Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Lợi Nhuận Và Một Số Giải Pháp Giúp Tăng Lợi Nhuận Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất Tại Công Ty Cổ Phần Gosaco.doc

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
- Đối với Nhà nước, lợi nhuận là một nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà
nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó bảo đảm nguồn lực
tài chính của nền kinh tế quốc dân, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ
máy quản lý hành chính của Nhà nước.
- Đặc biệt, lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích
người lao động và các doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở chính sách phân phối lợi nhuận đúng đắn,
phù hợp.
1.2 Nội Dung Và Phương Pháp Xác Định Lợi Nhuận:
1.2.1 Lợi Nhuận Và Phương Pháp Xác Định Lợi Nhuận:
Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản
tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Từ
khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai
yếu tố:
Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định.
Thứ hai: Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó hay nói cách khác
chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh đã thực hiện
được trong kỳ.
Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Doanh thu là toàn bộ những khoản tiền thu được do các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đem lại. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu về tiêu thụ
sản phẩm, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu từ các hoạt động bất thường.
Chi phí là những khoản chi mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được doanh thu đó.
Những khoản chi phí đó bao gồm:
• Chi phí vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm như chi phí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị.
• Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí lao
động sống cần thiết mà họ bỏ ra trong quá trình sản xuất.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
• Các khoản để làm nghĩa vụ với Nhà nước, đó là thuế và các khoản
phải nộp khác cho nhà nước như thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt…các
khoản này Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội như xây
dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học…
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp
các chi phí nói trên.
1.2.1.1 Các Chỉ Tiêu Về Tỷ Suất Lợi Nhuận
Tỷ suất lợi nhuận ròng / Vốn CSH bq =
(ROE)
(ROE) Tỷ suất cho biết cứ đầu tư một đồng vốn chủ sở hữu cho sản xuất thì thu
được bao nhiêu đồng LN.
Tỷ suất lợi nhuận / Doanh thu =
(ROS) Doanh thu
(ROS)Tỷ suất cho biết một đồng doanh thu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận / chi phí =
Chi Phí = Chi Phí NVL + Chi Phí Nhân Công + Chi Phí Khấu Hao MMTB + Chi Phí
QLDN + Chi Phí Bán Hàng
Tỷ suất cho biết một đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận / Tổng tài sản bq =
(ROA)
ROA, tỷ suất cho ta biết một đồng vốn đầu tư(tài sản) tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ số nợ =

SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 6
Lợi nhuận sau thuế
Vốn CSH bq
Lợi nhuận sau thuế
Vốn CSH bq
Lợi nhuận sau thuế
Chi phí
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bq
Tổng nợ
Tổng tài sản
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Tỷ số cho ta biết một đồng tài sản được tài trợ bằng bao nhiêu đồng nợ
1.2.1.2 Chỉ Tiêu Hiệu Quả Sử Dụng Vốn:
Tỷ suất cho ta biết một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng tổng vốn =
Hiệu quả sử dụng VCĐ =
Hiệu quả sử dụng VLĐ =
Tỷ suất cho ta biết một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Hiệu suất sử dụng tổng vốn =
Hiệu suất sử dụng tổng vốn: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn.
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Hiệu suất sử dụng VCĐ: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Hiệu suất sử dụng VLĐ: doanh thu được tạo ra từ một đồng vốn lưu động
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 7
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngày
Lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn
Lợi nhuận sau thuế
Vốn cố định
Lợi nhuận sau thuế
Vốn lưu động
Doanh thu
Tổng vốn
Doanh thu
Vốn cố định
Doanh thu
Vốn lưu động
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân =
Vòng quay hàng tồn kho =
Số ngày của một vòng quay VLĐ =
1.2.1.3 Chỉ Tiêu Về TSCĐ
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định: lợi nhuận tạo ra từ một đồng tài sản cố định.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: doanh thu tạo ra từ một đồng tài sản cố định.
1.2.1.4 Chỉ Tiêu Về Lao Động:
NSLĐ bình quân 1 LĐ =
Tỷ suất cho biết giá trị tổng sản lượng được tạo ra từ một nhân công.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 8
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Giá trị tổng sản lượng
Tổng số lao động
Lợi nhuận sau thuế
Nguyên giá TSCĐ
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngày
Doanh thu
Nguyên giá TSCĐ
Vốn lưu động đầu kì – Vốn lưu động cuối kì
2
Doanh thu thuần
Hàng tồn kho
360
Số vòng quay của VLĐ
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Hiệu quả sử dụng LĐ =
Hiệu quả sử dụng LĐ: lợi nhuận được tạo ra từ 1 lao động.
1.2.1.5 Các Chỉ Tiêu Về Khả Năng Thanh Toán:
a) Khả năng thanh toán hiện thời:
Hệ số thanh toán ngắn hạn còn gọi là hệ số thanh toán hiện hành là thước đo
khả năng có thể trả nợ của doanh nghiệp khi nợ đến hạn bằng các tài sản ngắn hạn. Hệ
số này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty càng lớn và
ngược lại.
K
ht
=
b) Khả năng thanh toán nhanh
Đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao và ngược lại. Tuy
nhiên, hệ số này quá lớn lại gây ra tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung
quá nhiều vào tiền, đầu tư ngắn hạn có thể không hiệu quả.
K
n
=
Kỳ thu tiền bình quân là thước đo khả năng thu hồi vốn trong thanh toán tiền
hàng.
Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì vốn của doanh nghiệp ít bị đọng trong khâu
thanh toán và ngược lại.
Kỳ thu tiền bình quân =
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 9
Lợi nhuận sau thuế
Tổng số lao động
Tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
(Tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn) – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngày
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Doanh thu bình quân ngày =

1.3 Phương Pháp Nghiên Cứu:
1.3.1 Phương Pháp Thu Thập Và Xử Lí Số Liệu:
Các số liệu phân tích được thu thập ở bộ phận kế toán, bộ phận kinh doanh, bộ
phận nhân sự, phòng kế hoạch.
Tham khảo tài liệu, các luận văn của các anh chị khoá trước, các tài liệu trên các
phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, tìm kiếm trên mạng internet,…
1.3.2 Phương Pháp Phân Tích:
*Phương pháp so sánh:
Là phương pháp được dùng chủ yếu trong phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh, phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện, có tính so sánh
được để rút ra kết luận về hiện tượng và quá trình kinh doanh.
Các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu kinh tế như sau:
- Phải thống nhất về nội dung phản ánh.
- Phải thống nhất về phương pháp tính toán.
- Số liệu thu thập được của các chỉ tiêu kinh tế phải cùng một khoảng thời
gian tương ứng.
- Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng đại lượng biểu hiện là đơn vị đo lường.
Tùy theo mục đích yêu cầu, tính chất và nội dung của việc phân tích các chỉ tiêu
kinh tế mà sử dụng phương pháp so sánh cho thích hợp.
- Số tuyệt đối: Là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng, giá trị của một chỉ tiêu
kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể. Nó có thể tính bằng thước đo hiện vật,
giá trị, giờ công. Số tuyệt đối là cơ sở để tính các chỉ tiêu khác.
- So sánh tuyệt đối: Là so sánh giữa các chỉ tiêu kinh tế của kì kế hoạch với kì
thực tế, giữa những khoảng thời gian, không gian khác nhau để thấy được mức độ hoàn
thành, quy mô phát triển của chỉ tiêu kinh tế nào đó.
- So sánh tương đối: Là tỉ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu phân tích so với chỉ tiêu
gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc
để nói lên tốc độ tăng trưởng.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 10
Doanh thu thuần
360 ngày
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Tổng doanh thu bán hàng, cung ứng dịch
vụ
(Doanh thu của các nghiệp vụ kinh doanh)
Doanh thu hoạt động khác
Hoạt động tài
chính
Hoạt động bất
thường
- Giảm giá
- Hàng bị trả lại
- Thuế gián thu v.v.
Doanh thu thuần
Lợi nhuận
hoạt động
khác
Chi phí hoạt
động khác
Giá vốn
hàng
bán
Lợi nhuận gộp hoạt động kinh
doanh
Lợi nhuận
hoạt động
khác
- Chi phí bán
hàng
- Chi phí quản
lý DN
Lợi nhuận
hoạt động kinh
doanh
Lợi nhuận
hoạt động
khác
Lợi nhuận trước thuế
Thuế thu nhập
doanh nghiệp
Lợi nhuận sau
thuế
1.4. Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp:
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, là mục tiêu của công tác quản lý. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sản xuất kinh
doanh có lợi nhuận, và tiếp sau đó làm thế nào để lợi nhuận ngày càng tăng. Muốn vậy
trước hết cần phải biết lợi nhuận được hình thành từ đâu và sau đó phải biết được những
nguyên nhân nào, nhân tố nào làm tăng hoặc giảm lợi nhuận. Việc nhận thức được tính
chất, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh là bản chất của vấn đề
phân tích kinh tế và chỉ trên cơ sở đó ta mới có căn cứ khoa học để đánh giá chính xác,
cụ thể công tác của doanh nghiệp. Từ đó các nhà quản lý mới đưa ra được những quyết
định thích hợp để hạn chế, loại trừ tác động của các nhân tố làm giảm, động viên và khai
thác tác động của các nhân tố làm tăng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả ngày
càng cao cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
doanh nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Những nhân tố ảnh hưởng đến
thu nhập và những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất là những nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận. Ngoài ra lợi nhuận còn chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế
xã hội: tình hình kinh tế xã hội trong nước, của ngành và doanh nghiệp, thị trường trong
và ngoài nước. Tất cả những nhân tố đó có thể tác động có lợi hoặc bất lợi cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới đây là một số nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận
của doanh nghiệp.
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
1.4.1. Đối Với Nhân Tố Số Lượng Sản Phẩm Tiêu Thụ:
Khi các nhân tố khác cấu thành nên giá cả hàng hoá không thay đổi thì lợi nhuận
của doanh nghiệp thu được nhiều hay ít phụ thuộc vào khối lượng hàng hoá tiêu thụ
trong năm nhiều hay ít. Nhưng việc tăng hay giảm số lượng hàng hóa bán ra tùy thuộc
vào kết quả quá trình sản xuất và công tác bán hàng, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và
chất lượng sản phẩm. Do đó đây là nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh
nghiệp. Cũng từ tác động của nhân tố này, có thể rút ra kết luận rằng, biện pháp cơ bản
đầu tiên để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp phải là tăng số lượng sản phẩm bán ra trên
cơ sở tăng số lượng, chất lượng của sản phẩm sản xuất, làm tốt công tác bán hàng, giữ
uy tín của doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước.
1.4.2. Đối Với Nhân Tố Kết Cấu Sản Phẩm Bán Ra:
Việc thay đổi kết cấu sản phẩm bán ra có thể làm tăng hoặc làm giảm lợi nhuận
bán hàng. Cụ thể nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng (sản phẩm) có
mức lợi nhuận cao, giảm tỷ trọng bán ra những sản phẩm bị lỗ hoặc có mức lợi nhuận
thấp thì tổng lợi nhuận sẽ tăng lên và ngược lại.
Mặt khác, để thoả mãn, để đáp ứng được nhu cầu thị trường thường xuyên biến
động, các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh từ hoạt động sản xuất đến hoạt động bán
hàng. Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp bán ra cái thị trường cần, chứ không
phải bán cái doanh nghiệp có. Do đó, người quản lý cần phải nghiên cứu nắm bắt được
nhu cầu thị trường, trên cơ sở đó mà có các quyết định thích hợp điều chỉnh thích hợp,
kịp thời sao cho thoả mãn nhu cầu thị trường, vừa tăng được lợi ích của bản thân doanh
nghiệp. Do đó đây cũng là nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
1.4.3. Đối Với Nhân Tố Giá Bán Sản Phẩm :
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong việc
định giá sản phẩm của mình. Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu. Các
doanh nghiệp khi định giá sản phẩm thường căn cứ vào chi phí bỏ ra để làm sao giá cả
có thể bù đắp được phần chi phí tiêu hao và tạo nên lợi nhuận thỏa đáng để tái sản xuất
mở rộng. Tuy nhiên, trong thực tế, sự biến động của giá cả sẽ tác động trực tiếp đến
khối lượng sản phẩm tiêu thụ vì thế giá sản phẩm tăng chưa chắc đã tăng được lợi nhuận
cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc sản xuất kinh doanh phải gắn liền với việc đảm
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 12
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng tới lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Rõ ràng, trong điều kiện kinh tế thị trường, với đặc trưng nổi bật nhất là sự cạnh
tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp, thì các yếu tố càng trở nên phức tạp. Nó vừa là
yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan. Lợi dụng tính phức
tạp của các yếu tố giá mà các doanh nghiệp sử dụng giá không chỉ là yếu tố góp phần
làm tăng lợi nhuận mà còn là vũ khí rất lợi hại trong cạnh tranh. Với vai trò như vậy
trong điều kiện cạnh tranh, yếu tố giá được sử dụng linh hoạt nhưng phải luôn bám vào
và chịu sự chi phối bởi những mục tiêu chiến lược cũng như những mục tiêu cụ thể của
doanh nghiệp đối với từng loại sản phẩm trong từng thời kỳ.
1.4.4. Đối Với Nhân Tố Giá Thành Hoặc Giá Vốn Hàng Bán:
Giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tiêu hao lao động sống và lao động vật
hoá để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định. Đây là một trong những nhân
tố quan trọng chủ yếu ảnh hưởng tới lợi nhuận, có quan hệ tác động ngược chiều đến lợi
nhuận. Nếu giá vốn hàng bán giảm sẽ làm lợi nhuận tiêu thụ tăng lên và ngược lại. Nhân
tố giá vốn hàng bán thực chất phản ánh kết quả quản lý các yếu tố chi phí trực tiếp như
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Cụ
thể là:
• Chi phí nhân công trực tiếp:
Khoản này chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành sản phẩm. Do vậy, doanh
nghiệp cần chú trọng giảm bớt chi phí này bằng nhiều biện pháp trong đó biện pháp
quan trọng nhất là bố trí lực lượng lao động đúng người, đúng việc, đúng trình độ.
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Vật tư dùng cho sản xuất bao gồm nhiều loại như nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, nhiên liệu, trong đó phần lớn các loại vật tư lao động tham gia cấu thành thực thể
sản phẩm. Là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, do đó nếu thiếu vật tư sẽ không
thể tiến hành được các hoạt động sản xuất và xây dựng. Yếu tố này chiếm vai trò quan
trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Nếu không sử dụng hợp lý
nguyên vật liệu sẽ gây lãng phí và làm tăng giá thành sản phẩm.
• Chi phí sản xuất chung:
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 13
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.S Võ Xuân Vinh
Đó là những chi phí phát sinh ở các phân xưởng hoặc các bộ phận kinh doanh của
doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấp trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu,
công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định thuộc phân xưởng, chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng.
1.4.5 Đối Với Nhân Tố Chi Phí Bán Hàng Và Quản Lý Doanh Nghiệp:
Về bản chất hai nhân tố này cũng giống với giá vốn của hàng bán cũng ảnh hưởng
ngược chiều đến lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp, là các chi phí liên quan tới việc
tiêu thụ hàng hóa và quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp
phải tìm mọi biện pháp làm giảm hai loại chi phí này bằng việc giám sát quản lý chặt
chẽ, căn cứ vào tình hình nhu cầu thực tế và mục tiêu lợi nhuận, xây dựng các định mức
cho từng khoản mục cụ thể, có như vậy mới đảm bảo thu được lợi nhuận.
1.4.6 Đối Với Nhân Tố Chính Sách Vĩ Mô Của Nhà Nước:
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của nó không chỉ chịu
tác động của quy luật kinh tế thị trường mà còn chịu sự chi phối của Nhà nước thông
qua các chính sách kinh tế vĩ mô như: chính sách thuế, tín dụng, tiền tệ, các văn bản và
quy chế quản lý tài chính. Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.4.7 Đối Với Nhân Tố Khả Năng Về Vốn Của Doanh Nghiệp:
Vốn là tiền đề của sản xuất kinh doanh, muốn đầu tư phát triển phải có vốn. Sự tuần
hoàn của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu như sự
tuần hoàn máu trong cơ thể sống của con người. Một trong những yếu tố quan trọng để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sử dụng vốn có hiệu quả.
Điều đó đồng nghĩa với việc cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ không những thỏa
mãn nhu cầu của xã hội mà còn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Trong quá
trình cạnh tranh, khả năng về vốn dồi dào sẽ giúp doanh nghiệp giành được thời cơ trong
kinh doanh, có điều kiện mở rộng thị trường từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng
doanh thu và tăng lợi nhuận.
1.5 Một Số Biện Pháp Tài Chính Nhằm Tăng Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp:
1.5.1 Phấn Đấu Hạ Thấp Giá Thành Và Chi Phí Trong Các Hoạt Động Kinh Doanh:
SVTH: Võ Thị Mỹ Lệ
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét