Lời nói đầu
Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay Đảng ta luôn xác định công
nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó
trong những năm qua, nhất là những năm đổi mới chúng ta đã thu đợc nhiều
thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới chuyển sang một thời kỳ phát triển
cao hơn đẩy tới một bớc công nghiệp hoá nớc nhà. Tuy nhiên trong quá trình
công nghiệp hoá những năm trớc đây do nhiều nguyên nhân trong đó có
nguyên nhân nóng vội chủ quan, đốt nóng giai đoạn chúng ta đã mắc phải
một số khuyết điểm sai lầm mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và thứ
VII đã vạch ra.
Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ
tụt hậu về kinh tế, sớm đa đất nớc ra khỏi tình trạng một nớc nghèo, cải thiện
đời sống nhân dânm tăng cờng tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững
chắc độc lập và chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất ra
đời phù hợp với quan hệ sản xuất mới thì không còn con đờng nào khác là
chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một vấn đề rất rộng bao hàm
nhiều mặt nội dung. Trong phạm vi bài viết này em xin đề cập đến các nội
dung sau:
I. Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
1. Công nghiệp hoá là xu hớng mang tính quy luật của các nớc đi lên từ
nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.
2. Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá và hiện đại
hoá của nớc ta.
II. Một số vấn đề về thực tiễn và lý luận trong quá trình thực hiện công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.
1. Lý luận:
a. Điều kiện và hoàn cảnh.
b. Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành.
c. Phơng hớng, mục tiêu nội dung của công nghiệp ở Việt Nam.
1
d. Những yêu cầu nảy sinh khi thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ở Việt Nam.
2. Thực tiễn.
Vai trò chỉ đạo hoạt động của thực tiễn. (thực tiễn kiểm nghiệm)
b. Tổng kết, hệ thống, khái quát hoá chỉ đạo của thực tiễn.
III. ý kiến tác giả
1. Giải pháp cơ bản để tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nớc
ta hiện nay.
2. Những vấn đề cần lu ý khi thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
2
A. Phần mở đầu
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế rất
sôi động, các nớc nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế nhằm đa
kinh tế phát triển trong đó con ngời là vị trí trung tâm. Muốn vậy các nớc
không còn con đờng nào khác là phải thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Do vậy vấn đề công nghiệp hoá là vấn đề chung mang tính toàn cầu
khiến mọi ngời đều phải quan tâm nghiên cứu nó.
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, phát triển kinh tế là quy luật khách
quan của tồn tại và phát triển xã hội loài ngời và bất cứ ở giai đoạn nào, ở bất
kỳ đất nớc nào không loại trừ các nớc giàu mạnh về kinh tế suy đến cùng đều
đợc bắt đầu và quyết định phát triển kinh tế nghĩa là phải bắt đầu từ phơng
thức sản xuất. Vấn đề khách nhau giữa các nớc chỉ là ở mục tiêu, nội dung và
cách thức phát triển, có sự khác nhau về tốc độ về hiệu quả và trên thực tế chỉ
một số ít nớc công nghiệp hoá thành công.
Nh ta đã biết mỗi phơng thức sản xuất nhất định đều có cơ sở vật chất
kỹ thuật tơng ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội nhất định thờng đ-
ợc hiểu là toàn bộ vật chất của lực lợng sản xuất cùng với kết cấu của xã hội
đã đạt đợc trình độ xã hội tơng ứng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội
tồn tại trong phạm vi các quan hệ sản xuất nhất định nên nó mang dấu ấn và
chịu sự tác động của các quan hệ sản xuất trong việc tổ chức quá trình công
nghệ. Trong cơ cấu xã hội vì vậy khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật gắn bó
chặt chẽ với các hình thức xã hội của nó.
Đặc trng cơ sở vật chất kỹ thuật của phơng thức trớc thời công nghiệp t
bản còn thủ công lạc hậu. Còn cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn,
hiện đại chỉ có thể là nền công nghiệp hiện đại cân đối phù hợp dựa trên trình
độ khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng cao. Để có cơ sở vật chất và kỹ
thuật nh vậy các nớc đang phát triển cần phải tiến hành công nghiệp hoá. Nớc
ta thuộc vào nhóm đang phát triển, là một trong những nớc nghèo nhất thế
giới, nông nghiệp lạc hậu còn cha thoát khỏi xã hội truyền thống để sang "Xã
hội văn mình công nghiệp". Do đó khách quan phải tiến hành công nghiệp
hoá - hiện đại hoá là nội dung, phơng thức là con đờng phát triển nhanh có
3
hiệu quả. Đối với nớc ta quá trình công nghiệp hoá còn gắn chặt với hiện đại
hoá, nó làm cho xã hội chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại
làm biến đổi căn bản bộ mặt của xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, chính trị
Hiện nay đất nớc ta còn nghèo (thuộc nhóm thứ 3 thì việc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá là con đờng tất yếu. Từ Đại hội Đảng VI của Đảng xác
định đây là thời kỳ phát triển mới - Thời kỳ "Đẩy mạnh công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc" định hớng phát triển nhằm mục tiêu "Xây dựng nớc ta
thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc,
dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Để góp phần nghiên cứu về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong khuôn
khổ bài viết này em xin đề cập đến "Một số vấn đề về thực tiễn và lý luận
trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam".
B. Nội dung
I. Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hoá -
hiện đại hoá.
1. Công nghiệp hoá là xu h ớng mang tính quy luật của các n ớc đi từ nền
sản xuất nhỏ đi lên một nền sản xuất lớn.
Để có một xã hội nh ngày nay không phải do tự nhiên mà có , nó do quá
trình tính luỹ về lợng ngay từ khi loài ngời xuất hiện thì sản xuất thô sơ, đời
sống không ổn định, cơ sở vật chất hầu nh không có gì nhng trải qua sự nỗ
lực của con ngời tác động vào giới tự nhiên, cải biến nó thông qua lao động,
trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử giời đây con ngời đã tạo ra đợc những
thành công đáng kể. Thành tựu đạt đợc là do quy luật phát triển do tự thân
vận động của con ngời trong toàn xã hội. Ngày nay công cuộc xây dựng các
nớc đã cố gắng rất nhiều trong cuộc cạnh tranh chay đua về kinh tế. Thể hiện
là các chính sách, đờng lối về phát triển kinh tế ngày một toàn diện hơn, về
các mặt quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất, nền văn hoá và con ngời của xã
4
hội đó. Công nghiệp hoá chính là con đờng và bớc đi tất yếu để tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại.
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại cũng là
một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nớc. Tuy nhiên tuỳ từng nớc
khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên khác nhau, mục tiêu phát triển không
giống nhau nên cách thức tiến hành cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất
lớn, hiện đại không giống nhau. Đối với những nớc có nền kinh tế kém phát
triển nh nớc ta hiện nay (nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công là chủ yếu )
công nghiệp hoá là quá trình mang tính quy luật, tất yếu để tồn tại và phát
triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Có tiến hành công nghiệp hoá chúng ta mới:
- Xây dựng đợc cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
- Mới tiến hàng tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, mới tích luỹ về lợng mới để xây dựng thành công nền sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
- Mới tăng cờng phát triển lực lợng giai cấp công nhân.
- Mới củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội.
- Mới góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng
con ngời mới ở Việt Nam.
Nh vậy công nghiệp hoá là xu hớng mang tính quy luật cả các nớc đi từ
một nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn.
2. Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá - hiện đại hoá
của nớc ta.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nớc dù thắng hay bại đều trở thành
nớc kiệt quệ đã trở thanh một trong những nguyên nhân cho bớc khởi động
của cuộc khoa học công nghệ hiện đại. Có thể chia cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật hiện đại thành hai giai đoạn.
- Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ những năm 40 đến giữa những năm 70.
Giai đoạn này sử dụng khoa học kỹ thuật để hiện đại hoá các công cụ sản
5
xuất, phát triển kinh tế theo hớng mở rộng và tăng thêm các yếu tố sản xuất.
Thực chất đây là giai đoạn bắt đầu phát triển của lực lợng sản xuất cả về con
ngời và công cụ sản xuất.
Bình quân tăng trởng kinh tế hàng năm ở các nớc kinh tế phát triển là
5,6%. Tốc độ tăng trởng này đợc giữ nguyên trong vòng 20 năm kể từ năm
1950 đến 1970.
- Giai đoạn hai bắt đầu vào những năm 70 trở đi và cho đến nay vẫn
đang tiếp tục rất mạnh mẽ. Giai đoạn này là thực hiện cuộc cách mạng với
qui mô lớn và toàn diện trên lực lợng sản xuất trên cơ sở áp dụng các thành
tựu khoa học - kỹ thuật, đổi mới toàn bộ bộ máy sản xuất hiện hành trên cơ
sở sử dụng những phơng tiện kỹ thuật về công nghệ mới khác hẳn về nguyên
tắc thay thế hàng loạt các thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị hiện đại làm cho
năng suất và chất lợng sản phẩm lên cao.
Đây là giai đoạn biến đổi hẳn về chất của lực lợng sản xuất ở các nớc
t bản chủ nghĩa thì đây là thời kỳ mâu thuẫn của lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất lên cao tạo điều kiện cho sự ra đời của phơng thức sản xuất mới.
Quá trình diễn ra không đồng đều ở các nớc do nhiều nguyên nhân dễ
dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế.
Trên thế giới hình thành 3 nhóm nớc đó là các cờng quốc về kinh tế,
các nớc phát triển và đang phát triển. Sự phân chia này cũng hình thành nên
các mâu thuẫn cơ bản của xã hội, vấn đề cơ bản của các nớc đang phát triển
là đờng lối đấu tranh hoà bình giải quyết mâu thuẫn thông qua làm cuộc cách
mạng về kinh tế.
Việt Nam là một nớc có nền kinh tế nhỏ, lạc hậu về khoa học kỹ thuật,
lực lợng sản xuất còn non nớt cha phù hợp với quan hệ sản xuất của xã hội
chủ nghĩa. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không còn con đờng
nào khác là công nghiệp hoá, cơ khí hoá cân đối và hiện đại trên trình độ
khoa học kỹ thuật phát triển cao.
Muốn vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển tuần tự và phát
triển nhẩy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộc cách mạng đó là chuyển lao
động thô xơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao động máy móc sang
lao động tự động hoá có sự chỉ đạo của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
6
II - Một số vấn đề thực tiễn lý luận trong quá
trình thực hiện công nghiệp hoá.
1. Lý luận chung:
Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử sản xuất
vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan, phổ biến: Một
mặt, con ngời phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó,
quan hệ này đợc biểu hiện ở lực lợng sản xuất, mặt khác, con ngời phải quan
hệ với nhau để tiến hành sản xuất, quan hệ này đợc biểu hiện ở quan hệ sản
xuất. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng của
một thể thống nhất không thể tách rời - phơng thức sản xuất. Mỗi phơng
thứuc sản xuất đặc trng cho một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và lịch
sử xã hội loài ngời là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phơng thức sản
xuất, phơng thức sản xuất cũ lạc hậu tất yếu đợc thay thế bằng phơng thức
sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong mỗi phơng thức sản xuất thì lực lợng sản
xuất đóng vai trò quyết định. Lực lợng sản xuất chẳng những là thớc đo thực
tiễn của con ngời trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài ngời mà còn làm thay đổi quan hệ giữa ngời với ng-
ời trong sản xuất, thay đổi các quan hệ xã hội.
Tuy nhiên nếu lực lợng sản xuất là cái cấu thành nền tảng vật chất của
toàn bộ lịch sử nhân loại, thì quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở kinh tế
xã hội, là cơ sở hiện thực hiện hoạt động sản xuất tinh thần của con ngời của
toàn bộ những quan hệ t tởng, tinh thần và những thiết chế tơng ứng trong xã
hội.
C.Mác đã đa ra kết luận rằng: xã hội loài ngời phát triển trải qua nhiều
giai đoạn của sự phát triển đó là sự vận động theo hớng tiến lên của các hình
thành kinh tế xã hội, là sự thay thế hình thái kinh tế này bằng hình thái kinh
tế - xã hội khác cao hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không
ngừng của lực lợng sản xuất.
Rằng sự vật và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do tác
động của các quy luật khách quan.
Ph. Ang - ghen khẳng định "Lịch sử từ xa đến nay đã tiến triển theo
một quá trình tự nhiên, và về căn bản cũng bị chi phối bởi quy luật vận động
7
nh nhau". Dẫu luôn giữ quan niệm coi sự phát triển của hình thái kinh tế xã
hội là quá trình lịch sử tự nhiên, bị chi phối bởi quy luật nh nhau và "một xã
hội ngay cả khi đã phát hiện ra quy luật tự nhiên của sự vận động của nó
cũng không thể nào nhẩy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc
lệnh để xoá bỏ nhng giai đoạn đó, song C.Mác cũng cho rằng "nó có thể rút
ngắn và làm dịu bớt đợc những cơn đau đẻ". Điều đó có nghĩa rằng quá trình
lịch sử tự nhiên chẳng những có thể diễn ra tuần tự từ hình thaí kinh tế xã hội
này sang hình thái kinh tế xã hội nào đó, trong những điều kiện khách quan
và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Những t tởng cơ bản đó trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã
hội chính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hoá theo hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay là phù
hợp với quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta, của
thời đại.
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá hiện vẫn đang
đợc coi là phơng hớng chủ đạo, phải trải qua của các nớc đang phát triển. Đối
với nớc ta, khi những t tởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế
- xã hội đợc nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với t cách là cơ sở lý
luận của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc thì một mặt, chúng ta phải
đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để
nhanh chóng tạo ra lực lợng sản xuất, hiện đại cho chế độ xã hội mới. ở đây
"công nghiệp hoá thực chất là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản
xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn
với căn bản công nghiệp, tạo nền tảng cho sự tăng trởng nhanh, hiệu quả cao
và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bớc tiến
tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, hình
thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công
nghệ thế giới.
Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng và theo định hớng
XHCN. Đây là hai nhiệm vụ đợc thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động,
8
thúc đẩy hỗ trợ cùng phát triển. Bởi lẽ "nếu công nghiệp hoá - hiện đại hoá
tạo nên lực lợng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì vịec phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần chính là xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất
phù hợp".
Nh vậy, từ quan điểm của C.Mác về kết cấu chính thể của hình thái
kinh tế - xã hội với t cách là sự thống nhất biện chứng giữa lực lợng sản xuất
và quan hệ sản xuất cơ sở hạ tầng kiến trúc thợng tầng, chúng ta hoàn toàn có
đủ cơ sở lý luận để khẳng định rằng: sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá ở nớc ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để
tác động sâu xa đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội để xây dựng hình thái
kinh tế xã hội ở nớc ta. Nhiệm vụ lớn lao mà cuộc cách mạng đó phải thực
hiện là "tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất - kỹ thuật, về con ngời và
khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm góp phần
huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất
lao động, làm cho nền kinh tế tăng trởng nhanh và bền vững, nâng cao đời
sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ và
cải thiện môi trờng sinh thái".
a. Tổng kết, hệ thống, khái quát hoá của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá:
- Nh ta đã biết từ khi chủ nghĩa xã hội đuợc xây dựng tất cả các nớc
XHCN đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung. Cơ chế này duy trì
một thời gian khá dài và đợc xem là đặc trng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội.
Thật sự thì không phải nh vậy. Nền kinh tế tập chung không phải là sản phẩm
riêng biệt của Chủ nghĩa xã hội, cũng nh nền kinh tế thị trờng không phải là
duy nhất đợc thiết lập trong chủ nghĩa t bản. Nền kinh tế tập chung đã đợc
thiết lập trong chủ nghĩa t bản đợc các nơc st bản áp dụng từ trớc khi nhiều n-
ớc xác lập XHCN nhng họ đã xoá bỏ nó để chuyển sang cơ chế thị trờng. Nh-
ng công bằng mà nói cũng cha phải là cái duy nhất đảm bảo sự t ăng trởng và
phát triển xã hội theo quan điểm Mác - Lênin thì xã hội cộng sản là một xã
hội tiên tiến, con ngời có thể "làm theo năng lực hởng theo nhu cầu" nhng
thực tế trong chủ nghiã xã hội của cải xã hội cha đạt đến mức hết sức phong
phú, d thừa và cả trong giai đoạn tiếp theo, do vậy trong thời kỳ quá độ lên
9
chủ nghĩa xã hội thì tồn tại nền sản xuất kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị tr-
ờng bớc phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá là lẽ đơng nhiên.
Những năm vừa qua với việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng Việt
Nam đã làm thế giới ngỡ ngàng, ca ngợi. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã
hội nhập đợc với nền kinh tế tiên tiến hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế
mà chúng ta đã đạt đợc đã nói lên công cuộc đổi mới ở nớc ta là cuộc cách
mạng thật sự.
- Đổi mới ở nớc ta không chỉ giới hạn về lĩnh vực kinh tế mà còn tạo
điều kiện cho chúng ta nhận thức mới chính xác hơn về vấn đề lý luận và
thực tiễn về chủ nghĩa Mác - lênin t tởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, trớc đây ta nhận thức cha đúng, hơn thế ta còn nhận thức
sai lầm nghiêm trọng đầy ảo tởng duy ý chí về mình. Chúng ta đã nhận thức
lại và đánh giá đúng sự thật. Nhờ đổi mới t duy nhiều ván đề về công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đợc nhận thức lại.
- Bảo vệ vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, t tởng Hồ Chí
Minh. Đó là mục tiêu nhiệm vụ không kém phần quan trọng, làm sang tỏ
thêm ý nghĩa vai trò cách mạng của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá của nớc ta hiện nay. Chủ nghĩa Mác - lênin là khoa học và là một trong
những đỉnh cao của trí tuệ loài ngời, không có ai có thể phủ nhận rằng khi lý
luận đó đợc quán triệt và vận dụng đúng đắn thì nhân dân thế giới đã làm lên
biến cố lịch sử vĩ đại do vậy Đảng ta đã tuyên bó lấy chủ nghĩa Mác - Lênin,
t tởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng.
- Các nớc t bản chủ nghiã đã thực hiện thành cờng quốc về kinh tế, nh-
ng họ lại bất lực trớc vấn đề giải quyết quanhệ xã hội họ mang t tởng bảo thủ
lấy hiện tợng che lấp bản chất, công cuộc đổi mới mục đích là vì kinh tế chứ
không phải là vì con ngời. Một xã hội vẫn tồn tại sở hữu t nhân về t liệu sản
xuất là chính thì con ngời chỉ là kẻ làm thuê luôn bị bóc lột sức lao động của
mình không hởng quyền của con ngời. Hiện nay Đảng ta đã đi đôi với công
nghiệp hoá đất nớc phải thực hiện mục tiêu "ổn định chính trị, xây dựng nhà
nớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân".
- Một mục tiêu cực kỳ quan trọng thể hiện rõ tính cách mạng của công
nghiệp hoá Việt Nam đó là phấn đấu xây dựng nớc ta trở thành quốc gia công
10
nghiệp hoá - hiện đại hoá "dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng và văn
minh".
b. Đờng lối chỉ đạo:
- Nội dung của công nghiệp hoá ở nớc ta bao gồm 2 nội dung chủ yếu
là trang bị kỹ thuật và công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Các Mác nhận xét khoa học là động lực của công nghiệp hoá - hiện
đại hoá". Vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, hội
nghị TW II một lần nữa nhấn mạnh "cùng với giáo dục và đào tạo khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu là động lực phát triển kinh tế xã hội, là
điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, là nhân tố quyết định công nghiệp hoá - hiện đại hoá"
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá là một hoạt động có ý thức, có kế hoạch và do đó tất yếu phải
dựa vào nhân tố dân số và nhu cầu, điều kiện tự nhiên và tiềm tàng của đất n-
ớc, điều kiện phát triển của lực lợng sản xuất khoa học kỹ thuật và công
nghệ, nguồn vốn tích lũy quan hệ kinh tế quốc tế. Theo qui luật của vận động
thì đấu tranh là cha đẻ của vận động. ở nớc ta là một nớc có nền kinh tế thấp
thì việc tồn tại 5 thành phần kinh tế là tất yếu. 5 thành phần đó là: kinh tế nhà
nớc (quốc doanh), kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế t nhân và kinh tế t
bản nhà nớc trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo dới sự lãnh đạo của
Nhà nớc. Việc tồn tại 5 thành phần kinh tế là khách quan nhng kiểm soát đợc
nhằm đảm bảo các qui luật của cạnh tranh (có cạnh tranh mới có phát triển)
của nội bộ ngành kinh tế theo hớng XHCN.
Tổng kết: Nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội và về thời kỳ quá độ,
từ nhận thức trên nền trong thực tiễn không thể dẫn đến những sai lầm nôn
nóng trong cách làm và bớc đi, thiếu kết hợp hài hoà quá trình vận dụng quy
luật tuần tự với qui luật nhảy vọt, để tìm ra mô hình phát triển nhanh, đa nớc
ta phát triển theo định hớng đã định.
- áp dụng một cách máy móc mô hình "kinh tế chỉ huy" và theo đó là
cơ chế quan liêu bao cấp mang nặng tính hiện vật kéo dài, chính mô hình và
cơ chế này đã vi phạm nghiêm trọng qui luật lợi ích của ngời lao động và của
11
chủ thể kinh tế. Vô tình hay hữu ý đã xoá đi những mặt tích cực của kinh tế
thị trờng, làm kìm hãm sự phát triển khoa học công nghệ và lực lợng sản
xuất.
2. Thực tiễn:
a. Kinh nghiệm của các nớc đi trớc cho thấy mọi quá trình công
nghiệp hoá thành công cho đến nay đều đòi hỏi phải có các điều kiện sau
đây:
+ Thứ nhất là thị trờng. Lịch sử nhân loại cha có một quốc gia nào khi
công nghiệp hoá mà không cần đến thị trờng, vốn, công nghệ, lao động, tài
nguyên. Các chính sách tự do hoá thơng mại, giá cả, tín dụng Là cực kỳ
quan trọng trong việc mở rộng thị trờng trong nớc còn thị trờng ngoài nớc,
trong thời kỳ trớc các quốc gia đã phải dùng chiến tranh để phân chia thị tr-
ờng thế giới. Ngày nay ngời ta không còn chiến tranh mà vẫn mở rộng thị tr-
ờng thông qua thoả thuận ký kết các hiệp nghị thơng mại giữa các quốc gia
trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Đối với Việt Nam thì thị trờng có ý nghĩa rất
quan trọng, đồng thời Việt Nam là thị trờng hấp dẫn cho việc đầu t nớc ngoài.
+ Nguồn nhân lực: Đây là một trong những hạt nhân của lực lợng sản
xuất. Thực tế ở các nớc đã tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá cho thấy
là việc xác lập một cơ cấu nguồn nhân lực thích hợp, đầu t tài chính đủ cho
giáo dục và y tế, thực hiện cơ chế thị trờng trong việc sử dụng nhân lực kết
hợp với chính sách u đãi.
Là nguồn gốc cơ bản của thành công. Đối với Việt Nam không còn
con đờng nào khác là hợp tác trung tâm kỹ thuật có nguồn nhân lực chất lợng
cao đồng thời đẩy mạnh giáo dục đào tào.
+ Thứ ba là công nghệ và vốn: Để phát triển lực lợng sản xuất phù hợp
với quan hệ sản xuất của XHCN thì không thể không cần đến công nghệ và
vốn. Thực tế cho thấy các nớc đi trớc phát triển công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đều dựa chủ yếu vào phát triển công nghệ và vốn. Đối với Việt Nam thì
thu hút vốn và công nghệ tiên tiến của nớc ngoài là cần thiết đồng thời có
chính sách thu hút vốn trong nớc và phát triển công nghệ với 3 đặc trng chủ
yếu trên mô hình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam phải tận dụng tối
12
đa lợi thế của nền kinh tế phát triển cao hơn, có chính sách cụ thể đúng đắn
để điều chỉnh sự vận động của các nhân tố trên phục vụ đắc lực vào thực tiễn.
b. Phơng hớng nội dung, mục tiêu của công nghiệp hoá.
- Phơng hớng hiện nay là công nghiệp hoá theo hớng hiện đại hoá và
công nghiệp hoá phát triển theo mô hình công nghiệp hoá rút ngắn. Mô hình
này thừa kế tất cả u việt của mô hình công nghiệp hoá ở các nớc trên thế giới
đồng thời tính đến đặc điểm cụ thể thiên nhiên con ngời Việt nam.
+ Nội dung tuỳ thuộc vào giai đoạn mà Đảng đã đề ra từng nội dung
cụ thể.
Năm 1960 - 1966 nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắc
mà mấu chốt là u tiên phát triển nông nghiệp.
Năm 1976 đến 1980 nội dung của công nghiệp hoá là tập trung sức
phát triển nông nghiệp đa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN ra sức đảy
mạnh hàng tiêu dùng tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan
trọng.
Năm 1986 đến 1990 thật sự tập trung sức ngời sức của vào thực hiện
bằng đợc ba chơng trình mục tiêu về sản lợng thực phẩm, hàng tiêu dùng và
sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Mục tiêu xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh
vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Mục tiêu này cho thấy sự nghiệp đó là một cuộc cách mạng toàn diện
sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó trớc hết là vì con ng-
ời do con ngời.
c. Yêu cầu nảy sinh khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong bối cảnh hiện nay công nghiệp hoá hiện đại hoá đợc coi là xu h-
ớng phát triển chung của cả nớc đang phát triển. Đối với nớc ta cha thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu thì công nghiệp hoá - hiện đại hoá là
"nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt từ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" là
13
con đờng tất yếu để đa ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu thì trớc tiên phải chăm
lo phát triển kinh tế, song sẽ là sai lầm nếu không quan tâm giải quyết tốt
những vấn đề xã hội, không tạo ra cân dối hài hoà giữa kinh tế và xã hội.
Cho đến nay Việt nam sau 10 năm đổi mới đã đạt đợc những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tại Đại hội Đảng VIII Đảng ta đã khẳng định
"nớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhng một số mặt còn cha vững
chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền
đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép nớc ta chuyển sang
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
III. ý kiến cá nhân:
1. Để công nghiệp hoá - hiện đại hoá thành công:
Không thể thiếu các hạt nhân của nó, muốn phát huy đợc vai trò của
nó ta phải phát triển nó.
a. Phát triển nguồn nhân lực:
Để triển khai những ý tởng về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trớc mắt
cũng nh lâu dài phải tính đến yếu tố hàng đầu của nguồn nhân lực. ở đây vấn
đề là giáo dục là cái nền của chất lợng nhân lực, không phải nhân lực chung
chung mà ở đây nhân lực của một nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Ngoài việc bồi dỡng, đào tạo và phát triển nhân lực còn đòi hỏi phải
chú ý đến chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
b. Phát huy sức mạnh của năm thành phần kinh tế.
Muốn vậy phải kiểm soát giảm những yếu tố tự phát trong cơ chế mới
và đảm bảo nó phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
c. Về thị trờng và vốn:
Thị trờng cũng là một nhân tố quan trọng, là nơi mà công nghiệp hoá
có thể thành công, là môi trờng cạnh tranh tạo sự phát triển về kinh tế nó là
nơi giải quyết các mâu thuẫn tồn tại bên trong nền kinh tế. Do vậy chúng ta
cần chú ý đến cả thị trờng trong nớc và ngoài nớc để tạo ra động lực.
d. Bên cạnh các nhân tố làm nên công nghiệp hoá còn rất nhiều các yếu
tố liên quan đến chính sách của Nhà nớc, tài nguyên, môi trờng tự nhiên
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét