5 Download:: http://Agriviet.Com
Chơng 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.Tình hình phát triển kinh tế trang trại
1.1.1.Trên thế giới
Trang trại kinh tế gia đình là loại hình sản xuất Nông - Lâm - Ng nghiệp của hộ
gia đình đợc hình thành và phát triển. nhất là từ khi phơng thức sản xuất t bản thay
thế phơng thức sản xuất phong kiến, khi nền kinh tế tự cung, tự cấp bắt đầu chuyển
sang nền kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trờng mà khởi đầu là cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất ở các nớc Tây Âu nh: Anh, Pháp và tiếp tục cho đến nay [22,8].
Từ cuối thế kỷ XVII Vơng quốc Anh là một trong những nớc thực hiện cuộc
cách mạng công nghiệp hóa sớm nhất thế giới, xuất phát từ đặc điểm của sản xuất công
nghiệp là sản xuất tập trung quy mô lớn nên họ cho rằng: Trong nền kinh tế hàng hóa t
bản chủ nghĩa, nông nghiệp cũng phải xây dựng thành các xí nghiệp tập trung với diện
tích và quy mô sản xuất lớn nh mô hình của các xí nghiệp sản xuất công nghiệp.
Do đó trong thời gian này chủ trơng đẩy mạnh quá trình tập trung tích tụ ruộng
đất, xây dựng các xí nghiệp nông nghiệp t bản với quy mô lớn làm phá sản các trang
trại gia đình nhỏ lẻ, phân tán.
Những ngời đi theo khuynh hớng này rất tin tởng là mô hình mới sẽ tạo ra
lợng hàng hóa nông sản lớn, giá rẻ hơn hàng sản xuất của các gia đình quy mô sản
xuất nhỏ và phân tán.
Nhng các xí nghiệp Nông-Lâm sản xuất với quy mô lớn, thuê mợn nhiều lao
động đã không thành công nh kết quả mong đợi. Do đặc điểm và đối tợng sản xuất
nông - lâm nghiệp khác với công nghiệp, đó là sự tác động vào các cơ thể sống (vật
nuôi, cây trồng) mang những đặc điểm sinh vật học của các loài rất khác biệt và thể
hiện tính thời vụ sâu sắc, hơn nữa quá trình sản xuất lại phụ thuộc rất nhiều vào thiên
nhiên nh : Điều kiện khí hậu, đất đai
Vì vậy không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung nh ngành công nghiệp.
Việc sử dụng lực lợng lao động lớn là rất lãng phí (do tính thời vụ, tình hình thời tiết)
6 Download:: http://Agriviet.Com
có ảnh hởng rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh, dẫn tới hiệu quả kinh tế của xí
nghiệp Nông nghiệp t bản thấp hơn hiệu quả kinh tế của trang trại hộ gia đình quy mô
nhỏ [22,8,9], điều này đã làm mất dần u thế của các trang trại kiểu t bản.
Sản xuất tập trung quy mô lớn đã nhờng lại cho sự phát triển trang trại hộ gia
đình quy mô vừa và nhỏ. Cho đến những thập niên cuối của thế kỷ XX, trang trại hộ gia
đình đã trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới, chiếm
tỷ lệ đất đai canh tác và khối lợng lớn nông sản làm ra [23,7].
Quá trình hình thành và phát triển đến nay, kinh tế trang trại hộ gia đình tiếp tục
phát triển ở những nớc có nền công nghiệp phát triển và nền công nghiệp đang phát
triển. Các nớc T Bản công nghiệp và các nớc Xã hội Chủ nghĩa. Với sự khác biệt
nhất định về quy mô, phơng pháp tiến hành sản xuất và định hớng kinh doanh. Điều
đó chứng tỏ rằng tính đa dạng của kinh tế trang trại phù hợp với điều kiện của mỗi nớc
xét trên góc độ kinh tế, điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội, phong tục tập quán.
Sự phát triển kinh tế trang trại gia đình ở các nớc trên thế giới có những biến
động theo các chiều hớng khác nhau kể cả về mặt số lợng, quy mô và diện tích.
N ớc Mỹ là nơi có kinh tế trang trại rất phát triển năm 1950 có 5,648 triệu trang
trại, đến năm 1960 còn 3,962 triệu trang trại, năm 1970 còn 2,954 triệu và đến năm
1992 còn 1,925 triệu trang trại, giảm bình quân là 2,6% trong khi đó diện tích bình
quân trang trại tăng lên năm 1950 là 86 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 2002 là 150 ha.
Diện tích trang trại tăng bình quân là 2% [25,8].
Các nớc T bản Châu Âu, Anh quốc từ năm1950 đến 1987 lợng trang trại
giảm bình quân hàng năm là 2,1%, ở Pháp Từ năm 1955-1993 số lợng trang trại giảm
hàng năm là 2,7%.
Diện tích trang trại qua các năm có xu hớng tăng, ở Anh Quốc năm 1950 diện
tích trang trại bình quân là: 36 ha, năm 1978 là 71 ha, ở Pháp năm 1955 là 14 ha, năm
1985 là 15 ha, Hà Lan năm 1950 là 7 ha, năm 1987 là 16 ha [25,98].
Số liệu trên đây cho thấy ở Mỹ và các nớc T bản Tây Âu số lợng trang trại có
xu hớng giảm nhng quy mô diện tích của trang trại tăng lên. Đó là kết quả của quá
trình tích tụ, tập trung đất đai của các chủ trang trại.
Châu á là châu lục có mật độ dân số cao và diện tích bình quân trên đầu ngời
thấp nhất thế giới. Kinh tế trang trại chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện
7 Download:: http://Agriviet.Com
xã hội, phơng thức canh tác lạc hậu còn tồn tại trên nhiều quốc gia, đặc biệt là các
nớc này phải chịu sức ép của sự gia tăng dân số là rất lớn. nên sự phát triển trang trại
có phần khác biệt về quy mô và số lợng so với các nớc châu Âu và châu Mỹ.
Một số nớc Châu á nh: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những quốc gia đi
đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp hoá và cũng là những nớc sớm du nhập phơng
thức sản xuất T bản, đã xuất hiện hình thức kinh tế trang trại trong Nông - Lâm
Nghiệp.
Do đặc điểm vùng Đông Bắc á đất chật ngời đông nên diện tích bình quân một
trang trại ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc chỉ khoảng 1 ha so với diện tích bình
quân trang trại ở các nớc Tây Âu là 20-30 ha và nớc Mỹ là 150-180 ha thì nhỏ hơn
rất nhiều.
Kinh tế trang trại hiện nay đang có xu hớng giảm về số lợng và tăng về diện
tích.
Số lợng trang trại ở Nhật Bản trong những năm qua nh sau :
Năm 1950 có 6.176 trang trại, diện tích bình quân là 0,8 ha, năm 1995 là 5.382
trang trại, diện tích trung bình của mỗi trang trại là 1,5 ha.
Đối với trang trại lâm nghiệp thì khoảng 58% số trang trại có quy mô diện tích
nhỏ hơn 1 ha, 30% trang trại có quy mô từ 1 - 5 ha, số trang trại có diện tích
từ 5-10 ha chiếm 6% và có 0,4% số trang trại có diện tích từ 50 đến 100 ha [9].
Thời kỳ đầu giai đoạn công nghiệp hoá ở Đài Loan (1952-1970) số lợng trang
trại tăng từ 679.750 lên 880.274 và quy mô diện tích bình quân của trang trại giảm từ
1,29 ha xuống còn 1,03 ha.
Giai đoạn công nghiệp ở trình độ cao (1970-1996) số lợng trang trại giảm
xuống còn 779.000 và diện tích trung bình của mỗi trang trại tăng lên 1,2 ha.
Hàn Quốc thời kỳ (1953-1965) số lợng trang trại tăng từ 2.249 lên 2.507 với quy
mô diện tích bình quân một trang trại là 0,9 ha. Thời kỳ (1970 - 1999) số lợng trang trại
giảm xuống còn 1.700 và quy mô diện tích bình quân một trang trại là 1,2 ha.
1.1.2. ở Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta đã có từ lâu. Nhất là
ở vùng miền núi, trung du và Tây nam bộ gắn với quá trình khai hoang lấn biển đã có
8 Download:: http://Agriviet.Com
những mô hình tiêu biểu nh: Trớc năm 1945 ông T Yến đã thành lập đợc một trang
trại ở gần thị xã Buôn Mê Thuật chuyên môn hóa trồng và sản xuất cà fê diện tích 3
ha. Doanh thu mỗi năm từ 200-300 triệu đồng (theo giá năm 1993) trang trại của ông
vẫn tồn tại phát triển cho đến ngày nay. Hoặc sau năm 1975 ở thị trấn Nghĩa Lộ gia
đình bà Thân đã xây dựng đợc trang trại với diện tích 1,5 ha sản xuất các loại rau và
giống rau thơng phẩm, đồng thời kết hợp nuôi trâu bò trên 20 con. Nhờ đó bà có thu
nhập và cuộc sống ổn định [35,50].
Vùng Đồng Tháp Mời đã hình thành hàng loạt các trang trại chuyên sản xuất
lúa với quy mô diện tích từ 5-25 ha đất canh tác thực hiện 1 đến 2 vụ lúa một năm thu
hoạch hàng trăm tấn thóc. ở các vùng khai hoang lấn biển đã hình thành các trang trại
nuôi trồng thủy sản nh: Tôm, cua phục vụ xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nớc.
Quy mô diện tích từ 2 -30 ha, cá biệt có trang trại trên 100 ha [35,51].
Vùng trung du và miền núi các trang trại nông lâm nghiệp đã đợc hình thành
trồng các loại cây ăn quả, cây lấy gỗ, quy mô diện tích từ 5 đến 30 ha có trang trại trên
100 ha.
Theo số liệu điều tra năm 1989 nớc ta có: 5.215 trang trại đến năm 1992 tăng
lên 13.246 trang trại gấp hơn 2,53 lần. Diện tích đất sử dụng thời gian này đã tăng từ
1,96 lên 6,8% tăng hơn 3,57 lần.
Đặc biệt tỷ suất nông lâm sản hàng hóa của trang trại năm 1992 đã chiếm 78,6%
[35,53].
Quy mô trang trại ở nớc ta cũng rất khác nhau phụ thuộc vào ruộng đất và định
hớng kinh doanh Nông - Lâm nghiệp chăn nuôi hoặc Nông - Lâm - Ng nghiệp. Phần
lớn diện tích biến động từ 2-30 ha. Cá biệt có trang trại lên tới gần
300 ha đó là trang trại ông Nguyễn Hữu Giảng ở Mê Linh - Phú Thọ có 220 ha
rừng trồng trên đất trống, đồi núi trọc và 70 ha rừng tái sinh nhận chăm sóc bảo vệ
[35,52,53].
Nhìn chung lịch sử hình hành và phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta theo thời
gian, không gian và quy mô sản xuất với những phơng thức nhất định, ở những vùng
có điều kiện đất đai thì đã thực hiện sản xuất hàng hóa tuy nhiên còn ở mức độ khác
nhau phụ thuộc vào truyền thống, trình độ canh tác của vùng.
9 Download:: http://Agriviet.Com
Những năm gần đây trang trại hộ gia đình ở nớc ta phát triển khá mạnh, nhất là
các vùng trung du, miền núi và ven biển kể cả về số lợng, tốc độ và quy mô ngày
càng lớn. Đây thực sự là một quá trình chuyển biến từ lợng sang chất của kinh tế
trang trại hộ gia đình.
Theo báo cáo của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày
1/10/2002, cả nớc đã có 60.758 trang trại, trong đó số trang trại trồng trọt là 38.412
(63,2%), chăn nuôi có 1.762 (2,9%), lâm nghiệp có 1.630 (2,7%), nuôi trồng thủy sản
có 16.951 (27,9%) và kinh doanh tổng hợp có 2.006 (3,3%).
Các trang trại đã sử dụng 369.600 ha đất và mặt nớc, trong đó đất trồng cây
ngắn ngày là 137.700 ha, chiếm 37,3%, đất trồng cây lâu năm là 96.100 ha (26%), đất
lâm nghiệp là 69.300 ha (18,7%), diện tích mặt nớc nuôi trồng thủy sản là 66.500 ha
(18%), bình quân một trang trại sử dụng 6,08 ha đất đai.
Trong năm 2002 số lao động thờng xuyên làm việc ở các trang trại trong phạm
vi cả nớc là 374.701 ngày công, lao động của chủ hộ trang trại đóng góp là 168.634 và
lao động phải thuê ngoài là 206.067 ngày công. Bình quân mỗi một trang trại sử dụng
6,2 lao động. Tổng số vốn đầu t của các trang trại đã lên đến 8.294,7 tỷ đồng, bình
quân 1 trang trại đã đầu t 136.500.000 đồng, trong đó vốn tự có của chủ trang trại là
7.021 tỷ đồng (chiếm 84,6%); vốn vay ngân hàng là 1.096,9 tỷ đồng (chiếm 13,2%) và
vay các nguồn vốn khác là 176,9 tỷ đồng chiếm 2,2%.
Tuy mới ra đời và phát triển, nhng năm 2000, kinh tế trang trại đã đạt 5.360,9 tỷ
đồng, bình quân mỗi trang trại đạt 88.200.000đồng. Giá trị hàng hoá và dịch vụ bán ra
đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81.700.000 đồng. Nh vậy, kinh tế
trang trại đã có tỷ suất hàng hoá đạt 92,6%. Thu nhập của các trang trại là 1.905,8 tỷ
đồng, bình quân một trang trại đạt 31,5 triệu đồng, thu nhập bình quân một ngời trong
tháng của các nhân khẩu của chủ hộ trang trại là 584.000đồng, gấp 2,5 lần mức bình
quân nhân khẩu ở khu vực nông thôn.
Bình quân một trang trại đầu t 136,5 triệu đồng. Điều này cho thấy kinh tế trang
trại đã thu hút một khối lợng vốn khổng lồ và một lực lợng lao động rất lớn tham gia
vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần giải quyết công ăn việc làm của lao động
ở nông thôn [26, 403-404].
10 Download:: http://Agriviet.Com
1.2. Tình hình nghiên cứu trang trại
1.2.1.Trên thế giới
Vấn đề trang trại đặc biệt là trang trại hộ gia đình đã đợc các nớc, các tổ chức
quốc tế và các nhà khoa học hết sức quan tâm, đã có nhiều công trình đi sâu vào nghiên
cứu những vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế trang trại, đề ra các giải pháp nhằm khắc
phục, tháo gỡ những điều còn bất cập trong quá trình xây dựng và phát triển. Nhà kinh
tế học ngời Nga Trai Nop đã tổng kết các kinh nghiệm về xây dựng và phát triển kinh
tế trang trại ở Mỹ, Anh, Pháp , Đức và ở Nga trong thời kỳ cải cách nông nghiệp (1906-
1910), đã chứng minh hiệu quả và sức sống mãnh liệt của kinh tế hộ nông dân trên
mảnh đất của họ. Những năm gần đây kinh tế trang trại đã lớn mạnh về nhiều mặt.
Cùng với sự hợp tác, giúp đỡ của các nớc phát triển, các tổ chức quốc tế, các tổ chức
phi chính phủ với các nớc đang phát triển thông qua các chơng trình hợp tác kỹ thuật,
chơng trình lâm nghiệp xã hội đợc thực hiện dới hình thức các dự án hỗ trợ đầu t
cho các hộ gia đình ở giai đoạn ban đầu xây dựng trang trại.
Năm 1982 tổ chức FAO đã tài trợ cho một số dự án nghiên cứu các hoạt động
lâm nghiệp ở Bang Gugarat (ấn Độ). Nông dân các huyện Bhargagr và Khada ở Bang
này đã đợc tham gia vào các hoạt động trang trại. Thực hiện các mô hình sản xuất mới
đó là kỹ thuật trồng thâm canh và xen canh các loài cây, ứng dụng tiến bộ mới trong
khâu khai thác và chế biến nông lâm sản mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các nông
trại.
Ngời ta dùng phơng pháp so sánh giữa tỷ số trong chi phí đầu t và lợi ích
thu đợc từ hoạt động trang trại với các loại hình sản xuất kinh doanh các loài cây
trồng khác qua đó tự ngời dân sẽ kết luận mô hình nào là hiệu quả [34].
ở Harahigh lands Etrrn Ethiopia do mật độ dân số cao, nông nghiệp kém phát
triển, không đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của nhân dân trong vùng, dẫn đến tình
trạng khai thác tài nguyên rừng quá mức làm ảnh hởng xấu đến môi tr
ờng.
11 Download:: http://Agriviet.Com
Một tác giả tình nguyện ngời Đức đã thực hiện nghiên cứu và xây dựng hệ
thống trang trại trong 3 năm, ông sử dụng phơng pháp lôgic và tiếp cận đi từ điều tra
tình hình đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của khu vực, hiện trạng
sử dụng đất đai, trình độ canh tác và khả năng cung cấp sản phẩm cho nông dân đối với
các loại cây đem trồng.
Nhằm đa ra đợc hệ thống trang trại phù hợp, tập trung các mối liên kết của các
trang trại Nông- Lâm nghiệp, thiết kế các mô hình nông lâm kết hợp và phơng pháp dự
đoán của ICRAF đã khắc phục đợc nạn phá rừng, khai thác lâm sản quá mức, cải thiện
đợc môi trờng và ổn định đời sống nhân dân trong vùng [39].
ở Nêpan với sự giúp đỡ của Chính phủ Australia dự án lâm nghiệp xã hội Nêpan
- Australia (NAFP) giữa chính phủ Nêpan và cục trợ giúp phát triển Australia (AIDAB),
nội dung của dự án là nghiên cứu sự xói mòn đất ở Nêpan và những nguyên nhân gây
nên. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là hoạt động sử dụng đất không
hợp lý của con ngời đã tác động đến dòng chảy của các sông đổ vào ấn Độ và
Bangladesh, gây ra lũ lụt và lắng đọng trầm tích ở vùng hạ lu, dự án đã chỉ ra cho thấy
việc trồng rừng không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế và môi trờng sinh thái mà còn
mang lại lợi ích cho quốc gia trong khu vực. Trong dự án này ngời ta đã sử dụng phơng
pháp phân tích chi phí và thu nhập để phân tích tài chính của các hộ khi tham gia trồng rừng
và đánh giá hiệu quả kinh tế [40].
1.2.2. ở Việt Nam
1.2.2.1. Những nghiên cứu về lý luận
Phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam một vấn đề còn tơng đối mới. Bởi vậy nó
phong phú cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn đối với đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi
mới chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc theo định hớng Xã hội Chủ nghĩa.
Trong những năm gần đây trang trại gia đình phát triển mạnh mẽ và nảy sinh không ít
vấn đề cần giải quyết đã đợc đăng tải trên các phơng tiện Thông tin đại chúng cũng nh
trong các tài liệu nghiên cứu.
Vấn đề trang trại ở nớc ta đang đợc nhiều nhà khoa học tìm tòi, nghiên cứu và đã
đa ra những quan điểm và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại. Tác giả Trần Đức
12 Download:: http://Agriviet.Com
cho rằng: Trang trại sẽ là lực lợng chủ lực trong các tổ chức sản xuất Nông - Lâm nghiệp ở
các nớc T bản cũng nh các nớc đang phát triển và khẳng định đây là một hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh của nhiều quốc gia trên thế giới trong thế kỷ XX [23].
Quan niệm về kinh tế trang trại ở nớc ta Lê Trọng đã đa ra nh sau :
Kinh tế trang trại bao gồm kinh tế Nông - Lâm - Ng trại, là hình thức tổ chức kinh tế
bao gồm chủ trang trại và một số lợng lao động nhất định đợc trang bị t liệu sản xuất để
tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trờng [35].
Trần Hữu Quang đa ra ý kiến của mình: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất
Nông - Lâm nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có t cách
pháp nhân và tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức
năng chủ yếu là sản xuất hàng hoá Nông - Lâm sản, tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình
và đáp ứng nhu cầu xã hội .
Từ những quan điểm của mình, các tác giả đã đa ra một số giải pháp về chính sách
nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay. Những
cuộc hội thảo khoa học, chơng trình và đề tài nghiên cứu về trang trại đã đợc đề cập ở
nhiều góc độ khác nhau.
Dự án lâm nghiệp cấp trang trại do chơng trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển
(SIDA) đã đợc thực hiện năm 1987 trên địa bàn 3 tỉnh: Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn và Hà
Tuyên. Kết quả bớc đầu của thời kỳ dự án (1987 - 1999) đợc đánh giá: Dự án đã hỗ trợ 3
tỉnh 23,2 triệu cây đợc trồng trên địa bàn 32 huyện trong số 40 huyện thuộc 3 tỉnh. Từ năm
(1991 -1994) các tỉnh đã trồng đợc gần 60 triệu cây trong vùng dự án (gồm có cây ăn quả,
cây công nghiệp, cây dợc liệu và cây lâm nghiệp).
Nhìn chung các nớc ở Châu á quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra chậm, đất
đai bị phân chia thành nhiều mảnh nhỏ lẻ, phân tán là một trong những trở ngại lớn trong
việc phát triển kinh tế trang trại.
Vấn đề tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa từ nhiều mảnh đất canh tác nhỏ lẻ thành
mảnh lớn, để mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị tr
ờng . Quá trình
hình thành các trang trại hộ gia đình chịu sự tác động của sự cạnh tranh, phân hóa và chính
sách pháp luật của Nhà nớc [25,101].
Dự án nghiên cứu về khả năng phát triển các loài cây phục vụ cho chơng trình phát
triển trang trại .
13 Download:: http://Agriviet.Com
Đề tài KN 03-05 thuộc chơng trình KN 03 do Giáo s - Tiến sỹ Phùng Ngọc Lan
làm chủ nhiệm đề tài : "Nghiên cứu xây dựng mô hình lâm nghiệp xã hội vùng đồi núi phía
Bắc Bắc Bộ"[28] thực hiện từ tháng 6/1992 đến tháng 9/1995. Đã đề cập đến những nội dung
và kết quả đạt đợc một cách cụ thể trong đó có những nội dung cần quan tâm.
Gần đây nhất là đề tài "Nghiên cứu hiện trạng kinh tế trang trại ở các tỉnh miền núi
Phía Bắc, đề xuất một số kiến nghị về định hớng chính sách nhằm khuyến khích phát triển
trang trại lâm nghiệp ở nớc ta hiện nay" [38] do Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuấn làm chủ nhiệm
đề tài. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và tình hình sản xuất kinh doanh của các trang trại
lâm nghiệp ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc, làm cơ sở để đa ra một số giải pháp thiết thực cho sự
phát triển kinh tế trang trại của khu vực nghiên cứu.
1.2.2.2. Những lý luận cơ bản về kinh tế trang trại
+ Khái niệm về kinh tế trang trại
Hiện nay ở nớc ta đang tồn tại một số khái niệm về kinh tế trang trại, sự khác nhau
này chủ yếu là do cách tiếp cận khác nhau.
Một số ý kiến cho rằng: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Nông - Lâm - Thuỷ sản của hộ gia đình theo cơ chế thị trờng. Những đặc trng chính của
trang trại là quy mô sản xuất hàng hóa lớn hơn nhiều so với hộ gia đình nông dân và hàng
hoá đợc sản xuất theo nhu cầu của thị trờng. Với cách hiểu này dẫn đến quan niệm là các
chính sách quản lý kinh tế trang trại cũng giống nh quản lý hộ kinh tế gia đình.
Một số ý kiến quan niệm rằng: Kinh tế trang trại là hình thức doanh nghiệp sản xuất
trong lĩnh vực Nông - Lâm - Ng nghiệp. Những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại là
quy mô sản xuất hàng hoá lớn, áp dụng đợc các tiến bộ kỹ thuật mới và mục tiêu là tìm
kiếm lợi nhuận. Chính sách và phơng pháp quản lý trang trại cần vận dụng nh đối với các
doanh nghiệp Nông - Lâm nghiệp.
Một số quan điểm khác cho rằng: kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quá
độ trong nông nghiệp, nó vừa mang phơng thức sản xuất của doanh nghiệp trong nông thôn
lại vừa mang tính chất kinh tế của hộ gia đình. Do đó cần có những công trình nghiên cứu
khoa học thận trọng để xây dựng hệ thống chính sách và phơng pháp quản lý riêng cho loại
hình sản xuất mới ở nớc ta.
Trong giai đoạn hiện nay mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhng điều quan
trọng là phải làm rõ 2 loại hình sản xuất này.
14 Download:: http://Agriviet.Com
+ Phân biệt kinh tế trang trại và kinh tế nông hộ
Kinh tế trang trại khác với kinh tế nông hộ kể cả về hình thức, quy mô và tính chất
sản xuất. Nó đã xác định rõ đợc mục tiêu kinh doanh và có chiến lợc trong sản xuất hàng
hoá cũng nh thị trờng tiêu thụ, nó có thể phân loại theo quy mô sản xuất lớn, trung bình và
nhỏ. Nhng không thể nhập kinh tế trang trại với kinh tế nông hộ là một bởi những lý do sau
[35,7-91].
Kinh tế nông hộ thực chất là kinh tế tiểu nông, một hình thức kinh tế sản xuất nhỏ
đợc hình thành dới chế độ phong kiến, sản phẩm hàng hoá làm ra chủ yếu là tự túc, tự cấp
mà tàn d của nó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Trong khi đó kinh tế trang trại về mặt
bản chất là hình thức sản xuất t bản chủ nghĩa, hàng hoá đợc sản xuất quy mô lớn, tập
trung chủ yếu là để bán ra thị trờng, hoạt động này thờng phải có sự thuê mớn lao động.
Đó là những đặc trng chủ yếu khác biệt giữa kinh tế nông hộ và kinh tế trang trại.
Quá trình chuyển biến từ kinh tế nông hộ sang kinh tế trang trại thực sự là quá trình biến đổi
từ lợng sang chất. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý và phát triển kinh tế trang trại.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/ 02/ 2000 [27] về kinh tế trang
trại, trong đó đã đa ra quan điểm của nhà nớc để phát triển kinh tế trang trại. Theo Nghị
quyết 03 thì "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông lâm
nghiệp, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất
trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và trồng rừng gắn với chế biến và
tiêu thụ Nông- Lâm- Thuỷ sản". Đây là khái niệm chính thống đang đợc sử dụng hiện nay
trong các hoạt động quản lý, nghiên cứu đối với kinh tế trang trại.
1.2.2.3. Những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại hộ gia đình
+ Mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá Nông- Lâm- Thủy sản đáp
ứng nhu cầu thị trờng [38].
Hầu hết kinh tế trang trại đều đi lên từ kinh tế hộ nông dân, trong quá trình phát triển
kinh tế hộ gia đình đã vợt qua đợc giai đoạn tự cung tự cấp, vơn lên sản xuất hàng hoá
Nông-Lâm sản bán ra thị tr
ờng nhằm thu lợi nhuận, cũng là lúc kinh tế trang trại hình
thành, quy mô sản xuất đợc mở rộng, trình độ tổ chức quản lý ngày càng nâng cao theo
hớng hạch toán kinh tế. Thực hiện sản xuất hàng hoá với số lợng lớn, đáp ứng nhu cầu thị
trờng, tìm kiếm lợi nhuận là đặc trng quan trọng nhất của kinh tế trang trại .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét