phát minh, sáng chế, kinh nghiệm tay nghề, bí quyết. Xét trên diện rộng, ngời ta
có thể coi tài nguyên lao động cũng là vốn.
Chính vì thế vốn là một nhân tố quan trọng không thể thiếu đợc đối với
một doanh nghiệp. Bởi vì phải có vốn thì doanh nghiệp mới đảm bảo đợc sự vận
hành thờng xuyên và có khả năng tăng trởng trong tơng lai. Nói một cách khác
vốn chính là một tất yếu khách quan của doanh nghiệp . Nh vậy chúng ta có thể
hiểu môt cách khái quát nh sau:
Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
với mục đích đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn đợc biểu hiện ở nhiều
hình thái và tài sản vô hình, cũng nh mọi kiến thức tích luỹ của doanh nghiệp,
trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ công nhân viên chức. Sự bao tồn và
tăng trởng của vốn là nguyên lý và là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của
doanh nghiệp.
2. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng tởng và phát triển đều phải có
vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lợc phát triển doanh nghiệp.
Trong cuộc tranh đua phát triển kinh tế nh hiện nay, vấn đề vốn trong các doanh
nghiệp càng đợc đặt ra nh một vấn đề bức xúc cần đợc giải quyết. Vốn là cơ sở là
tiền đề để cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu đã đề ra.
Nếu thiếu vốn đầu t, dẫn tới năng suất lao động thấp thu nhập thấp. Điều
này có ý nghĩa vòng quanh của vốn lại càng ngắn lại và quy mô tồn tại của
doanh nghiệp lại càng hẹp.
Bởi vậy, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì cần có số lợng
vốn lớn đáp ứng nhu cầu thị trờng và có khả năng chiếm lĩnh đợc thị phần trên
thị trờng.
Vốn là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm cho số lao động thừa tạo thêm
công ăn, việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho ngời lao động.
5
Trong một doanh nghiệp, vốn đợc sử dụng để xây dựng nhà xởng, mua
sắm trang thiết bị, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm nguyên vật liệu trả lơng
cho công nhân. Đồng thời, vốn có thể giúp cho những doanh nghiệp này có thể
thay thế cho tài sản cũ đã bị h hỏng.
Ngoài ra, vốn còn đợc sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm
duy trì tiềm lực có và tạo ra tiềm lực lớn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ.
3. Các nguồn hình thành vốn trong nớc.
Nói đến nguồn vốn của doanh nghiệp có nghĩa là nói đến các nguồn tài trợ
dài hạn trong doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có các
hình thức tài trợ khác nhau. Các công cụ tạo vốn của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng phong phú, đa dạng hơn so với các doanh nghiệp trong nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung bởi vì trong nền kinh tế thị trờng có một loại thị trờng
đặc biệt là thị trờng vốn. Thị trờng vốn bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham
gia cung cấp là sử dụng vốn.
+ Nguồn vốn ngân sách Nhà nớc.
Đây là nguồn vốn Nhà nớc duyệt chi cho phát triển kinh tế. Nó là chênh
lệch giữa tổng thu so với tổng chi của ngân sách Nhà nớc. Ngân sách Nhà nớc đ-
ợc hình thành chủ yếu qua các khoản sau:
- Khoản thu về thuế
- Khoản lệ phéi có tính chất thuế
- Các khoản thu từ khai thác là sử dụng tài nguyên
- Thu từ hợp tác lao động
- Thu từ bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc
- Các khoản viện trợ không hoàn lại
+ Vốn tự bổ sung của doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn quan trọng cho phát triển doanh nghiệp. Nguồn vốn này
đợc hình thành từ 2 nguồn vốn.
6
- Trích khấu hao cơ bản
- Phần lợi nhuận còn lại bổ sung vào vốn kinh doanh.
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Gồm 2 loại:
- Vốn dài hạn và trung hạn: Là các khoản vay mà doanh nghiệp sử dụng
đầu t dài hạn cho tài sản cố định u điểm chủ yếu của hình thức vay này là thời
gian sử dụng dài với lao động u đãi.
- Vốn ngắn hạn: Chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lu động của doanh
nghiệp. Sử dụng vốn này, doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn về thời gian cũng
nh lãi suất.
Vốn vay Ngân hàng là một nguồn vốn quan trong mà các doanh nghiệp sử
dụng để huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh để
huy động vốn nhanh chóng phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh. Nếu doanh
nghiệp đạt đợc một tỷ suất lợi nhuận cao thứ đây là hình thức tín dụng có lợi
nhất so với hình thức gọi vốn cổ phần
+ Vốn trong dân:
Đó là sự tiết kiệm từ thu nhập trong nớc của đại bộ phận dân c, tiết kiệm
của ngời đi lao động.
ở nớc ta trình độ phát triển kinh tế còn thấp thể hiện ở tổng sản phẩm
trong nớc, bình quân đầu ngời và cả tốc độ tăng trởng kinh tế hàng năm thấp so
với tốc độ phát triển dân số cao. Điều này làm cho tiết kiệm từ thu nhập của dân
cũng bị hạn chế.
7
III. Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn là biện pháp
cơ bản để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn.
Để đánh giá tình hình huy động cũng nh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
a. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn trong nớc:
Hệ số huy động vốn trong nớc =
Vốn huy động trong nớc
Tổng số vốn
b. Các chsỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:
Sức sản xuất của vốn =
Giá trị sản lợng
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn bỏ vào sản xuất - kinh doanh đem
lại bao nhiêu đồng giá trị sản phẩm, doanh thu. Hiệu suất sử dụng vốn kỳ lần thì
hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
- Suất hao phí vốn.
Suất hao phí vốn =
Lợng vốn sử dụng trong kỳ
Giá trị sản lợng
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng giá trị sản lợng hoặc doanh thu cần các
sản xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn.
Kỳ luân chuyển bình quân của
vốn lu động định mức kỳ =
360 ngời
Số vòng luân chuyển vốn lu
động định mức kỳ kế hoạch
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn trên đây đều có ý nghĩa chung là một
đồng vốn sản xuất của doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng sản phẩm trong kỳ.
Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng
8
cao. Đồng thời, để đạt hiệu quả sử dụng vốn càng cao thi doanh nghiệp phải
quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm vốn nhằm tối thiểu hoá số vốn sử dụng
hoặc tối đa hoá kết quả sản xuất trong giới hạn về các nguồn vốn hiện có.
2. Tỷ suất lợi nhuận.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên căn cứ vào chỉ tiêu
lợi nhuận tính bằng số tuyệt đối cha thể đánh giá đúng chất lợng hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn,
bên cạnh việc xem xét mức biến động của tổng số lợi nhuận, còn phải đánh giá
bằng số tơng đối (tỷ suất lợi nhuận) thông qua việc so sánh giữa tổng số lợi
nhuận trong kỳ với số vốn sản xuất sử dụng để sinh ra số lợi nhuận đó.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả huy động và phát triển vốn của
doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là kết quả tối tập thể
hàng loạt các biện pháp tổ chức. Kinh tế kỹ thuật và tài chính. Việc tổ chức đảm
bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh có tác động mạnh mẽ
tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn sản xuất.
Tỷ lệ doanh lợi so với vốn sản xuất =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn sản xuất
x 100
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đợc tạo ra trên một đồng vốn sản xuất
trong kỳ.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Giá trị sản lợng
Tổng vốn cố định sử dụng trong kỳ
9
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh
đem lại bao nhiêu đồng giá trị sản lợng.
Suất hao phí vốn cố định =
Tổng vốn cố định trong kỳ
Giá trị sản lợng
+ Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng giá trị sản lợng cần bỏ vào sản
xuất kinh doanh bao nhiêu đồng vốn cố định.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định =
Tổng số lợi nhuận
Tổng số vốn cố định sử dụng trong kỳ
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động:
Sức sản xuất của vốn lu động =
Giá trị sản lợng
Vốn lu động bình quân
Tỷ lệ danh lợi trên đồng vốn lu động =
Tổng số lợi nhuận
Vốn lu động bình quân
- Tối đa luân chuyển của vốn lu động:
Số vòng luân chuyển vốn lu động định mức kỳ =
Doanh thu bán hàng kế hoạch
Tổng số vốn lu động định mức kỳ kế hoạch
10
Phần II. Thực trạng về vốn và sử dụng vốn
trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
I. Những thuận lợi và khó khăn về vốn để phát triển doanh
nghiệp.
1. Thuận lợi.
Những doanh nghiệp nhỏ thờng khởi sự bằng nguồn vốn hạn hẹp của cá
nhân, sự tài trợ bên ngoài là hết sức hạn chế. Do tính chất nhỏ lẻ, dể phân tán đi
sâu vào các ngõ ngạch bản làng và yêu cầu số lợng vốn ban đầu không nhiều cho
nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút
các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cứ đầu t vào sản xuất kinh
doanh. Chỉ cần một số vốn hạn hẹp, một mặt bằng nhỏ hẹp đã có thể khở sự
doanh nghiệp vòng quay sản phẩm nhanh do đó có thể sử dụng vốn tự có, hoặc
vay bạn bè, ngời thân dễ dàng mà nhu cầu thị trờng thay đổi hoặc doanh nghiệp
gặp khó khăn thì dễ dàng thay đổi tình thế để thích ứng hơn nữa vốn đầu t ít,
hiệu quả cao, thu hút nhanh do đó doanh nghiệp mà nhỏ tạo nên sự hấp dẫn
trong đầu t của nhiều cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Mặt khác đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Với nền kinh tế thị tr-
ờng nh hiện nay thì nguồn vốn không phải ít có rất nhiều nguồn: Ví dụ Ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, vốn trong dân, nguồn vốn ngân sách Nhà nớc chính
vì thế mà các doanh nghiệp muốn phát triển mở rộng thì phải biết điều chỉnh và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó.
2. Khó khăn.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ riêng ở Việt Nam vốn vấn
là mối quan tâm hàng đầu của họ. Do thành lập doanh nghiệp tơng đối dễ dàng
11
nên số doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhiều, lại tập trung vào những ngành
những sản phẩm không đòi ỏi vốn quá lớn cho nên cuộc cạnh tranh ngày càng
gay gắt, lợi nhuận ngày càng mỏng đi và khó tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có đủ tài sản, bất
động sản để là vật thế chấp vay vốn ở các Ngân hàng. Đặc biệt là nhu cầu vốn
trung và dài hạn để đầu t đối mới máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xởng lại
càng nan giải hơn. doanh nghiện Nhà nớc thờng phải trả giá cao hơn về nguyên
liệu hoặc nhận giá thấp hơn về sản phẩm, cuối cùng vì họ bị phụ thuộc tính chất
vào các nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc thiết bị mà lẻ ra nhờ nó học có thể
giảm chi phí cho sản phẩm của họ hoặc cải tiến đợc chất lợng sản phẩm chỉ bởi
vì không đủ tiền mua thiết bị đó.
Mặt khác, lãi suất cho vay hiện nay ở các Ngân hàng vẫn coi đang ở mức
cao so với tỷ suất lợi nhuận của mọi doanh nghiệp. Thời gian vay quá ngắn (th-
ờng chỉ vài ba tháng một năm) so với chu kỳ sản xuất kinh doanh (nếu tính
đầu t mới mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải 3-5 năm)/
Vì thế, điều nghịch lý đã diễn ra: các doanh nghiệp cần vốn nhng không
dám vay tiền Ngân hàng, ngợc lại các Ngân hàng thừa vốn dù phần lớn là vốn
ngắn hạn nhng khó tìm đợc khách hàng vay chân chính. Sự hỗ trợ từ Ngân hàng
đối với các doanh nghiệp còn yếu.
II. Vấn đề vốn trong quá trình hình thành và phát triển
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc sự
quan tâm khuyến khích hỗ trợ.
1. Tạo vốn tích luỹ.
Thực tiễn chứng minh Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng nh đối với sản
12
xuất kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vốn cho sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành kinh tế quốc dân nhiều hay ít tuỳ thuộc vào
năng lực của cơ chế huy động, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hay không.
Muốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc tiến hành với tốc độ
nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động đợc nguồn vốn
nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Trớc hết là huy động nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nớc. Đây là
nguồn vốn có tính quyết định, là nhân tố nội lực. Nhờ tăng năng suất lao động
vốn tự có. Nguồn vốn nội bộ còn đợc tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các
ngành, các lĩnh vực, các miền, các vùng của nền kinh tế đất nớc.
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với các
doanh nghiệp trong nớc. Tuy nhiên vẫn còn hạn hẹp chính vì thế mà các doanh
nghiệp phải tạo vốn tích luỹ từ nhiều nguồn vốn. Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng
bảo quản và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Có nghĩa là phải
lựa chọn những phơng án tối u trong tạo nguồn tài chính, trớc hết phải hạch toán
kinh tế kinh doanh, phải đảm bảo tính hiệu quả cao. Vì vậy, để doanh nghiệp
từng bớc tăng trởng và phát triển, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
2. Vốn trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Trớc năm 1986, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cha thực sự đợc quan
tâm khuyến khích hỗ trợ, do vậy các doanh nghiệp này phải tổ chức lao động
núp bóng dới các hình thức khác nhau nh tổ hợp hộ gia đình, hợp tác xã, Xí
nghiệp công t hợp doanh. Chỉ nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển
sản xuất kinh doanh thì khu vực kinh tế t nhân mới thực sự yên tâm bỏ vốn đầu t
vào sản xuất kinh doanh, cũng từ đó hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh t nhân,
13
cá thể hộ gia đình ra đời và phát triển góp phần đáng kể vào giải quyết công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động.
Nhìn vào quá trình phát triển của các doanh nghiệp có thể thây rằng các
doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) mới đợc phát
triển mạnh từ năm 1989 đến nay, nghĩa là từ khi bắt đầu quá trình đối mới chính
sách quản lý kinh tế ở Việt Nam. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây,
sự tích luỹ vốn trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong dân c nói riêng là
nhỏ bé vì vậy mà các doanh nghiệp đều khởi sự với số vốn đầu t ít ỏi. Vào năm
1992 quy mô vốn trung bình của một doanh nghiệp t nhân Việt Nam chỉ vào
khoảng 713 triệu đồng, (ở 4 thành phố lớn, quy mô vốn của các doanh nghiệp
nhìn chung khá lớn, đối với doanh nghiệp t nhân con số này ở Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Nam - Đà Nẳng, TPHCM vào khoảng 1.100 triệu đồng. Điều này
có thể giải thích đợc bởi sự tích lũy vốn và tài sản ở những thành phố lớn so với
địa phơng khác).
Hàng năm các loại hình doanh nghiệp đã thu hút một lợng vốn đáng kể
của dân c, đa nguồn vốn đó vào chu chuyển khắc phục một nghịch lý đã tồn tại
trong những năm là doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi lợng vốn trong
dan còn và khả năng tiềm ẩn cha đợc khai thác. Tuy lợng vốn thu hút vào doanh
nghiệp không nhiều, nhng nhờ số lợng doanh nghiệp khá lớn nên tổng lợng vốn
thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ sức hút của
các doanh nghiệp ở Việt Nam ngày càng lớn mạnh dần tạo đợc niềm tin trong
dân. Nhng tới năm 1997 do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, sức hút này đã
giảm xuống mạnh dẫn đến tổng vốn kinh doanh giảm. cho đến nay các doanh
nghiệp Việt Nam đang từng bớc khôi phục đẩy mạnh sản xuất xây dựng, khắc
phục hậu quả để thu hút hơn nữa lợng vốn dòi dào trong dân.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét