Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Chính sách tiền tệ và sự lựa chọn của Việt Nam


5
Thị trường tài chính được xem là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Nó góp
phần quan trọng trong việc điều hòa nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu , giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Với vai trò như vậy, sự ổn định của thị trường tài
chính có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia.

1.5 Tăng trưởng kinh tế:

Do chính xách tiền tệ có thể ảnh huởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên só thể
sử dụng làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế phải được hiểu
cả về kjối lượng và chất lượng . Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP
thực tế. Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và kha năng
cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên.

1.6 Giảm tỷ lệ thất nghiệp:

Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả chính sách vĩ mô trong đó có
chính sách tiền tệ. Công ăn việc làm đẩy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý do:
+ Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội
vì nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội.
+ Thất nghiệp gay nên tình trạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ, là
mầm mống của các tệ nạn xã hội
+ Các khoản trợ cáp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân
sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.

2. Mục tiêu trung gian:

Bằng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, NHTW không thể tác động
trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của CSTT như: giá cả, sản lượng.
công ăn việc làm…Ảnh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất
định từ 6 tháng đến 2 năm. Sẽ là quá muộn và không hiệu quả nếu NHTW đợi các tín
hiệu phản hồi về giá cả, sản lượng, thất nghiệp để điều chỉnh các công cụ. Nhằn khắc
phục các hạn chế này, NHTW của các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được
trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Chúng là những mục tiêu trung gian.

Mục tiêu trung gian là chỉ tiêu được ngân hàng trung ương lựa chọn để đạt được mục
tiêu cuối cùng của CSTT. Các chỉ tiêu thường được sử dụng làm mục tiêu trung gian là
tổng khối lượng tiền cung ứng hoặc mức lãi suất thị trường( ngắn và dài hạn)

2.1 Tiêu chuẩn của mục tiêu trung gian:


6
- Có thể đo lường được: cá mục tiêu trung gian phải là các chỉ tiêu có thể đo lường
một cách chính xác và nhanh chóng bởi vì các chỉ tiêu này chỉ có ích khi nó phản ánh
được tình trạng của chính sách tiền tệ nhanh hơn mục tiêu cuối cùng. NHTW có thể dựa
vào các mục tiêu này để điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết.
- NHTW có thể kiểm soát được: Việc lựa chọn các chỉ tiêu mà NHTW ko có khả
năng kiểm soát làm mục tiêu trung gian không chỉ ảnh hưởng đến định hướng và hiệu quả
chính sách tiền tệ mà còn lãng phí do mọi cố gắng để đạt được chỉ tiêu này không mang
tính mục đích.
- Có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng: đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất .
Hai khả năng trên sẽ trở nên vô nghĩa nếu các chỉ tiêu được chọn ko ảnh hưởng trực tiếp
tới mục tiêu cuối cùng.

2.2 Các mục tiêu

- Tổng lượng tiền cung ứng: Sự biến động của nhu cầu tiền tệ là tất yếu bởi sự tăng
lên hoặc giảm xuống không dự tính được trước được của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu
cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng. Trong điều kiện cố định mức cung ứng tiền tệ, sự
biến động mức lãi suất là hiển nhiên.
- Lãi suất: Để đạt được mức lãi suất , NHTW phải thay đổi mức cung tiền nhằm ngăn
cản sự tăng lên hoặc giảm xuống của lãi suất so với mức lãi suất được ấn định. Như vậy,
để duy trì mục tiêu lãi suất, múc cung ứng tiền và cơ số tiền sẽ biến động.

Vậy, qua tăng giảm khối tiền tệ, NHTW đã góp phần tác động đến sự tăng giảm tổng
cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội (ở các nước chuộng dùng khối tiền tệ). Bên cạnh đó
việc sử dụng công cụ lãi suất cũng có tác động đến tăng giảm tổng cung và tổng cầu tiền
tệ của xã hội.


3. Mối quan hệ giữa các mục tiêu:

Các mục tiêu của chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng nhất trí và hỗ trợ cho nhau.
Trong một số trường hợp , vẫn có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau khiến cho việc
theo đuổi mục tiêu này đòi hỏi phải có hi sinh nhất định ở mục tiêu kia. Mối quan hẹ giữ
mục tiêu thất nghiệp với mục tiêu ổn định giá cả là một minh chứng roc rệt.

Thứ nhất, để giảm tỷ kệ lạm phát, cần phải thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt.
Dưới tác động của chính sách này, lãi suất thị trường tăng lên làm giảm các nhân tố cấu
thành tổng cầu và do đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế. Thất nghiệp vì thế có xu
hướng tăng lên. Ngược lại. việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo
một chính sách tiền tệ mở rộng và sự tăng giá.

7

Thứ hai, mục tiêu tạo công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả còn thể
hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốc cung nhằm đảm bảo mức cầu
tiền thực tế. cung ứng tiền tăng đưa kết quả là giá cả tăng lên.

Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá, Bằng
việc hạ giá đồng nôik tệ. các ngành kinh doanh hướng về xuất khẩu có khả năng mở rộng.
Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp, nhưng lại kèm theo sự tăng lên của mức giá chung.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai mục tiêu này tương đối phức tạp, chúng mâu thuẫn nhau
trong ngắn hạn, nhưng lại bổ sung nhau trong dài hạn.

Bên cạnh đó, mục tiêu giảm thất nghiệp và mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại không có sự
mâu thuẫn nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn. Công ăn việc làm sẽ thức đẩy nền kinh tế
phát triển và ngược lại

Như vậy trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu trên. Phần lớn
NHTW các nước coi ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ,
nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu này để khắc phục
tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản
lượng. Có thể nói ngân hàng trung ương theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mục
tiêu trong ngắn hạn.

III CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1. Các công cụ trực tiếp

a/ Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay :
NHTW có thể ấn định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và bắt buộc các NHTM phải thi
hành.

Ưu điểm: NHTW có thể tác động trực tiếp đến các dự án đầu tư bằng các điều kiện tín
dụng
Nhược điểm: Lãi suất được ấn định có thể không phù hợp với nền kinh tế gây khó khăn
cho việc thực hiện các dự án đồng thời tính linh hoạt của thị trường tiền tệ sẽ bị suy giảm.
Việc quy định lãi suất tiền gửi của các NHTM áp dụng có tác động trực tiếp đến thị
trường tiền tệ nhưng lại làm cho hoạt động của tổ chức tín dụng kém linh hoạt, mất tính
chủ động trong kinh doanh.


8
Công cụ này có thể dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn tại ngân hàng trong khi thiếu vốn đầu tư
hoặc khuyến khích dân chúng dùng tiền để dự trữ vàng, ngoại tệ, BĐS trong khi ngân
hàng hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay.
Việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay nhìn chung ngày càng ít được áp
dụng ở các nước theo kinh tế thị trường bởi vì lãi suất của nó rất nhạy cảm với đầu tư, nó
phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

b/ Ấn định hạn mức tín dụng
Là việc NHTW ấn định 1 khối lượng sẽ cung cấp cho nền kinh tế trong 1 thời gian nhất
định, sau đó tìm các kênh để đưa vào.
Biện pháp này có ưu và nhược điểm:

Ưu điểm: Có thể kế hoạch 1 cách chắc chắn khối lượng tiền trong lưu thông

Nhược điểm: Thiếu linh hoạt khi tình hình biến động và chỉ thực hiện được trong cơ chế
kế hoạch hóa tập trung.

c/ Phát hành trái phiếu Nhà nước
Nhằm làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông qua việc NHTW thỏa thuận với Bộ Tài
chính về việc phát hành 1 khối lượng trái phiếu nhất định, biện pháp này chỉ thực hiện
khi không còn biện pháp nào khác.
Ưu điểm: là làm giảm bớt khối lượng tiền trong lưu thông.
Nhược điểm: là phục vụ cho mục tiêu chi tiêu của NSNN; việc phân bổ trái phiếu Nhà
nước thường mang tính chất bắt buộc

d/ Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư
Khi ngân sách bị thiếu hụt, NHTW có thể phát hành tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
ngân sách. Biện pháp này dễ đưa đến lạm phát, thông thường biện pháp này được áp
dụng để phát hành tiền cho đầu tư phát triển xem như là ứng trước cho sản xuất.

Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường các công cụ trực tiếp thường được áp dụng trong
những trường hợp nhất định. NHTW thường sử dụng các công cụ gián tiếp để điều hành
chính sách tiền tệ

2. Các công cụ gián tiếp

a/ Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu thông bằng các quy định tỷ lệ mà các
NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối lượng tiền gửi, tỷ lệ dự trữ pháp định là
tỷ lệ % trên số tiền gửi mà một NHTM nhận được phải gửi vào tài khoản tại NHTW hoặc

9
giữ tại ngân hàng theo quy định (cụ thể là tiền dự trữ bắt buộc của NHTM nằm tại kho
bạc nhà nước). Với biện pháp này NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM
và các tổ chức tín dụng khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. Do đó
NHTW có thể tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ
dự trữ pháp định.

Đi kèm với công cụ trên là giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được:
NHTW quy định giới hạn tỷ lệ tín dụng mà các NHTM có thể cung cấp khi nhận được 1
lượng tiền gửi, thông thường NHTW thường quy định tỷ lệ dư nợ tín dụng của các
NHTM không được vượt qua bao nhiêu nhiêu lần so với vốn tự có. Biện pháp này có ưu
điểm quy định được 1 khối lượng tín dụng vừa phải theo yêu cầu phát triển kinh tế có
tính đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư.

b/ Công cụ thị trường mở
Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mua và bán các giấy tờ có giá trên thị
trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW sẽ mua vào
1 lượng chứng khoán nhất định, việc các NHTM bán chứng khoán cho NHTW sẽ làm
tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ NHTW.

Ngược lại, nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán ra 1 lượng chứng
khoán nhất định
.
Ưu điểm là tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM buộc các NHTM phải gia tăng
hay giảm khối lượng tín dụng.

Nhược điểm chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong lưu thông đều nằm
tại các NHTM.
Công cụ này sẽ có hiệu quả cao hơn ở những nước có thị trường tài chính hoàn chỉnh, cơ
chế thanh toán không dùng tiền mặt phát triển cao.

c/ Biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu và cho vay của NHTW

Là hình thức cung cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM trong điều kiện có thế chấp,
chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các NHTM. Việc ấn định lãi suất cho
vay, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu cao hay thấp có tác động đến khả năng cho vay của
các NHTM và do đó làm cho khối cung tiền tệ tăng lên hay giảm đi.

Ưu điểm: các khoản cho vay của NHTW đảm bảo thu được về. Việc cho vay gắn liền với

10
yếu cầu phát triển kinh tế, do sự tác động của quy luật cung cầu.

Nhược điểm việc vay hay không vay phụ thuộc vào các NHTM.

d/ Giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được:

NHTW quy định giới hạn tỷ lệ tín dụng mà các NHTM có thể cung cấp khi nhận được 1
lượng tiền gửi, biện pháp này thường được đi kèm bằng biện pháp quy định tỷ lệ dự trữ
ổn định, NHTW thông thường quy định tỷ lệ dư nợ tín dụng của các NHTM không được
vượt qua bao nhiêu nhiêu lần so với vốn tự có. Biện pháp này có ưu điểm quy định được
1 khối lượng tín dụng vừa phải theo yêu cầu phát triển kinh tế có tính đến mối quan hệ
giữa tiết kiệm và đầu tư.

3. Một số công cụ khác

a/ Dự đính công trái bắt buộc
Là việc NHTW quy định 1 tỷ lệ trên số tiền gửi mà một NHTM nhận được phải dùng vào
việc mua công trái bắt buộc nhằm hạn chế khối lượng tín dụng của các NHTM và làm
công cụ của NHTW thông qua việc chiết khấu các công trái này, khi các NHTM cần vốn
thông qua đó NHTW có thể sử dụng công cụ thị trường mở để điều tiết khối lượng tiền tệ
trong lưu thông

b/ Dự đính công trái tự nguyện
Ngoài việc buộc các NHTM mua công trái bắt buộc, NHTW còn kích thích các NHTM
mua thêm công trái khi số tiền cho vay không hết.

c/ Phát hành giấy bạc, cho phép lưu thông các công cụ thay tiền mặt
Thông thường khi các công cụ thay tiền mặt được sử dụng thì lưu thông tiền tệ sẽ nhanh
hơn tiết kiệm được chi phí lưu thông và đặc biệt làm tăng khả năng tín dụng của các
NHTM bởi vì khi mọi khoản tiền đều được thanh toán qua ngân hàng bằng các công cụ
thay tiền mặt như séc, thẻ tín dụng, lệnh chuyển khoản sẽ làm cho toàn bộ hệ thống
ngân hàng gần như không bao giờ mất khả năng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.







11
PHẦN II: SỰ LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM

I. Chính sách tài chính - tiền tệ với mục tiêu cân bằng kinh tế đối ngoại
và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 20 năm đổi mới
Định hướng mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam là xây dựng một nền kinh tế thị
trường, mở hướng về xuất khẩu. Trong thời gian qua, chính sách tài chính – tiền tệ đã có
những đổi mới rất quan trọng để tạo ra những yếu tố tiền đề tác động hỗ trợ và thúc đẩy
hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế trong nước, cân bằng quan
hệ kinh tế đối ngoại.
1. Chính sách tài chính
Trong chính sách tài chính, chính sách thuế giữ một vị trí đặc biệt quan trọng tác
động đến hoạt động thương mại và sự vận động của các luồng vốn quốc tế, đồng thời có
ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong
nước - điều kiện cốt tử để cho hội nhập đạt hiệu quả cao nhất đối với mỗi quốc gia.
Hệ thống thuế quan của Việt Nam bắt đầu được ban hành năm 1988 theo danh mục
hàng hóa của khối Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV) mà không theo hệ thống danh
mục hàng hóa hài hòa (HS) của Hội đồng Hải quan thế giới. Thực hiện chính sách đổi
mới, mở cửa, Việt Nam đã dần từng bước điều chỉnh lại hệ thống thuế quan cho phù hợp
với thông lệ quốc tế
Năm 1996, thực hiện cam kết với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam đã giảm
thuế suất, nhập khẩu của một số mặt hàng có thuế suất trên 60% và được điều chỉnh
nhiều lần cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn. Năm 1999,
Việt Nam áp dụng Luật sửa đổi một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm
1991. Theo quy định của Luật thuế này, thuế suất, thuế nhập khẩu của Việt Nam gồm 3
loại: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Ngày 1 tháng 7
năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 78/CP về việc ban hành danh mục hàng hóa và
thuế suất của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPT cho các năm 2003-2006. Trong đó
có trên 5000 dòng thuế được giảm xuống 0%-5% vào năm 2006.
Những đổi mới và hoàn thiện Luật thuế nói chung, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu nói riêng ở Việt Nam thời gian qua là hoàn toàn phù hợp với chủ trương phát triển
một nền kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu
theo lộ trình của các Hiệp định làm cho nguồn thu Ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu
giảm xuống nhưng lại được bù đắpt bởi tăng nguồn thu từ nội địa do mở rộng đối tượng
nộp thuế và mặt hàng chịu thuế. Các chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư trực tiếp
nước ngoài và việc bãi bỏ thuế thu nhập đối với kiếu hối của người Việt Nam ở nước

12
ngoài đã làm cho luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối tăng cao, tài trợ tích
cực cho thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai.

2. Chính sách tiền tệ.

Trong chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá có vai trò lớn, tác động trực tiếp đến cán
cân thanh toán quốc tế và tiềm lực tài chính trong quan hệ kinh tế đối ngoại.
Về chính sách tỷ giá, có thể xem xét sự ảnh hưởng của chính sách này đến mục
tiêu cân bằng kinh tế đối ngoại của Việt Nam qua các giai đoạn.
Trong những năm 1988-1991, tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ chế độ đa tỷ giá
chuyển sang chế độ tỷ giá thống nhất được xác định theo cơ chế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước. Sự điều chỉnh hợp lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa phối hợp với việc thắt
chặt cung tiền, cắt giảm chi tiêu Chính phủ, hạn chế tín dụng, tăng lãi suất… và những
chính sách kinh tế khác đã chặn đứng được lạm phát, đưa nền kinh tế Việt Nam ra khỏi
suy thoái và bước vào thời kỳ phát triển.
Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều chỉnh để chống
lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống lạm phát, chính sách
tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Vì vậy,
nếu so sánh chỉ số CPI của Mỹ và CPI của Việt Nam, các nhà kinh tế tính toán cho rằng,
tỷ giá hối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn 20%.
Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp phần tích
cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao trên 8% năm. Nhưng việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố
định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước
có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam)
và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu
hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao
hơn thực tế. Điều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất ổn định và kìm hãm sự
phát triển kinh tế.
Do tỷ giá hối đoái thực tế giảm xuống, VND được đánh giá cao đã làm suy giảm
sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam, làm cán cân thương mại và
cán cân thanh toán chuyển trạng thái từ thặng dư năm 1991-1992 sang trạng thái thâm
hụt, bắt đầu tích luỹ sự mất cân đối bên ngoài và dần chuyển sang gây mất ổn định và
mất cân đối bên trong nền kinh tế. Bởi vì, về bản chất, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động
đến những vấn đề kinh tế đối ngoại mà nó còn tác động đến các vấn đề kinh tế đối nội
thông qua sự tác động của tỷ giá đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đã có tác dụng tích cực trong việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do ngoại tệ được đánh giá rẻ nên đã khuyến khích các nhà
đầu tư vay ngoại tệ để đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều vốn và nguyên liệu nhập khẩu
– một nguồn lực được coi là khan hiếm ở Việt Nam. Điều này đã đi ngược với chiến lược

13
phát triển kinh tế dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có và những lợi
thế so sánh của đất nước, đó là nguồn lực lao động.
Một yếu tố khác càng làm trầm trọng hơn tác động tiêu cực của tỷ giá hối đoái giai
đoạn này là việc phá giá đồng NDT 50% vào năm 1994 của Trung Quốc. Việc phá giá
NDT đã làm cho hàng hóa, dịch vụ của Trung Quốc quá rẻ đã tràn ngập thị trường Việt
Nam qua con đường buôn bán mậu dịch và buôn lậu, gây khó khăn cho sản xuất trong
nước và tăng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc.
Từ năm 1997 đến nay, chính sách tỷ giá hối đoái được điều hành nhằm chống đỡ
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực và khắc phục tình trạng đánh
giá cao VND thời gian trước đó.
Tháng 7 năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông Nam á đã
làm cho một loạt đồng tiền của các nước trong khu vực giảm giá mạnh so với đồng USD
và VND. Điều đó cũng có nghĩa là, VND đã bị đánh giá cao hơn nữa, trong bối cảnh các
nước trong khu vực là bạn hàng chủ yếu và quan trọng của Việt Nam, đã làm cho xuất
khẩu của Việt Nam giảm sút nhanh chóng.
Phân tích những nguyên nhân và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
khu vực cho thấy, mặc dù thị trường tài chính – tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển đầu
đủ và mở cửa nên không bị kéo ngay vào làn sóng của cuộc khủng hoảng, nhưng Chính
phủ và NHNN Việt Nam đã nhận thấy tính chất nghiêm trọng của ổn định chế độ tỷ giá
danh nghĩa kéo dài – một nguyên nhân quan trọng tạo ra cuộc khủng hoảng nên đã có
những biện pháp xử lý tương đối hợp lý, ngăn chặn được những cú sốc không cần thiết
đối với nền kinh tế. Vì vậy tháng 10 năm 1997, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ
giao dịch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ
(+) (-) 5% lên (+) (-)10%. Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng
mạnh. Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến động đáng
kể.
Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cực đối với xuất
khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong các năm 1997-1999, cán
cân tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán cũng giảm dần thâm hụt, mặc dù đầu tư
nước ngoài suy giảm mạnh trong các năm này. Nhưng điều chỉnh tỷ giá như trên cũng có
những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, bởi vì khi VND giảm giá đã làm tăng thêm gánh
nặng nợ nước ngoài của cả chính phủ và các doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vì vậy có thể thấy rằng, đó cũng chính là cái giá phải trả khi lựa chọn chính sách tỷ
giá thiên về cố định bằng cách duy trì sự ổn định của tỷ giá danh nghĩa quá lâu. Và một
khi duy trì tỷ giá cố định càng dài thì cái giá phải trả càng lớn.
Để tránh những hậu quả tương tự, chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt,
phản ánh đúng với quan hệ cung cấp về ngoại hối, sở thích của người tiêu dùng, lạm phát,
lợi tức của tài sản nội, ngoại tệ… để chống đỡ được các cú sốc của nền kinh tế. Vì vậy, từ
năm 1999, NHNN chấm dứt công bố tỷ giá chính thức, mà chỉ công bố tỷ giá giao dịch

14
bình quân trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời biên độ giao dịch dao động cũng
giảm xuống chỉ còn (+) (-) 0,1%. Việc can thiệp của Nhà nước đối với tỷ giá được thực
hiện chủ yếu thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ của NHNN trên thị trường ngoại hối,
xoá bỏ phương thức quản lý mang nặng tính chất hành chính chủ quan trước đây. Từ đó
cho đến nay, tỷ giá hối đoái đã được hình thành theo cơ chế thị trường, bám sát sự biến
động của thị trường thế giới, phản ánh tương đối sát quan hệ kinh tế quốc tế giữa đồng
nội tệ và ngoại tệ, nên đã cải thiện cơ bản cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc
tế của Việt Nam.

Tóm lại, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ với những đổi mới, hoàn thiện
các công cụ của nó đã tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam trong
những năm qua. Chính sách tài chính và chính sách tiền tệ đã duy trì sự ổn định và tăng
trưởng nhanh của nền kinh tế, vượt qua sự ảnh hưởng tiêu cực của những tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, tạo cơ sở vững chắc cho Việt Nam mở cửa
và hội nhập vào cộng đồng kinh tế khu vực và thế giới an toàn và hiệu quả.

( trích Ths. Nguyễn Hồng Phong TCCN kì I tháng 12/2005 trang 29)

II. Chính sách tài chính - tiền tệ với mục tiêu kiềm chế lạm phát kết hợp
tăng trưởng kinh tế thời kì WTO

1. Giai đoạn 2005-2006 : ưu tiên tăng trưởng kinh tế

1.1 Toàn cảnh kinh tế

Ngay từ khi thị trường có những biểu hiện của lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã có
những phân tích tỉnh táo từ chiều hướng, nguyên nhân lạm phát để có đối sách thích hợp.
Giai đoạn này, lạm phát chủ yếu không bắt nguồn từ nguyên nhân tiền tệ mà là do những
cú sốc từ khách quan mang lại. Điều này đã được Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc
tế đồng nhất ý kiến. Vì vậy, biện pháp giải quyết cũng chủ yếu không phải từ chính sách
tiền tệ . Nếu thắt chặt tiền tệ sẽ tăng chi phí về vốn dẫn đến giá cả hàng hóa tăng, đồng
thời hạn chế đầu tư phát triển.
Dư âm của lạm phát 9,5%/năm của 2004 vẫn còn kéo dài tới đầu quý I 2005. Ngân hàng
Nhà nước đã có động thái nâng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn kể từ 15/1 để
khẳng định các ngân hàng phải huy động vốn từ các nguồn trong dân cư và doanh nghiệp,
giảm bớt chỗ dựa vào nguồn cho vay tái cấp vốn của ngân hàng trung ương. Để đối phó
với việc tăng giá, ngân hàng nhà nước vẫn yêu cầu giữ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đồng thời
điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu lên 0,5%/năm cho hai loại trên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét