sử dụng đất đảm bảo tránh thất thoát, lãng phí tài sản
công. Đẩy mạnh việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước theo
Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 và Quyết định số
140/2008/QĐ-TTg ngày 21/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 7. Tổ chức điều hành dự toán ngân sách nhà nước:
Các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị sử dụng ngân sách thực
hiện trong phạm vi dự toán ngân sách được giao; cơ quan tài chính, Kho bạc nhà
nước tổ chức điều hành ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt, thực hiện
kiểm soát chi chặt chẽ đảm bảo theo đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế
độ nhà nước quy định. Trong đó lưu ý:
1. Các khoản chi từ nguồn vốn vay và viện trợ thực hiện việc giải ngân,
kiểm soát chi theo nguyên tắc:
- Đối với dự toán chi từ nguồn vốn vay, viện trợ bằng tiền: Thực hiện đúng
dự toán được giao và cơ chế thực hiện như nguồn vốn trong nước (trừ trường
hợp hiệp định có quy định khác thì thực hiện theo hiệp định).
- Đối với dự toán chi từ nguồn vốn vay, viện trợ theo phương thức ghi thu,
ghi chi ngân sách nhà nước: Thực hiện theo tiến độ giải ngân thực tế của từng
dự án.
2. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp với cơ quan tài chính
chủ động bố trí vốn ngay từ đầu năm cho các dự án công trình quan trọng theo
chế độ quy định, nhất là xây dựng tu bổ các công trình đê điều, thuỷ lợi, phòng
chống thiên tai, dịch bệnh, khắc phục hậu quả lũ lụt, dự án di dân ra khỏi vùng
sạt lở nguy hiểm theo dự án được cấp có thẩm quyền quyết định.
3. Thực hiện việc ứng trước dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản của năm
sau phải đảm bảo theo đúng quy định Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011
của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn
trái phiếu Chính phủ.
4. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các dự án,
công trình; đối với những dự án, công trình thực hiện không đúng tiến độ phải
12
kịp thời quyết định hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh
để chuyển vốn cho những dự án có tiến độ triển khai nhanh, có khả năng hoàn
thành nhưng chưa được bố trí đủ vốn.
5. Trong dự toán chi thường xuyên năm 2012 giao cho các Bộ, cơ quan
Trung ương; Bộ Tài chính thông báo rõ các khoản chi bằng ngoại tệ để các đơn
vị chủ động thực hiện. Đối với kinh phí tương đương từ 500.000 USD/năm trở
lên thì được đảm bảo chi bằng ngoại tệ theo dự toán đã giao, quá trình thực hiện
Kho bạc nhà nước vẫn kiểm soát theo dự toán chi bằng nội tệ đã giao cho đơn
vị, trường hợp do biến động tăng tỷ giá dẫn đến dự toán chi bằng nội tệ đã hết
nhưng dự toán chi bằng ngoại tệ vẫn còn thì đơn vị thông báo cho Bộ Tài chính
để kịp thời xử lý bổ sung kinh phí bằng nội tệ; trường hợp số kinh phí nhỏ hơn
500.000 USD/năm thì các Bộ, cơ quan Trung ương được rút dự toán bằng ngoại
tệ theo tỷ giá hạch toán tại thời điểm giao dịch, nhưng không vượt quá dự toán
giao bằng nội tệ.
6. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu có nhu cầu chi
đột xuất phát sinh ngoài dự toán nhưng không thể trì hoãn được mà dự phòng
ngân sách không đủ đáp ứng, thì phải sắp xếp lại các khoản chi trong dự toán
được giao, hoặc sử dụng Quỹ Dự trữ tài chính để đáp ứng nhu cầu chi đột xuất
đó. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng Quỹ Dự trữ tài chính cấp tỉnh
theo quy định tại Điểm đ, Khoản 3, Điều 58 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày
06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân
sách nhà nước.
7. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp với cơ quan tài chính
thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách ở các đơn
vị, cấp cơ sở; thực hiện tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí, cắt giảm các khoản
chi chưa thật sự cần thiết; chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm
vụ quan trọng, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và
điều chỉnh tiền lương. Trường hợp phát hiện các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách
không đúng chế độ, chính sách, nhất là các chính sách liên quan đến thực hiện
các chính sách xã hội, xoá đói giảm nghèo, cần có biện pháp xử lý kịp thời để
đảm bảo chính sách, chế độ thực hiện đúng đối tượng và có hiệu quả.
8. Báo cáo tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước theo quy định.
Điều 8. Thực hiện cấp phát, thanh toán kinh phí:
1. Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách:
Căn cứ dự toán ngân sách năm được giao, đơn vị sử dụng ngân sách thực
hiện rút dự toán chi theo chế độ, định mức chi tiêu ngân sách đã được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiến độ, khối lượng thực hiện nhiệm
vụ; đảm bảo nguyên tắc:
- Các khoản chi thanh toán cá nhân (lương, phụ cấp lương, trợ cấp xã
hội, ) đảm bảo thanh toán theo mức được hưởng hàng tháng của các đối tượng
hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước. Các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và tổ chức thực
hiện việc chi trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương; Kho bạc
Nhà nước phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức cung ứng
13
dịch vụ thanh toán triển khai thực hiện nghiêm túc việc trả lương qua tài khoản
cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Chỉ thị số
20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
- Những khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản có tính
chất không thường xuyên khác thực hiện thanh toán theo tiến độ, khối lượng
thực hiện theo chế độ quy định.
2. Thực hiện rút dự toán tại Kho bạc nhà nước đối với các nhiệm vụ chi
dưới đây:
a) Chi trợ giá cho các báo, tạp chí đã được giao trong dự toán của các Bộ,
cơ quan Trung ương: Căn cứ dự toán được cơ quan có thẩm quyền giao và tiến
độ thực hiện nhiệm vụ được trợ giá, các báo, tạp chí làm thủ tục rút dự toán tại
Kho bạc nhà nước để được thanh toán theo đúng quy định tại Thông tư số
79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý,
cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
b) Kinh phí đào tạo lưu học sinh Lào, Campuchia thuộc khoản chi viện trợ:
Căn cứ dự toán được cơ quan có thẩm quyền giao và yêu cầu công việc, các đơn
vị được giao nhiệm vụ đào tạo lưu học sinh Lào, Campuchia làm thủ tục rút dự
toán tại Kho bạc nhà nước để được thanh toán theo đúng quy định tại Thông tư
số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính.
c) Về chi trả nợ của ngân sách trung ương thực hiện theo quy định tại
khoản 6, Mục II, Thông tư số 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài
chính hướng dẫn bổ sung một số điểm về quản lý, điều hành ngân sách nhà
nước.
d) Chi xúc tiến thương mại quốc gia: Căn cứ dự toán được giao, và tiến độ
thực hiện của các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Bộ Công thương
rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước để thanh toán cho các chủ chương trình theo
đúng quy định tại Thông tư số 88/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 hướng dẫn cơ
chế tài chính hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện chương trình xúc tiến
thương mại quốc gia.
đ) Chi bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới: Căn
cứ dự toán bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được
cấp có thẩm quyền giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, hàng tháng cơ quan
tài chính cấp dưới chủ động rút dự toán tại Kho bạc nhà nước đồng cấp để đảm
bảo cân đối ngân sách cấp mình; riêng ngân sách cấp xã rút dự toán tại Kho bạc
nhà nước nơi giao dịch.
Đối với bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
phương, mức rút dự toán hàng tháng về nguyên tắc không vượt quá 1/12 tổng
mức bổ sung cân đối cả năm; riêng các tháng trong quý I, căn cứ yêu cầu, nhiệm
vụ mức rút dự toán có thể cao hơn mức bình quân trên, song tổng mức rút dự
toán cả quý I không được vượt quá 30% dự toán năm.
Trường hợp ngân sách địa phương đã được ứng trước dự toán bổ sung ngân
sách năm sau từ ngân sách trung ương, cần phải thu hồi trong dự toán bổ sung
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét